NHỮNG ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN VIỆT NAM TRONG SỰ NGHIỆP ĐẤU TRANH GIỮ GÌN NỀN ĐỘC LẬP CỦA TỔ QUỐC TRONG THẾ KỶ XX LÀ NGƯỜI TÀY, NÙNG Ở CAO BẰNG - Pdf 30

NHỮNG ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN
VIỆT NAM TRONG SỰ NGHIỆP ĐẤU TRANH GIỮ GÌN
NỀN ĐỘC LẬP CỦA TỔ QUỐC TRONG THẾ KỶ XX
LÀ NGƯỜI TÀY, NÙNG Ở CAO BẰNG

Hoàng Triều Nam
(Dân tộc Tày Cao Bằng) Ngày 28 tháng 1 năm 1941, sau 30 năm đi nhiều nước trên thế giới tìm đường cứu
nước, Bác Hồ đã trở về Pác Bó (Cao Bằng).
Tại đây, Người đã dạy bảo nhân dân các dân tộc ở Cao Bằng giác ngộ cách mạng
theo Đảng Cộng Sản cứu nguy cho Tổ quốc, tự cứu lấy mình thoát khỏi ách nô lệ. Người
đã trực tiếp xây dựng tỉnh Cao Bằng trở thành một trong những căn cứ địa cách mạng
trước năm 1945. Người đã chỉ thị cho đồng chí Văn trực tiếp hoạt động trên đất Cao
Bằng sau đó thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Đồng chí Văn là đại
tướng Võ Nguyên Giáp. Đội quân này có 34 chiến sỹ, trong đó có 16 người Tày, 5 người
Nùng đều quê ở Cao Bằng
11
16 chiến sỹ là người Tà y Cao Bằng trong 34 chiến sỹ Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải
phóng quân gồm:
1. Dương Mạc Thạch, xã Minh Tâm, huyện Nguyên Bình
2. Nguyễn Văn Cà ng, xã Hồng Việt, huyện Hoà An
3. Đà m Quốc Chủng, xã Bình Long, huyện Hoà An
4. Hà Hưng Long, xã Nam Tuấn, huyện Hoà An
5. Hoà ng Thế An, xã Đà o Ngạn, huyện Hà Quảng
6. Bế Bằng, xã Hồng Việt, huyện Hoà An
7. Bế Văn Sắt, xã Bình Long, huyện Hoà An

tôi chưa đủ điều kiện biên soạn đầy đủ và liệt kê hết các anh hùng lực lượng vũ trang
nhân dân Việt Nam. Chúng tôi mới chỉ sưu tầm được 20 vị anh hùng sau đây:
1. Anh hùng La Văn Cầu
Trong trận đánh biên giới ở đồn Đông Khê, quân thù bắn cánh tay anh gẫy nát. Anh
đã yêu cầu đồng đội cắt cánh tay, rồi ôm bộc phá lên đánh tan lô cốt giặc.
Anh La Văn Cầu sinh năm 1932, dân tộc Nùng, quê xã Quang Thành, huyện Trùng
Khánh, tỉnh Cao Bằng.
Cha anh Cầu bị giặc Pháp bắt, đánh đập dã man rồi chết.

3. Giáp Ngọc Pàng, xã Hoàng Tung, huyện Hoà An
4. Long Văn Mần, xã Bình Long, huyện Hoà An
5. Dương văn Dấu, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng
(Theo sách Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Nxb QĐND trang 342-343)

Anh căm thù giặc, năm 16 tuổi, anh khai tăng lên 18 tuổi tình nguyện xin vào bộ
đội. Anh nhanh nhẹn, hoạt bát, quyết chí đi đánh giặc nên được chấp nhận tòng quân.
Anh phấn khởi ra sức học tập và rèn luyện. Anh còn tích cực giúp đỡ đồng đội nên
được nhiều người quý mến.
Anh đã chiến đấu 29 trận. Trận nào anh cũng gương mẫu, chấp hành nghiêm mệnh
lệnh. Trận nào anh cũng đánh thắng.
Năm 1949, trong trận phục kích đánh giặc ở đèo Bông Lau (đèo giáp ranh giữa hai
tỉnh Lạng Sơn - Cao Bằng). Anh ở tổ xung kích. Khi nổ súng, xung phong, anh phát hiện
một tên giặc ngồi trong xe tăng. Anh nổ súng, tên giặc chết ngay, anh liền nhảy lên xe
cướp súng. Vừa lúc đó, ngoảnh lại phía sau, có 3 tên giặc xông đến, anh dùng súng vừa
cướp được bắn gục 3 tên giặc. Anh nhảy ra khỏi xe, truy lùng tiếp và bắn giết thêm 6 tên
giặc nữa.
Năm 1950, quân ta đánh vào đồn Đông Khê (huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng). Lần
đánh thứ nhất, anh đau chân nhưng kiên quyết xin đi chiến đấu. Trận đánh gặp khó khăn,
đơn vị bạn bị thương nhiều. Anh Cầu đã động viên đồng đội, trong đó có nhiều chiến sỹ
mới nhập ngũ băng bó và cõng hết số thương binh này về nơi an toàn. Riêng anh Cầu,

