Luận văn thạc sĩ Mức độ tuân thủ quy định môi trường của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại TP. Hồ Chí Minh - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
NGUYỄN THỊ THU TRANG MỨC ĐỘ TUÂN THỦ
QUY ĐỊNH MÔI TRƢỜNG CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp. Hồ Chí Minh- Năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM


Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 10 năm 2013
HỌC VIÊN
Nguyễn Thị Thu Trang MỤC LỤC

Trang
Bìa phụ
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
TÓM LƢỢC
CHƢƠNG 1. GIỚI THIỆU 1
1.1. Bối cảnh nghiên cứu: hiện trạng môi trƣờng thành phố Hồ Chí Minh và tính
cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 7
1.3. Phạm vi và giới hạn của nghiên cứu 8
1.4. Phƣơng pháp nghiên cứu 8
1.5. Ý nghĩa của nghiên cứu 9
1.6. Kết cấu của luận văn 10
CHƢƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT 12

4.1.3. Nhận thức của chủ doanh nghiệp/ nhà quản lý 52
4.1.4. Hoạt động tài chính của doanh nghiệp 52
4.1.5. Nhóm đặc điểm áp lực tác động lên SMEs 53
4.1.6. Quan hệ chính quyền 54
4.2. Thống kê mô tả khả năng tuân thủ quy định BVMT của SMEs theo các yếu
tố đƣợc dự đoán có tác động lên hành vi của doanh nghiệp 54
4.2.1. Tác động của nhóm yếu tố đặc điểm SMEs 54 4.2.2. Tác động của nhóm yếu tố nhận thức chủ doanh nghiệp/ nhà quản lý 56
4.2.3. Tác động của hoạt động tài chính của doanh nghiệp 57
4.2.4. Tác động của nhóm yếu tố đặc điểm áp lực từ bên ngoài lên SMEs 58
4.2.5. Tác động của nhóm yếu tố quan hệ chính quyền 59
4.3. Mối quan hệ giữa các biến 60
4.3.1. Tƣơng quan đơn 60
4.3.2. Kiểm định mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập 62
4.4. Hồi quy binary logistic 63
4.4.1. Hồi quy binary logistic với bộ dữ liệu ban đầu 63
4.4.2. Hồi quy binary logistic với bộ dữ liệu đã loại trừ các giá trị ngoại lai và
các trƣờng hợp ảnh hƣởng 64
4.4.3. Lựa chọn mô hình để thuyết minh kết quả 65
4.4.4. Kiểm tra kết quả về mặt thống kê 65
4.5. Kết quả 69
CHƢƠNG 5. KẾT LUẬN 75
5.1. Kết luận của nghiên cứu 75
5.2. Hạn chế của nghiên cứu 76
5.3. Hƣớng nghiên cứu mở rộng 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC A: CÁC BẢNG SỐ LIỆU PHỤC VỤ CHƢƠNG 1- GIỚI THIỆU
PHỤ LỤC B: KẾT QUẢ CHẠY MÔ HÌNH HỒI QUY BINARY LOGISTIC

