tiểu luận sự ra đời của đảng cộng sản việt nam - Pdf 30

LỜI MỞ ĐẦU
Gần bảy thập kỷ vừa qua, dân téc ta đã vượt qua một chặng đường đấu
tranh cực kỳ khó khăn, gian khổ, giành được những thắng lợi vẻ vang. Từ
thân phận người dân mất nước, nhân dân ta đã anh dũng vùng lên, lần lượt
đánh bại sự xâm lược của nhiều đế quốc lớn mạnh, đưa đất nước ta bước vào
kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân téc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội.
Lực lượng lãnh đạo nhân dân ta dành được những thắng lợi vĩ đại đó là Đảng
Cộng sản Việt Nam.
Nhìn lại quá trình lịch sử của Cách mạng Việt Nam chóng ta thấy Đảng
Cộng sản Việt Nam đã thể hiện vai trò lãnh đạo, tinh thần phụ trách trước giai
cấp và dân téc khi thắng lợi cũng như lúc khó khăn, khi thành công cũng như
lúc sai lầm, khuyết điểm. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một điều tát yếu
khách quan của cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp và giải phóng dân téc ở
Việt Nam trong thời đại mới; là kết quả của một quá trình lùa chọn con đường
cứu nước, tích cực chuẩn bị về tư tưởng , chính trị và tổ chức của một tập thể
cách mạng; là một sự sàng lọc và lùa chọn nghiêm khắc của lịch sử cách
mạng Việt Nam tù khi mất nước vào tay đế quốc thưc dân Pháp. Đảng ra đời
là một bước ngoặt trọng đại trong lịch sử cách mạng dân téc Việt Nam
Trước khi Đảng ra đời đã có rất nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra nhưng chùng
đều bị thất bại trước sự đàn áp dã man của bọn thực dân Pháp. Chỉ đến năm
1924 Nguyễn Aí Quốc trở về thống nhất ba Đảng lúc bấy giê thành một Đảng
duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam thì cuộc khủng hoảng về đường lối cách
mạng mới được giải quyết. Sự ra đời của Đảng gắn liền với tên tuổi của
Nguyễn Aí Quốc – Hồ Chí Minh – người chiến sĩ cách mạng lỗi lạc của dân
téc Việt Nam. Người là người Việt Nam đầu tiên nắm bắt Chủ nghĩa Mác –
Lênin và vận dụng sáng tạo vào đặc điểm lịch sử cách mạng dân téc Việt
Nam. Vai trò quan trọng của Người được thể hiện rõ nét trong quá trình thành
1
lập Đảng cũng như trong quá trình đấu tranh giải phóng dân téc thống nhất
đất nước.
Nội dung tiểu luận gồm có các phần sau:

