Nghiên cứu chế tạo và khảo sát các tính chất đặc trưng của vật liệu điện cực catốt - Pdf 30



1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việc cải thiện nâng cao chất lượng môi trường sống và tái tạo các nguồn
năng lượng đã và đang là những vấn đề được quan tâm đặc biệt cho cuộc sống
hiện tại và trong tương lai của con người. Các nguồn năng lượng hóa thạch
(dầu mỏ, than, khí đốt ) và năng lượng hạt nhân đang được sử dụng hiện nay
đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt trong một thời gian không xa, do khối
lượng các nhiên liệu hóa thạch là có hạn và đã được khai thác . Thêm nữa, khí
các bon điôxit (CO
2
) thải ra khi đốt các nguyên liệu hóa thạch sẽ gây ra hiệu
ứng nhà kính làm tăng nhiệt độ trái đất, điều này đã được Arrhenius dự đoán
sớm vào năm 1896 [18]. Ngày nay, những bằng chứng về sự ấm lên của trái
đất đã được công bố rộng rãi và vấn đề môi trường đã trở lên cấp thiết. Các
yêu cầu đặt ra hiện nay là cần phải tạo ra các nguồn năng lượng mới sạch hơn
không gây ra tác hại với môi trường để thay thế các nguồn năng lượng trên.
Có nhiều biện pháp được đưa ra như sử dụng các nguồn năng lượng gió, năng
lượng mặt trời Tuy nhiên các dạng năng lượng này thường không liên tục
vì vậy để có thể sử dụng chúng một cách thực sự hữu ích thì các năng lượng
này cần phải được tích trữ dưới dạng điện năng. Các thiết bị có thể tích trữ
điện năng hiện nay thông thường là các loại Pin, Ắc quy nạp lại được hoặc
các loại tụ điện.
Trong vài thập kỷ qua, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công
nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ điện tử dẫn đến sự ra đời hàng loạt các
thiết bị không dây (máy tính xách tay, điện thoại di động, các thiết bị vũ trụ,
hàng không ). Để đảm bảo các thiết bị hoạt động được tốt cần phải có những
nguồn năng lượng phù hợp, có dung lượng lớn, hiệu suất cao, có thể dùng lại
nhiều lần và đặc biệt là gọn nhẹ và an toàn. Đây là mục tiêu hướng tới trong

2
O
4
có khả năng tích trữ
tốt ion Li
+
.
- Nghiên cứu chế tạo được điện cực Catốt LiMn
2
O
4
có khả năng tích trữ
tốt ion Li
+
.
- Khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố công nghệ, thành phần lên các tính
chất đặc trưng của điện cực catôt.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tập trung nghiên cứu thực nghiệm đồng thời nâng cao trình độ lý
thuyết về vật liệu tích trữ, dẫn ion trên cơ sở cấu trúc perovskite của vật liệu
LiMn
2
O
4
.
- Tìm hiểu quy trình công nghệ để chế tạo mẫu từ khâu pha trộn chất đến
thiêu kết và trên cơ sở đó chế tạo vật liệu khối bằng các phương pháp phản
ứng pha rắn kết hợp thiêu kết ở nhiệt độ cao.

3


4
NỘI DUNG

CHƢƠNG I
TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU TÍCH TRỮ, DẪN ION
1.1.Cơ sở lý thuyết về vật tích trữ, dẫn ion Li
+
.
1.1.1. Khái niệm chung
1.1.1.1. Vật liệu tích trữ ion
Họ vật liệu được hình thành bằng phương pháp tổng hợp pha rắn hoặc
các phương pháp đặc biệt khác trên cơ sở thâm nhập các tiểu phân (ion, phân
tử) “khách” do có kích thước nhỏ đi vào một hợp chất rắn “chủ” mà trong cấu
trúc mạng lưới tồn tại những vị trí trống. Có thể minh họa sự hình thành hợp
chất chủ - khách bằng mô hình sau:
Ký hiệu: chỉ tiểu phân là ion hoặc phân tử khách.
chỉ vị trí trống trong cấu trúc chủ.
chỉ chiều vào/ra (chiều tích/thoát) của ion.
Về nguyên tắc sự vào/ra của các tiểu phân khách trong cấu trúc chủ là
không tự xảy ra. Thật vậy, ngay cả khi tiểu phân là ion cũng có kích thước
đáng kể, hơn nữa lại mang điện tích nên khi có mặt trong ô trống (vị trí trống,
đường hầm, kênh, xen lớp ) có thể dẫn đến tương tác hóa trị, thay đổi liên
kết mạng lưới ở mức độ nhiễu loạn. Tuy nhiên, đặc thù của hợp chất cài là
dưới tác dụng của gradient thế hóa học, thế điện hóa, quá trình tích/thoát ion
vào mạng rắn (cũng có thể gọi là khuếch tán) diễn ra chậm nên không có sự
Chủ

Chất điện ly dạng gel: là chất điện ly được tạo ra bằng cách hòa tan muối
và dung môi trong polymer với khối lượng phân tử lớn tạo thành gel.
Chất điện ly dạng rắn: là vật liệu vô cơ ở trạng thái rắn có khả năng dẫn
một số loại ion như: Li
+
, H
+
, O
-
; F
-
v.v
Với đặc điểm như vậy, mỗi dung dịch điện ly có các ưu điểm khác nhau.
Nhưng nói chung, các dung dịch này phải có khả năng dẫn ion Liti tốt, độ ổn
định cao, ít chịu ảnh hưởng của môi trường như độ ẩm, hơi nước, không khí.
Hiện nay, trong lĩnh vực chế tạo pin Liti dung dịch điện ly thường được
sử dụng ở dạng lỏng, gel. Đối với chất điện ly dạng rắn, đây là đối tượng đang
được quan tâm nghiên cứu nhiều nhằm mục đích thay thế các chất điện ly
thông thường kể trên và bước đầu đã được ứng dụng thành công trong thực tế.