Hệ thống xử lý nƣớc thải
ILSSA
Viện Khoa học Lao động và Xã hội
KCN
Khu công nghiệp
KCX
Khu chế xuất
KCNC
Khu công nghệ cao
MOLISA
Bộ Lao động Thƣơng binh và Xã hội
MPI
Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ
MSMEs
Doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ (Micro, small and medium-
sized enterprises)
SMEs
Doanh nghiệp vừa và nhỏ (Small and medium-sized enterprises)
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
WTO
Tổ chức Thƣơng mại Thế giới (World Trade Organnization)
Bảng 4.6. Quan hệ với chính quyền của SMEs trong mẫu nghiên cứu 54 Bảng 4.7. Kết quả BVMT của doanh nghiệp theo các đặc đểm riêng có của SMEs
trong mẫu nghiên cứu 55
Bảng 4.8. Kết quả BVMT của doanh nghiệp theo tuổi thọ của máy móc/ thiết bị
chính của SMEs trong mẫu nghiên cứu 56
Bảng 4.9. Kết quả BVMT của doanh nghiệp theo nhận thức của chủ doanh nghiệp/
nhà quản lý SMEs trong mẫu nghiên cứu 56
Bảng 4.10. Kết quả BVMT của doanh nghiệp theo tình hình hoạt động tài chính của
SMEs trong mẫu nghiên cứu 57
Bảng 4.11. Kết quả BVMT của doanh nghiệp theo nhóm các đặc điểm áp lực từ bên
ngoài của SMEs trong mẫu nghiên cứu 58
Bảng 4.12. Kết quả BVMT của doanh nghiệp theo đối tƣợng khách hàng của SMEs
trong mẫu nghiên cứu 58
Bảng 4.13. Kết quả BVMT của doanh nghiệp theo mức độ quan hệ với chính quyền
của SMEs trong mẫu nghiên cứu 60
Bảng 4.14. Hệ số tƣơng quan đơn giữa các biến 61
Bảng 4.15. Kiểm định Pearson Chi- square giữa biến phụ thuộc và từng biến độc lập
62
Bảng 4.16. Tỷ lệ chính xác phân loại (dữ liệu ban đầu) 64
Bảng 4.17. Tỷ lệ chính xác phân loại (dữ liệu đã loại quan sát ngoại lai và các
trƣờng hợp ảnh hƣởng) 64
Bảng 4.18. Kiểm định Omnibus về hệ số của mô hình 65
Bảng 4.19. Hồi quy binary logistic (N= 370) 66
Bảng 4.20. Bảng phân loại 68
Bảng 4.21. Các yếu tố ảnh hƣởng đến kết quả BVMT của doanh nghiệp từ kết quả
chạy mô hình thống kê 69
Bảng 4.22. Khả năng tuân thủ quy định BVMT của doanh nghiệp khi biến độc lập
tăng 1 đơn vị 71

doanh nghiệp (quy mô
(+)
, ngành nghề sản xuất, hình thức pháp lý, thâm niên hoạt
động
(-)
, tuổi thọ của máy móc/ thiết bị
(-)
); (2) nhận thức của chủ doanh nghiệp/ nhà
quản lý
(+)
(trình độ, hiểu biết về pháp luật môi trƣờng); (3) kết quả hoạt động tài
chính của doanh nghiệp
(+)
(kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, chi đầu tƣ mới),
(4) áp lực từ các bên có liên quan
(+)
(khách hàng, nhà cung cấp, nhà đầu tƣ và cộng
đồng); (5) mức độ quan hệ với chính quyền
(-)
(hối lộ, độ lớn mạng lƣới quan hệ với
chính trị gia và công chức).
Hồi quy binary logistic đƣợc sử dụng để dự đoán mức độ tuân thủ quy định
BVMT của doanh nghiệp thông qua việc doanh nghiệp có hay không giấy chứng
nhận môi trƣờng. Kết quả chạy hồi quy đƣa đến một số phát hiện. Thứ nhất, doanh
nghiệp có (1) giao thƣơng với các nƣớc phát triển; (2) quy mô càng lớn; (3) chất
thải đƣợc đo lƣờng nồng độ/ khối lƣợng bởi cơ quan chức năng/ doanh nghiệp; (4)
chất thải đƣợc đo lƣờng trong quá khứ; (5) hiểu biết về pháp luật môi trƣờng; (6) thƣờng xuyên đƣa hối lộ; (7) hoạt động lâu năm; (8) mạng lƣới quan hệ với chính

gia nhập các tổ chức thƣơng mại trong khu vực cũng nhƣ thế giới: ASEAN (năm
1995), AFTA (năm 1996), APEC (năm 1998), WTO (năm 2007) đã giúp cho Việt
Nam chuyển mình từ một nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, có thu nhập
thấp
1
sang quốc gia có thu nhập trung bình thấp vào năm 2009. Theo Tổng cục
Thống kê Việt Nam, số liệu trong 3 năm 2009- 2011
2
, tốc độ tăng trƣởng kinh tế
bình quân đạt 6,00%, tốc độ tăng trƣởng thu nhập bình quân trên đầu ngƣời bình
quân 17,87%, khối lƣợng việc làm cho ngƣời lao động hằng năm gia tăng trung
bình 2,72%, tỷ lệ thất nghiệp liên tục giảm, tỷ lệ thiếu việc làm duy trì ở mức 2-3%.