ngoại quốc và những đội lính cơ giới người Việt, những toà án Tây và toà án Nam,
nhiều nhà tù để đàn áp các cuộc nổi dậy. Chúng thi hành chính sách cai trị chuyên
chế, thực hiện chính sách đàn áp, khủng bố hết sức dã man, tàn bạo, chia rẽ dân téc
tôn giáo….làm cho nhân dân mất hết quyền độc lập, quyền tự do dân chủ; mọi
phong trào đấu tranh của nhân dân đều bị chúng đàn áp dã man.
3
2. Tình hình kinh tế
Trong thời kỳ này thực dân Pháp đã không từ một thủ đoạn nào để bóc lột nhân
dân ta, thu lợi nhuận tối đa, thẳng tay cướp đoạt và bần cùng hoá nông dân, chiếm
đoạt tài nguyên thiên nhiên, nắm các mạch máu kinh tế ở Việt Nam, nắm độc quyền
trong công nghiệp khai lhoáng và công nghiệp chế rượu, kìm hãm công nghiệp
nặng, hạn chế công nghiệp nhẹ, độc chiếm thị trường Việt Nam, tăng cường cho
vay nặng lãi; đồng hoá lãnh thổ kinh tế Việt Nam vào trong toàn bộ lãnh thổ của đế
quốc Pháp và biến Việt Nam thành khâu khăng khít trong sợi dây chuyền của kinh
tế thế giới Tư bản chủ nghĩa.
Từ khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, quá trình tập trung hoá ruộng đất
diễn ra với quy mô lớn và tốc độ nhanh hơn trước. Chúng đã trắng trợn cướp đoạt
ruộng đất của nông dân để lập ra các đồn điền trồng cao su, cà phê,…và bắt dân ta
lao động không công cho chúng hoặc thuê với giá rất rẻ mạt. Không những thế, thực
dân Pháp còn tạo điều kiện để bọn địa chủ tăng cường chiếm đoạt ruộng đất của
nông dân. Ngoài ra bọn chúng còn đặt ra nhiều thứ thuế vô lý bắt nhân dân phải
đóng. Bọn thực dân và địa chủ đã kìm hãm nông nghiệp Việt Nam trong vòng lạc
hậu để làm lợi cho chúng: thực dân Pháp chưa bao giê đặt vấn đề kĩ nghệ hoá nông
nghiệp ở Việt Nam nên công cụ lao động sản xuất rất thô sơ. Thiên tai xảy ra liên
miên, đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Chúng còn duy trì lối bóc lột
phong kiến, kết hợp với lối cướp bóc của đế quốc (đây là đặc điểm của phương
pháp bóc lột thuộc địa), làm nông dân phá sản, kìm hãm sản xuất.
Vì muốn biến Việt Nam thành thị trường tiêu thụ hàng công nghiệp Õ thừa
của Pháp, nên chúng đã ra sức kìm hãm sự phát triển của công nghiệp nước ta. Do
sự kìm hãm đó nên công nghiệp Việt Nam rất nhỏ bé,què quặt. Điều đó thể hiện rõ

nhân dân ta đã liên tiếp đứng lên chống lại chúng. ở khắp nơi trong nước,
nhân dân ta đã tham gia đấu tranh dưới ngọn cờ cảu các sĩ phu yêu nước
đương thời theo nhiều khuynh hướng khác nhau. Từ những phong trào tự phát
đến những phong trào có tổ chức, lãnh đạo, các phong trào diễn ra ngày càng
một hoàn thiện hơn. Tuy rằng các phong trào đều bị đàn áp dã man nên đã bị
5
thất bại nhưng tất cả những cuộc khởi nghĩa đó đã để lại tiếng vang lớn, gây
cho địch nỗi hoang mang lo sợ.
1. Phong trào Cần Vương
Sau khi thực dân Pháp căn bản hoàn thành cuộc xâm lược Việt Nam với hoà
ước 1884, cuộc đầu tranh của nhân dân Việt Nam chống xâm lược đã chuyển
qua mét giai đoạn mới. Mở đầu là cuộc tấn công trại lính Pháp mằn cạnh kinh
thành Huế, dưới sự chỉ huy của Tôn Thất Thuyết lấy danh nghĩa nhà vua yêu
nước trẻ tuổi Hàm Nghi. Bị thất bại, Tôn Thát Thuyết đã phò vua Hàm Nghi
lánh vào vùng rừng núi, thảo chiếu Cần Vương, kêu gọi các sĩ phu văn thân
cùng toàn dân tiếp tục chiến đấu. Từ đó phong trào Cần Vương đã phát triển
trong nhiều địa phương ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ, cho đến những năm cuối của
thế kỷ XIX.
Trong phong trào Cần Vương, các thủ lĩnh sĩ phu văn thân, liên kết với các
thổ hào địa phương, đã tập hợp đông đảo quần chúng nông dân trong vùng,
dùng vũ khí thô sơ nổi dậy chống lại cuộc bình định của thực dân Pháp. Các
sĩ phu muốn khôi phục một vương triều phong kiến có chủ quyền, các thổ hào
muốn dành lại những thế lực bị tước đoạt, nông dân chống lại sự bóc lột thuế
má và cướp đoạt ruộng đất, tất cả gắn bó lại trên danh nghĩa của một phong
trào yêu nước chống xâm lược mang tính chất truyền thống. Nhưng cuối cùng
phong trào Cần Vương đẫ thất bại vì rời rạc, lẻ tẻ, thiếu sự chỉ huy thống nhất.
2. Phong trào dân téc - dân chủ của tầng líp sĩ phu yêu nước.
2.1 Sự chuyển biến của xã hội Việt Nam và những ảnh hưởng của tác
động bên ngoài.
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam có nhiều chuyển biến,