6
a) Vật dẫn ion nhanh
Các vật rắn có tính chất dẫn ion được gọi là “chất điện ly rắn’’ (solid
electrolytes) hay “chất rắn siêu ion’’ (superionic solid) hoặc gọi chung là “vật
dẫn ion’’. Chất điện ly rắn là vật dẫn điện nhờ sự dịch chuyển của các ion.
Thông thường, chỉ có một loại ion (hoặc cation hoặc anion) có độ linh động
chiếm ưu thế và chi phối sự dẫn điện trong vật dẫn ion. Những vật rắn có suất
dẫn điện tại nhiệt độ phòng (
0
25 C



Phương trình trên nhận được với giả thiết cho rằng sự dịch chuyển của
mỗi hạt không phụ thuộc vào sự dịch chuyển của các hạt khác.
b) Phân loại vật dẫn ion
Tuỳ theo những căn cứ khác nhau mà ta có thể phân loại vật dẫn ion theo
các nhóm khác nhau. Dưới đây là một số kiểu phân loại chính:
- Kiểu ion dẫn: + Vật dẫn cation: hạt tải là Li
+
, Na
+
, K
+
, Ag
+
, H
+

+ Vật dẫn anion: hạt tải là F
-
hoặc O
2-
.
- Kiểu cấu trúc: Đơn pha, đa pha (hỗn hợp, tổ hợp) và vô định hình.
- Kiểu cấu trúc lớp
Liên kết mạng cứng: mạng ba chiều (3D), hai chiều (2D), dãy – một thứ
nguyên (1D) và điểm – các nhóm riêng biệt (0D).

7
Liên kết các kênh dẫn

D
Zen .)(
2


(1.2)
Trong đó: U - là năng lượng kích hoạt của chuyển động ion
C - là hệ số đứng trước hàm exponent
K - hằng số boltzman
T - nhiệt độ.
C được tính như sau:

0
22
)(
3
1
WndZeC 

Trong đó Ze là điện tích ion dẫn, n - mật độ defect (mật độ nút khuyết
trong khuếch tán nút khuyết, mật độ nút mạng trung gian trong khuếch tán
trung gian), d - là bước nhảy bé nhất của ion (thường là khoảng cách giữa các
cặp ion),
0
W
- tần số bắt.

8
Hệ số khuếch tán D được xác định bởi công thức:


rắn. Trong nhiều vật dẫn ion, năng lượng kích hoạt chỉ vào khoảng 0,1 đến
0,2 eV [11], [14]. Vì thế tiêu chuẩn đánh giá đặc trưng của vật dẫn ion chính
là năng lượng kích hoạt, khi nhiệt độ tăng độ dẫn ion giảm rất ít thậm chí còn
tăng. Như vậy, hỗn loạn mạng con quyết định độ dẫn ion của vật rắn.
- Chuyển động của ion trong vật dẫn ion:
Trong hầu hết tinh thể, khuếch tán ion tồn tại dưới dạng “nhảy”. Nghĩa là
hầu hết thời gian khuếch tán mất trong hố thế năng tương ứng, thời gian sống
ở hố thế năng lớn hơn nhiều thời gian nhảy của ion sang nút mạng lân cận.
Trong vật dẫn ion các ion dẫn được phân bố xung quanh một lượng lớn các
nút mạng khả dĩ (hỗn loạn mạng con) và năng lượng kích hoạt thấp. Điều đó
có nghĩa là hố thế năng trong đó ion dẫn cư trú nông. Sự chuyển động của ion
trong vật dẫn ion mang đặc trưng nhảy với tần số phụ thuộc vào độ sâu của hố

9
thế năng. Khi thời gian nhảy của ion là đáng kể so với thời gian cư trú trong
hố thế năng (nghĩa là thời gian cư trú nhỏ) thì vật dẫn ion có độ dẫn tốt. Nhiều
công trình nghiên cứu đã tìm thấy bước nhảy của ion có độ lớn bằng hằng số
mạng [5], [13]. Để mô tả tính dẫn ion có thể dựa trên cơ sở lý thuyết “chạy
ngẫu nhiên” của ion dẫn. Lý thuyết này đã đưa ra một vài công thức gần đúng
để xác định độ dẫn , ví dụ:

)(
2
)(
~
)(.



Z

động dọc theo mạng nút khuyết, cảm
giác như nút khuyết chuyển động
vậy.
Mô hình đó được mô tả trên
hình 1.
Bằng cách tính toán lý thuyết theo mô hình này, độ dẫn ion tìm được
thoả mãn công thức:
Nút khuyết




Chuyển động của nút khuyết
Hình 1.1: Mô hình chuyển động hợp tác
của các ion trong vật dẫn ion nhanh
Đây là bản xem thử. Vui lòng download về bản đầy đủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status