1
Theo cách xác định của Ngân hàng Thế giới có hiệu lực từ ngày 01/07/2013 đến ngày 01/07/2014:
 Quốc gia có thu nhập thấp: Thu nhập quốc gia trên đầu ngƣời nhỏ hơn $1.035 một năm
 Quốc gia có thu nhập trung bình thấp: Thu nhập quốc gia trên đầu ngƣời từ $1.036 đến $4.085 một năm
 Quốc gia có thu nhập trung bình cao: Thu nhập quốc gia trên đầu ngƣời từ $4.086 đến $12.615 một năm.
 Quốc gia có thu nhập cao: Thu nhập quốc gia trên đầu ngƣời từ lớn hơn $12.616 một năm.
2
Số liệu kinh tế và việc làm Việt Nam từ năm 2009 đến năm 2011 xem Bảng 1, Phụ lục A
2 Có thể nói Việt Nam đã trải qua hai thập niên tăng trƣởng kinh tế. Tuy nhiên,
cũng giống nhiều quốc gia khác trong giai đoạn đầu của phát triển để đạt mục tiêu
tăng trƣởng kinh tế nhanh, thu hút đầu tƣ từ bên trong cũng nhƣ từ bên ngoài quốc
gia, Việt Nam đã bỏ qua các trách nhiệm về môi trƣờng đối với doanh nghiệp. Kết
quả là chúng ta đang phải đối mặt với việc chất lƣợng môi trƣờng sống bị suy giảm.
Môi trƣờng bị ô nhiễm, hiện tƣợng này không thấy rõ ở các tỉnh và vùng ngoại ô

bộ của Sở Tài nguyên Môi trƣờng thành phố Hồ Chí Minh thì số lƣợng nguồn thải
cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, thƣơng mại trên địa bàn thành phố là 3.300
nguồn thải, trong đó khoảng 750 nguồn thải lƣu lƣợng trên 50 m
3
/ ngày; 450 nguồn
thải lƣu lƣợng 30- 50 m
3
/ ngày; 2.100 nguồn thải lƣu lƣợng dƣới 30 m
3
/ ngày. Hiện
nay, thành phố chỉ kiểm soát đƣợc các nguồn thải lƣu lƣợng trên 50 m
3
/ ngày còn
các nguồn thải có lƣu lƣợng nhỏ hơn hầu nhƣ bị thả nổi về mặt quản lý và thiếu số
liệu thống kê.
Các khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX), khu công nghệ cao
(KCNC): 15/15 khu (đạt tỷ lệ 100%) có hệ thống xử lý nƣớc thải (HTXLNT) tập
trung; 13/15 khu (đạt tỷ lệ 86,7%) có chất lƣợng nƣớc thải sau xử lý đạt quy chuẩn,
02 KCN không đạt là KCN Cát Lái và KCN An Hạ, trong đó KCN An Hạ mới đƣợc
chuyển thành KCN từ cụm công nghiệp (CCN) năm 2012 và HTXLNT đang trong
giai đoạn thử nghiệm. Tuy nhiên, các khu này đều chƣa đƣợc lắp đặt hệ thống quan
trắc tự động tại cửa xả nƣớc thải của các KCN, KCX, KCNC để đảm bảo chất lƣợng
nƣớc thải đƣợc quan trắc liên tục.
Cụm công nghiệp: hiện nay trên địa bàn thành phố có 27 CCN với diện tích
1.441,02 ha; trong đó có 11 CCN chƣa đi vào hoạt động (5 cụm có đơn vị kinh
doanh hạ tầng và 6 cụm vẫn còn trên quy hoạch, đang kêu gọi đầu tƣ) và 16 CCN
có doanh nghiệp hoạt động (13 cụm chƣa có đơn vị kinh doanh cơ sở hạ tầng, 13
CCN này đƣợc quy hoạch làm đất công nghiệp để tập trung các cơ sở sản xuất và do
UBND quận/ huyện quản lý). Trong số 16 CCN có doanh nghiệp hoạt động thì chỉ
có 3 cụm có đơn vị kinh doanh hạ tầng: Lê Minh Xuân, Nhị Xuân và Xuân Thới