yêu nước để thức tỉnh quốc dân . Cuộc vận động Đông du chỉ diễn ra được
mấy năm và đã bị thực dân Pháp bóp chết . Những du học sinh Việt Nam bị
trục xuất ra khỏi Nhật và cả cụ Phan cũng phải rời khỏi đất nước này.Sau
cách mạng Tân Hợi, ông lưu lạc ở Trung Quốc, lại lập ra tổ chức Việt Nam
Quang Phục hội, chuẩn bị đưa quân về nước khỏi nghĩa, nhưng cũng không
7
tránh khỏi bị thât bại.Phan Bội Châu là một người anh hùng đầy nhiệt huyết
nhưng không gặp thời thế.
Phan Châu Trinh gần đồng thời với Phan Bội Châu, là một sĩ phu ở
Quảng Nam đã giương cao ngọn cờ dân chủ, cải cách xã hội. Ông đã từng bôn
ba ở nhiều nước, sớm tiếp thu những tư tưởng tiến bộ, chủ trương cứu nước
bằng phương pháp nâng cao dân trí, dân quyền. Ông vạch trần chế độ vua
quan phong kiến thối nát, đòi Pháp phải sửa đổi chính sách cai trị ở thuộc địa.
Chịu nhiều ảnh hưởng tư tưởng dan chủ của Phan Châu Trinh, nhiều phong
trào cải cách xã hội lúc đó đã nổi lên như việc thành lập nhà trường kiểu mới
Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội, phong trào Duy Tân. Tư tưởng dân chủ của
Phan Châu Trinh thể hiện một tinh thần dân téc yêu nước sâu sắc, nhưng chủ
trương dùng cải cách để cứu nước của ông có phần không hợp thời thế.
2.3. Phong trào đấu tranh của quần chúng công, nông, binh:
Các phong trào chính trị của giới sĩ phu đã có ảnh hưởng trực tiếp hoặc
gián tiếp đến phong trào đấu tranh của quần chúng công nông binh trong thời
kỳ này. ở đây những cuộc đấu tranh so với phong trào của giới sĩ phu thường
là thiếu đường lối, tổ chức nhưng lại đông đảo, quyết liệt hơn. Năm 1908, do
ảnh hưởng của những tư tưởng cải cách của Phan Châu Trinh và phong trào
Duy Tân hô hào đời sống mới, một phong trào chống sưu thuế của nông dân
đã lan rộng ra ở nhiều tỉnh. Hàng ngàn nông dân nổi dậy biểu tình, bao vây
huyện lị đòi giảm sưu thuế. Đáng chú ý là khởi nghĩa của nông dân Yên Thế
của Hoàng Hoa Thám, họ đã liên lạc với tổ chức yêu nước của Phan Bội Châu
trong một kế hoạch tấn công vào Hà Nội.
Giai cấp công nhân Việt Nam tuy mới ra đời, số lượng còn Ýt nhưng bước