phong vào bộ đội. Anh tham gia đánh giặc nhiều trận. Anh dũng cảm, chấp hành nghiêm
mệnh lệnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Anh Bế Văn Đàn nổi tiếng là người anh hùng trong trận đánh ở Mường Pồn. Anh
được thưởng huân chương Quân công hạng nhì.
Đó là trận đánh của quân đội ta đầu năm 1954. Quân địch rút chạy từ thị xã Lai Châu
(tỉnh Điện Biên hiện nay) về co cụm và củng cố thêm cho tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
Khi chúng đóng quân ở Mường Pồn thì bị bộ đội ta bao vây.
Lần đó, anh Đàn làm liên lạc tiểu đoàn đưa đơn vị hành quân đi chiến dịch. Một đại
đội của tiểu đoàn quân ta được giao nhiệm vụ đánh địch ở Mường Pồn. Quân địch quan
sát thấy lực lượng ta ít, chúng huy động hai đại đội có phi pháo yểm hộ liên tiếp phản
kích. Nhưng cả hai lần, chúng đều bị quân ta đánh bại. Tình hình chiến đấu rất căng
thẳng. Địch liều chết nống ra. Ta kiên quyết ngăn chặn. Có lệnh cho đại đội giữ vững trận
địa để đơn vị lớn triển khai lực lượng của chiến dịch. Anh Bế Văn Đàn vừa đi công tác
về, anh xung phong nhận nhiệm vụ vượt qua lửa đạn truyền đạt lệnh này cho đại đội.
Tình hình chiến đấu thêm ác liệt, quân địch phản công lần thứ ba. Đại đội bị thương vong
chỉ còn 17 người. Anh Bế Văn Đàn cũng bị thương. Một khẩu trung liên của đơn vị
không bắn được vì xạ thủ đã hy sinh. Khẩu trung liên của anh Chu Văn Pù cũng chưa bắn
được vì không có chỗ đặt súng. Anh Bế Văn Đàn căm thù quân địch đến tột độ trước sự
hy sinh của đồng đội. Anh không còn ngần ngại gì, chạy lại cầm hai chân khẩu trung liên
và hô bắn. Anh nói: "Pù, kẻ thù trước mặt, anh có thương tôi và đồng đội, thì bắn! Bắn
chết chúng nó đi!".
Anh Pù nghiến răng nhả đạn. Quân địch ngã liên tiếp hàng chục tên, hoảng loạn bỏ
chạy.
Anh Bế Văn Đàn khi đứng làm giá súng, bị thêm hai vết thương nữa, anh đã anh
dũng hy sinh "hai tay còn ghì chặt chân súng trên vai". Tấm gương của anh Đàn truyền
khắp đơn vị, cán bộ, chiến sỹ quyết tâm xông lên tiêu diệt quân thù, đem lại toàn thắng
cho chiến dịch.
Trong đại hội mừng công của đơn vị, anh Bế Văn Đàn được truy bầu là chiến sỹ thi
đua số một của đại đoàn, được truy tặng Huân chương chiến công hạng nhất.
Ngày 31 tháng 8 năm 1955, Chủ tịch nước truy tặng Huân chương Quân công hạng