thải vào nguồn tiếp nhận. Còn các nguồn thải bên ngoài KCN/ KCX chỉ có 46% có
trang bị hệ thống xử lý khí thải; trong số các nguồn thải có trang bị hệ thống xử lý
khí thải, có khoảng 71% nguồn thải xử lý khí thải đạt tiêu chuẩn trƣớc khi thải vào
nguồn tiếp nhận.
Hoạt động giao thông, vận tải, có thực hiện quan trắc định kỳ nhƣng chƣa có
phƣơng pháp để đánh giá mức độ gây ô nhiễm không khí nên chƣa thể đƣa ra kết
luận nào.
Chất thải rắn: Các loại chất thải rắn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh bao
gồm: (1) Chất thải rắn thông thƣờng; (2) Chất thải rắn nguy hại; (3) Chất thải rắn y
tế.

4
Chi tiết xem Bảng 3- Phụ lục A
5

Chất thải rắn thông thường: Tổng khối lƣợng đƣợc thu gom, xử lý trong năm
2012 là 2.362.419 tấn/ năm, trung bình 6.472 tấn/ ngày. Tỷ lệ thu gom, xử lý chất
thải rắn sinh hoạt ở khu vực nội thành: khoảng 95% thu trực tiếp từ các hộ dân và
5% còn lại thu gom dọc theo tuyến đƣờng, các bô rác, thùng rác công cộng, vớt rác
trên kênh. Còn khu vực ngoại thành: thu gom, xử lý trực tiếp từ các hộ dân khoảng
70- 80%, phần còn lại ngƣời dân tự xử lý rác trong vƣờn của mình.
Chất thải rắn nguy hại, khối lƣợng chất thải rắn nguy hại trên địa bàn thành
phố ƣớc tính khoảng 300- 350 tấn/ ngày. Ở thành phố Hồ Chí Minh có 48 công ty
đƣợc cấp phép vận chuyển chất thải nguy hại và 13 công ty xử lý (chủ yếu đốt, hóa
rắn, keo tụ) đáp ứng 30- 40% khối lƣợng chất thải nguy hại của thành phố; phần còn
lại do các công ty ngoài tỉnh (Long An, Tiền Giang, Đồng Nai, Bình Dƣơng, Kiên
Giang) đến thu gom, vận chuyển về tỉnh xử lý hoặc chất thải nguy hại đang đƣợc
lƣu trú tạm thời tại các chủ nguồn thải (do số lƣợng phát sinh thấp).
Chất thải rắn y tế: khối lƣợng chất thải rắn y tế phát sinh trong năm 2012 dao
động 12- 17 tấn/ ngày, với tỷ lệ thu gom, xử lý (chủ yếu là đốt) chất thải y tế nhƣ