1. Nguyễn Aí Quốc ra đi tìm đường cứu nước
Giữa lúc cách mạng Việt Nam đang trong đêm tối chưa tìm được lối ra,
Nguyễn Ái Quốc với tên gọi Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc từ tháng 6
năm 1911 đi sang phương Tây, nơi mà Người cho là có tư tưởng tự do, đan
chủ và khoa học kỹ thuật phát triển để xem họ làm như thế nào, học tập họ rồi
trở về giúp đồng bào mình cởi bỏ xiềng xích nô lệ. Trên con đường bôn ba
khắp năm châu, bốn bể, vừa lao động, vừa quan sát, nghiên cứu lý luận và
kinh nghiệm các cuộc cách mạng tư sản điển hình trên thế giới như cách
mạng Mỹ và cách mạng Pháp Đòng thời Người tìm mọi cách tham dự tất cả
các cuộc mít tinh, hội họp do Đảng xã hội Pháp – một đảng duy nhất trong số
các đảng ở Pháp đấu tranh bảo vệ các dân téc thuộc địa. Đến cuối năm 1918,
một biến chuyển quan trọng đã diễn ra trong cuộc đời của Nguyễn Ái Quốc:
Người tham gia Đảng xã hội Pháp. Người là người Việt Nam đầu tiên tham
gia một đảng chính trị của “mẫu quốc”. Trong quá trình tham gia hoạt động
Đảng và nghien cứu về cách mạng Mỹ và cách mạng Pháp, Nguyễn Ái Quốc
đã tập hợp được nhiều bài học quý về lực lượng cách mạng, về tổ chức, về
10
tinh thần, ý chí cách mạng và đặc biệt là bài học về con đường cách mạng.
Người vạch rõ:” Cách mạng Pháp cũng như cách mạng Mỹ, nghĩa là cách
mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi,tiếng là công hoà và dân chủ, nhưng
kỳ thực trong thì nó tước lực công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”.
”Chúng ta dã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đén nơi nghĩa là làm
sao cách mạng rồi thì quyền giao cho đan chúng số nhiều…Thế mới khỏi hy
sinh nhiều lần, thì dân chúng mới được hạnh phúc”.
Giữa tháng giêng năm 1919, Pa-ri long trọng tổ chức hội nghị hoà bình.
Giới cầm quyền các cường quốc thắng trận muốn “tổng kết” chiến tranh càng
nhanh càng tốt, hay nói cách khác muốn giàu lên baừng cách bóc lột các nước
bại trận. Nguyễn Ái Quốc đã gửi đén hội nghị một bản tài liệu có tên là “Bản
yêu sách của nhân dân An Nam” đòi chính phủ Pháp công nhận các quyền tự
do dân chủ và bình đẳng của nhân dân Việt Nam. Bản yêu sách đó không

“ Muốn cứu nước và giải phóng dân téc không có con đường nào khấc là con
đường cách mạng vô sản”. Từ đây, Người dứt khoát đi theo con đường cách
mạng của Lê-nin, con đường cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại. Đây là bước
ngoặt từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa cộng sản, từ một chiến sĩ giải
phóng dân téc trở thành một chiến sĩ cộng sản quốc tế của Người. Sự kiện đó
cũng đánh dấu bước ngoặt mở đường thắng lợi cho sự nghiệp giải phóng dân
téc của Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam đầu tiên tiếp thu sáng
tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm ra con đường đúng đán giải phóng dân téc.
2. Con đường "cách mệnh” Nguyễn ái Quốc.
Sau khi trở thành người chiến sĩ Cộng sản, Nguyễn ái Quốc đã tham gia hoạt
đọng trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, tích cực vận đọng
phong trào cách mạng thuọcc địa, nghiên cứu và truyền bá chủ nghĩa Mác –
Lenin vè Việt Nam qua các báo ‘Ngươig cùng khổ”, “Nhân đạo”, “Đời sống
công nhân” và sau này là tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”(1925) của
Người.
12
Tháng 12 năm 1924, Nguyễn ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc) trực
tiếp chỉ đạo việc chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Tại đây, Người
tham gia sáng lập Hội liên hiệp các dân téc bị áp bức ở á Đông, sáng lập và
viết bài cho báo Thanh niên. Và đặc biệt là đầu năm 1927, tác phẩm “Đường
cách mệnh” được Hội liên hiệp các dân téc bị áp bức xuất bản. Tác phẩm này
là sự tiếp theo một cách lô-gíc cuốn “Bản án chhế độ thực dân Pháp”. “Đường
cách mệnh” đã vạch ra con đường cụ thể để giải phóng dân téc. Tác phẩm chỉ
ra rằng: để chiến thắng kẻ thù hùng mạnh, những nhà cách mệnh Việt Nam
phải giải quyết ngay hai nhiệm vụ cơ bản: nắm vững học thuyết chủ nghĩa
Mác-Lênin và thành lập đội tiên phong tức là Đảng cách mạng.
“Trước hết phải có Đảng cách mệnh để trong thì vận động và tổ chức dân
chúng, ngoài thf liên lạc với dân téc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi.
Đảng có vững, cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững
thuyền mới chạy. Đảng có vững thì phải có chủ nghĩa làm nồng cốt, trong