tiêu diệt nhiều tên, giữ vững chốt.
Trận này anh Bế Văn Thành diệt 10 tên địch, bắt sống 3 tên, thu 6 súng.
Năm 1974, trong trận tiêu diệt căn cứ Làng Siêu, anh Bế Văn Thành chỉ huy một
đơn vị đã nhanh chóng dũng cảm đánh chiếm lô cốt địch ở đầu cầu, tạo điều kiện cho
toàn đơn vị xông lên tiêu diệt căn cứ của địch.
Sau khi đã diệt xong xe bọc thép và một số hoả điểm của địch ở hướng cửa mở, anh
Bế Văn Thành tiếp tục dẫn đầu đơn vị xông lên chiếm đỉnh cao. Anh hướng dẫn đồng đội
tiêu diệt từng mục tiêu của địch.
Trận đánh sắp kết thúc thì anh Bế Văn Thành bị thương nặng. Anh trao súng cho
đồng đội và động viên mọi người tiếp tục truy quét địch. Anh đã hy sinh. Đồng đội khâm
phục anh là tấm gương thông minh, quả cảm, bình tĩnh, gan dạ diệt giặc thôi thúc đơn vị
hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Anh Bế Văn Thành được tặng:
1 Huân chương chiến công giải phóng hạng nhất.
2 Huân chương chiến công giải phóng hạng ba
4 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ và được tặng 8 bằng khen.
Ngày 06 tháng 11 năm 1978, Chủ tịch nước truy tặng anh Bế Văn Thành danh hiệu
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
4. Anh hùng Triệu Xuân Tâng
Làm tròn nhiệm vụ quốc tế của Đảng giao cho.
Anh Triệu Xuân Tâng sinh năm 1946, dân tộc Nùng, quê xã Quốc Dân, huyện
Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng.
Anh vào bộ đội tháng 5 năm 1966. Khi được tuyên dương Anh hùng, anh là Trung
đội trưởng Bộ binh, thuộc đoàn 28 khu Tây Bắc. Anh là đảng viên Đảng Cộng sản Việt
Nam.
Từ năm 1967 đến năm 1973, anh Tâng làm nhiệm vụ giúp Lào xây dựng cơ sở cách
mạng ở tỉnh Luông Pha - Bang.
Điều kiện hoạt động có nhiều khó khăn, gian khổ, ác liệt, anh Tâng kiên trì bám đất,
bám dân, tuyên truyền vận động nhân dân tham gia cách mạng. Anh kiên trì học thành
thạo tiếng Lào, tạo điều kiện gần gũi nhân dân để tuyên truyền giáo dục quần chúng có

Anh Thùng tự xác định muốn làm tốt công tác vận động quần chúng thì phải học tiếng
Cămpuchia nên chỉ sau một thời gian ngắn, anh nói được tiếng Cămpuchia.
Tháng 2 năm 1979, anh Thùng là đội trưởng công tác phát động quần chúng ở xã
Đông. Nhân dân trong xã đói khổ, bệnh tật. Địch ra sức tuyên truyền xuyên tạc chủ trương,
chính sách của Đảng và Mặt trận Campuchia
.
Anh Thùng đã đi sâu vào quần chúng vạch
trần những luận điệu sai trái của địch cho quần chúng. Thấy dân đói rách, anh Thùng có
hai bộ quần áo, anh biếu một bộ cho một cụ già. Thấy nhiều em bé ghẻ bẩn, anh đã tắm
rửa cho các em. Thấy nhà dân bẩn, anh quét dọn vệ sinh sạch sẽ. Có lần thấy một người
bị rắn độc cắn, mê man, anh Thùng nhanh chóng tìm cây lá chữa chạy, giải độc cho nạn
nhân. Có người có ý đồ xấu đòi tiêm thuốc độc hại nạn nhân, anh biết và kiên quyết
không cho tiêm. Sau chừng 20 phút, nạn nhân này tỉnh, sau một giờ đồng hồ thì hồi phục
sức khoẻ. Một lần gặp một chị đến cơn đẻ, nhưng đẻ rất khó, anh tìm thứ lá thuốc gia
truyền cho uống, giúp chị đẻ an toàn. Nhân dân trong xã tin yêu anh. Nhân dân trong xã bị
đói, anh giúp đỡ nhân dân lao động sản xuất bằng những việc làm cụ thể, kết quả nhân dân
đã giảm bớt khó khăn trong đời sống. Nhân dân tin tưởng ở người bộ đội Việt Nam, đã chỉ
những tên địch, kẻ xấu lọt vào hàng ngũ chính quyền cách mạng để đưa đi cải tạo.
Kẻ địch dụ dỗ, mua chuộc những kẻ xấu tìm cách hại anh Dương Đức Thùng.
Chúng treo giải: ai giết được anh Thùng thì chúng thưởng 10 lạng vàng, nếu bắt sống
được thì thưởng nhiều hơn.
Anh Thùng vững vàng, tích cực, lăn lộn hoạt động và được quần chúng tin yêu, bảo
vệ. Có lần, anh Thùng cải trang thành dân thường vượt qua trước mặt hai tên gác của địch
đến gần cuộc họp do địch tổ chức. Anh đã tổ chức lực lượng bắt được 2 tên gian từ Thái
Lan về, bắt 3 tên khác ra trình diện chính quyền và nhân dân, thu được 21 khẩu súng và
300 viên đạn. Sau trận này, anh Thùng càng được quần chúng tin yêu, chính quyền càng
được củng cố trong sạch, vững mạnh.
Lần khác, vào một chập tối có 3 tên địch phục kích, dùng gậy xông vào đánh anh
Thùng. Anh đã bình tĩnh chống trả, cả 3 tên thua chạy, bỏ trốn. Về sau, chúng hối cải, ra
trình diện và nói: "chúng tôi lầm đường theo địch định giết anh nay ân hận, xin được tha