môi trƣờng đƣợc soạn thảo riêng cho từng đối tƣợng một cách phù hợp, có tính chất
răn đe để thay đổi hành vi và thói quen các đối tƣợng đó. Một trong những đối
tƣợng gây ô nhiễm lớn cả về số lƣợng cũng nhƣ hàm lƣợng và tính chất nguy hại đó
là chất thải từ các doanh nghiệp sản xuất. Bằng chứng trong thời gian qua, thành
phố Hồ Chí Minh đã xuất hiện một số “điểm nóng” về ô nhiễm môi trƣờng do các
nhà máy sản xuất thải ra và chịu sự phản đối kịch liệt từ ngƣời dân và dƣ luận. Khu
công nghiệp Lê Minh Xuân, với chức năng đón các cơ sở sản xuất ô nhiễm khu vực
trung tâm thành phố di dời về, kết quả là 30 tuyến kênh trên địa bàn huyện Bình
Chánh bị nhiễm bẩn rất nặng. Khu chế xuất Linh Trung III (quận Thủ Đức) với việc
xả một lƣợng nƣớc thải cực lớn ra môi trƣờng làm cho ngƣời dân sống quanh khu
vực kênh Ba Bò ở quận Thủ Đức đang phải đối mặt với nguồn nƣớc ô nhiễm, độc
hại. Khu công nghiệp Tân Phú Trung (quận Tân Bình), Khu công nghiệp Xuyên Á
là nguồn gây ô nhiễm kênh Thầy Cai - An Hạ… Hệ thống kênh rạch bị ô nhiễm là
nguyên nhân chính dẫn đến sự ô nhiễm các sông Sài Gòn, Đồng Nai, Thị Vải, ảnh
hƣởng đến nguồn cung cấp nƣớc sạch cho các nhà máy nƣớc Thủ Đức và Tân Hiệp,
ảnh hƣởng đến hoạt động sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản cũng nhƣ đời
sống sinh hoạt của ngƣời dân tại các lƣu vực sông này.
7

Nhƣ vậy để giải quyết vấn đề ô nhiễm tại thành phố Hồ Chí Minh, chính
quyền thành phố phải đặc biệt quan tâm đến nguồn thải từ các doanh nghiệp sản
xuất. Tuy nhiên, việc ngăn chặn nguồn thải này ở đây không chỉ đơn giản là đóng
cửa các nhà máy này mà cần có một phân tích để tìm hiểu nguyên nhân sâu xa tại
sao doanh nghiệp lại có hành vi xả thải thay vì xử lý chất thải trƣớc khi chuyển ra
môi trƣờng bên ngoài.
Theo Gangadharan (2006), ở các nƣớc đang phát triển, trong đó có Việt Nam,
thì quy định về môi trƣờng thì rất yếu và không đƣợc bắt buộc thi hành nghiêm ngặt
do sự hạn chế của ngân sách nhà nƣớc, thiếu nhân sự và tham nhũng trong hệ thống
tƣ pháp. Do đó, ở những quốc gia này, cơ chế bắt buộc thực thi chính thức không
hoạt động tốt, do đó điều quan trọng là phải tập trung vào yếu tố khác để khuyến

cả nƣớc với 96.206/312.644
6
(chiếm 30,8%) doanh nghiệp cả nƣớc và
95.186/304.905 (chiếm tỷ trọng 31,2%) SMEs cả nƣớc; (2) nghiên cứu tập trung
một tỉnh/ thành để bỏ qua một số yếu tố tác động bởi đặc điểm của tỉnh/ thành đó
nhƣ khả năng quản lý và sự nghiêm khắc của chính quyền, mức độ nghiêm trọng
của vấn đề môi trƣờng tại địa phƣơng, mức sống, nhận thức cũng nhƣ sự quan tâm
của ngƣời dân tại cộng đồng xung quanh đối với các vấn đề môi trƣờng.
1.4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục tiêu thứ nhất, tác giả thực hiện khảo cứu các nghiên cứu lý
thuyết cũng nhƣ thực nghiệm có liên quan để rút ra một số các yếu tố ban đầu, sau
đó sử dụng phƣơng pháp thống kê mô tả để đánh giá sơ bộ mối tƣơng quan giữa
từng nhân tố có khả năng ảnh hƣởng đến sự tuân thủ pháp luật BVMT của doanh
nghiệp. Để đạt mục tiêu thứ hai, phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng đƣợc sử dụng
cho mô hình hồi quy binary logistic (với biến nhị phân) để tìm ra các yếu tố có ý
nghĩa thực sự về mặt thống kê và đánh giá mức độ ảnh hƣởng của từng yếu tố dựa
trên kết quả có đƣợc từ chạy mô hình.