téc và các tổ chức chính trị theo khuynh hướng cách mạng vô sản, dẫn đến sự
ra đời các tổ chức cộng sản ở Việt Nam hình thành nên Đảng Cộng sản Việt
Nam.
3. Sù ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
Chủ nghĩa Mác-Lênin, tài liệu tuyên truyền của Nguyễn Aí Quốc được
giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam đón nhận như “người đi đường
đang khát mà cò nước uống, đang đói mà có cơm ăn”. Nó lôi cuốn những
người yêu nước Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản, làm dấy lên
phong cao trào đấu tranh mạnh mẽ, sôi nổi khắp cả nước, trong đó giai cấp
công nhân trở thành một lực lượng chính trị độc lập. Phong trào đấu tranh của
giai cấp công nhân và nhiều tầng líp nhân dân phát triển mạnh mẽ, ý thức giác
ngộ chính trị của công nhân ngáy càng cao. Những nhóm cộng sản bí mật đã
bắt đầu xuất hiện trong các xí nghiệp công nghiệp ở các thành phố lớn đòi hỏi
phải có tổ chức Đảng chính trị lãnh đạo.
14
Chỉ trong một thời gian ngắn ở Việt Nam đã có ba tổ chức cộng sản được
tuyên bố thành lập: ở Nam Kỳ là An Nam Cộng sản Đảng, ở Bắc Kỳ là Đông
Dương Cộng sản Đảng, ở Trung Kỳ là Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.
Ngay từ khi thành lập, giữa các tổ chức đó đã xảy ra xích mích, bởi vì, mỗi tổ
chức đều có ý muốn đóng vai trò Đảng Cộng sản duy nhất ở trong vước.
Những cuộc xung đột nghiêm trọng giữa hai tổ chức Đảng ở Bắc Kỳ và Nam
Kỳ đã xảy ra. Mối quan hệ giữa các tổ chức Đảng không bình thường lại
không có một cương lĩnh hành động thống nhất làm các Đảng mất hết tính
chiến đấu và không thể hoạt động có kết quả trong quần chúng. Vì vậy yêu
cầu bức thiết của Cách mạng là cần có một Đảng duy nhất lãnh đạo. Nguyễn
ái Quốc, người chiến sĩ cách mạng lỗi lạc của dân téc Việt Nam, người duy
nhất có đủ năng lực và uy tín đáp ứng yêu cầu đó của lịch sử: thống nhất các
tổ chức Cộng sản thành Đảng Cộng sản duy nhất ở Việt Nam.
Hội nghị hợp nhất ba tổ chức Cộng sản họp tại Cửu Long (Hương Cảng,
Trung Quốc) từ ngày 3 đến 7 tháng 2 năm 1930 đã nhất trí thành lập Đảng

cách mạng, nắm chắc thời cơ lịch sử, với một nghệ thuật lãnh đạo và tổng
khởi nghĩa tài tình, Đảng ta đã lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám
năm 1945 thành công trọn vẹn, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hoà, nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Qúa trình thực tế lịch sử đã chứng minh rằng: Lùa chọn con đường cách
mạng vô sản, đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản là một sự lùa chọn hoàn toàn đúng đắn, sáng suốt của Cách mạng
Việt Nam, mà người tiên phong là Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh- vị lãnh tụ
thiên tài của dân téc Việt Nam, người thầy vĩ đại của Đảng. Hồ Chí Minh là
tấm gương sáng ngời của một chiến sĩ Cộng sản trọn đời vì nước, vì dân, là
biểu tượng của khí phách anh hùng, ý chí độc lập tự cường, kiên trì lý tưởng,
sáng tạo và quyết thắng.
17
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đồng chí Hồ Chí Minh – Ðp-Ghê-Nhi Ca-bê-lép
2. Nhà xuất bản thanh niên Hà Nội – 1985
3. Giáo trình “ Lịch Sử Đảng cộng sản Việt Nam “ – Nhà xuất bản giáo
dục
4. Tài liệu học tập chính trị – nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia
18
MỤC LỤC

Lời nói đầu 3
Phần I: Khái quát về xã hội Việt Nam
trước khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời 4 4
1 Tình hình chính trị 4
2 Tình hình kinh tế 5
3 Tình hình văn hoá xã hội 5
Phần II: Phong trào đấu tranh của nhân dân ta trước khi Đảng ra đời .7
1 Phong trào Cần Vương 7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status