Bằng.
Ngày 7 tháng 5 năm 1956, Chủ tịch nước tặng đồng chí Triệu Văn Báo huân
chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt
Nam.
Đồng chí là chiến sĩ thông tin Đại đoàn 316, mưu trí, dũng cảm, đã lấy thân mình
nối đường dây để đưa thông tin dưới làn mưa đạn. Đồng chí được phong hàm Đại tá năm
1982, mất năm 1994.
10. Anh hùng liệt sĩ Lý Văn Mưu
Sinh năm 1934, dân tộc Tày, quê ở xã Độc Lập, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng.
Ngày 7 tháng 5 năm 1956, Chủ tịch nước truy tặng đồng chí Lý Văn Mưu huân
chương Quân công hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt
Nam.
11. Anh hùng Hoàng Văn Nghiên
Sinh năm 1930, dân tộc Nùng, xã Ngũ Lão, huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng.
Ngày 1 tháng 1 năm 1964, Chủ tịch nước tặng đồng chí Hoàng Văn Nghiên danh
hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.
12. Anh hùng Nông Văn Việt
Sinh năm 1938, dân tộc Tày, quê ở xã Phong Châu, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao
Bằng.
Ngày 1 tháng 1 năm 1967, chủ tịch nước tặng đồng chí Nông Văn Việt danh hiệu
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.
13. Anh hùng liệt sĩ Bế Văn Cắm
Sinh năm 1945, dân tộc Nùng, quê ở xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao
Bằng.
Ngày 20 tháng 12 năm 1969, chủ tịch Chính phủ lâm thời Cộng hoà miền nam Việt
Nam truy tặng đồng chí Bế Văn Cắm danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
giải phóng.
14. Anh hùng Hoàng Văn Cón
Sinh năm 1940, dân tộc Nùng, xã Thượng Thôn, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.
Ngày 25 tháng 8 năm 1970, Chủ tịch nước đã tặng đồng chí Hoàng Văn Cón danh

đấu cật để dựng nước và giữ nước. Quá trình hàng ngàn năm ấy đã có biết bao nhiêu tấm
gương anh hùng liệt sĩ được ghi trong sử xanh của nước nhà. Riêng trong thế kỷ XX vừa
qua, dân tộc ta đã trải qua cuộc chiến đấu lâu dài và vô cùng gian khổ, hy sinh anh dũng
chống lại những thế lực xâm lược có sức mạnh lớn vào bậc nhất thế giới và đã giành
được thắng lợi trọn vẹn vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, đưa đất nước ta vào kỷ nguyên
mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Người Tày, người Nùng nằm trong các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày, Thái. Thành
tích chiến đấu của hai dân tộc Tày, Nùng đã góp phần vào thành tích chung của các dân tộc
anh em trên đất nướcViệt Nam.
Việc ghi tạc những tấm gương anh hùng của người Tày, Nùng ở Cao Bằng trong
cuộc chiến đấu của thế kỷ vừa qua luôn luôn gắn chặt với những tấm gương anh hùng của
người Kinh (Việt), của người Mường, Dao, Thái, Mông, Cao Lan, Sán Chí,… ở miền
Bắc, của người Tà Ôi, Hrê, Bru, Bana, Gia rai, Xơ đăng, X'Tiêng, Mơ nông, Chăm,… ở
miền Trung và Tây Nguyên, của người Hoa, Khơ me,… ở Nam Bộ.
Tất cả những thành tích đó đã góp phần vào sự nghiệp to lớn của cả dân tộc, dưới sự
lãnh đạo sáng suốt tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
Với nhận thức đó, việc giới thiệu thành tích chiến đấu của các Anh hùng trong lực
lượng vũ trang nhân dân Việt Nam có ý nghĩa sâu sắc và thiêng liêng.

Tài liệu tham khảo

1. Địa chí Cao Bằng, Nxb Chính trị Quốc gia
2. Non nước Cao Bằng, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam xuất bản
3. Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Nxb Quân đội nhân dân Việt Nam,
tr.342-343
4. Anh hùng lực lượng vũ trang, Nxb Văn hoá dân tộc
5. Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội
6. Tài liệu tổng kết của Bộ chỉ huy quân sự Cao Bằng
7. Lịch sử Đảng bộ tỉnh Cao Bằng
8. Về cách mạng tháng tám năm 1945 ở Cao Bằng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status