5
Chi tiết xem Bảng 4- Phụ lục A
6
Nguồn: Cục Thống kê thành phố Hồ Chí Minh. Thời điểm ghi nhận số liệu ngày 31/12/2010. Tiêu
chí phân loại SMEs theo số lƣợng lao động (nhỏ hơn 300 lao động) đƣợc quy định trong Nghị định số
56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
9

1.5. Ý nghĩa của nghiên cứu
Nghiên cứu cho thấy tình hình nghiên cứu về mảng đề tài này trên thế giới và
tại Việt Nam để thấy đƣợc mức độ quan tâm của các nhà nghiên cứu về vấn đề nóng
này và những kết luận đúc kết từ các nghiên cứu là không giống nhau ở những khía

Chí Minh để thấy đƣợc tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu; (2) trình bày mục tiêu
nghiên cứu chung và các mục tiêu cụ thể để giải quyết mục tiêu chung; (3) đƣa ra
một số câu hỏi nghiên cứu để định hình ban đầu một số nhóm nhân tố có thể ảnh
hƣởng đến kết quả tuân thủ các quy định BVMT của doanh nghiệp; (4) trình bày lý
do tại sao lại chọn đối tƣợng nghiên cứu là SMEs và phạm vi nghiên cứu là thành
phố Hồ Chí Minh; (5) trình bày sơ lƣợc các phƣơng pháp đƣợc sử dụng để tìm ra
câu trả lời cho từng mục tiêu nghiên cứu; (6) trình bày ý nghĩa nghiên cứu về mặt
học thuật cũng nhƣ ứng dụng; và phần còn lại là mục này, trình bày kết cấu của luận
văn và ý nghĩa của từng phần;
Chƣơng hai- cơ sở lý thuyết- trình bày năm nội dung: (1) trình bày các khái
niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) và các tiêu chí phân loại chúng hiện nay
cũng nhƣ trong quá khứ tại Việt Nam, ngoài ra nghiên cứu cũng khảo cứu một số
cách phân loại SMEs tại một số quốc gia và tổ chức trên thế giới để có một cái nhìn
so sánh sâu hơn; (2) trình bày một số cách phân hạng doanh nghiệp theo kết quả
hoạt động môi trƣờng, đây cũng là cơ sở đánh giá mức độ tuân thủ các quy định
BVMT của doanh nghiệp đƣợc sử dụng trong các chƣơng sau của nghiên cứu; (3)
trình bày các nghiên cứu lý thuyết có liên quan để giải thích các hành vi của doanh
nghiệp trong hoạt động môi trƣờng, bằng các quan điểm luận giải và suy luận của
các nhóm tác giả; (4) trình bày các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan, kết quả
của phần này: giúp tác giả định hình đƣợc một yếu tố có khả năng ảnh hƣởng đến sự
tuân thủ quy định BVMT của doanh nghiệp, làm cơ sở để xây dựng khung khái
niệm và phân tích đƣợc thể hiện trong nội dung thứ năm của chƣơng;
Chƣơng ba- phƣơng pháp nghiên cứu- gồm năm phần nhỏ: (1) trình bày mô
hình thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố có khả năng ảnh hƣởng đến sự tuân thủ
quy định BVMT của doanh nghiệp- đƣợc đại diện bởi các biến độc lập- và kết quả
tuân thủ của doanh nghiệp- đƣợc đại diện bởi các biến phụ thuộc; cách đo lƣờng các
11

biến và giá trị có thể nhận đƣợc của chúng cũng đƣợc thể hiện trong phần này; (2)
trình bày sơ lƣợc lý thuyết loại hồi quy đƣợc sử dụng để chạy mô hình: binary

sau của nghiên cứu; (3) trình bày các nghiên cứu lý thuyết có liên quan để giải thích
các hành vi của doanh nghiệp trong hoạt động môi trƣờng, bằng các quan điểm luận
giải và suy luận của các nhóm tác giả; (4) trình bày các nghiên cứu thực nghiệm có
liên quan, kết quả của phần này: giúp tác giả định hình đƣợc một yếu tố có khả năng
ảnh hƣởng đến sự tuân thủ quy định BVMT của doanh nghiệp, làm cơ sở để xây
dựng khung khái niệm và phân tích đƣợc thể hiện trong nội dung thứ năm.
2.1. Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam đƣợc đề cập trong các văn
bản pháp quy. Văn bản pháp luật mới nhất đề cập đến khái niệm này là Nghị định
số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh
nghiệp nhỏ và vừa: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh
doanh theo quy định pháp luật, đƣợc chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy
mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tƣơng đƣơng tổng tài sản đƣợc xác định trong
bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng
nguồn vốn là tiêu chí ƣu tiên), cụ thể nhƣ sau:
Bảng 2.1. Tiêu chí phân loại SMEs theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày
30/06/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa

DN siêu nhỏ

Doanh nghiệp nhỏ

Doanh nghiệp vừa
Số lao động

Nguồn vốn
Số lao động

Nguồn vốn
Số lao động

<= 10 tỷ
đồng
> 10 ngƣời,
<= 50 ngƣời

> 10 tỷ đồng,
<= 50 tỷ đồng
> 50 ngƣời,
<= 100 ngƣời
Nguồn dữ liệu: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ
13

Tiêu chí phân loại SMEs thay đổi theo thời gian và theo từng chính sách mà
Nhà nƣớc ban hành. Điều này có thể thấy đƣợc thông qua khảo lƣợc các khái niệm
SMEs đƣợc thể hiện trong các văn bản pháp quy đã đƣợc ban hành từ trƣớc đến
nay. Theo Công văn số 681/1998/CP-KTN, ngày 20/06/1998 của Chính phủ về việc
định hƣớng chiến lƣợc và chính sách phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã
phân loại SMEs “Tạm thời quy định thống nhất tiêu chí xác định Doanh nghiệp vừa
và nhỏ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là những doanh nghiệp có vốn điều lệ
dƣới 5 tỷ đồng và có số lao động trung bình hàng năm dƣới 200 ngƣời”. Còn theo
Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2011 của Chính phủ về trợ giúp phát triển
doanh nghiệp vừa và nhỏ đã đƣa ra tiêu chí phân loại SMEs “Doanh nghiệp nhỏ và
vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật
hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng
năm không quá 300 ngƣời”.
Việc thay đổi tiêu chí phân loại SMEs theo thời gian cũng diễn ra ở các nƣớc
trên thế giới: lấy trƣờng hợp Malaysia là ví dụ điển hình. Theo National SME
Development Council of Malaysia (2005) đã phân loại SMEs nhƣ sau:
Bảng 2.2. Tiêu chí phân loại SMEs theo Hội đồng Quốc gia Phát triển SMEs tại
Malaysia, áp dụng từ ngày 09 tháng 07 năm 2005

>=200,000 và
<1 triệu RM

5- 50 lao
động
>=250.000,
<10 triệu RM

5- 19 lao
động
>=200.000,
<1 triệu RM
Vừa
20- 50 lao
động
>=1 triệu RM ,
<5 triệu RM

51- 150
lao động
>=10 triệu RM,
<25 triệu RM

20- 50 lao
động
>=1 triệu RM,
<5 triệu RM
Nguồn dữ liệu: National SME Development Council of Malaysia (2005)
Ghi chú: 1 RM = 6.400 VND tại thời điểm 06/09/2013
Tiêu chí phân loại này sẽ thay đổi trong thời gian tới. Chính phủ Malaysia gần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status