PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục - đào tạo đóng vai trò chủ yếu trong việc gìn giữ, phát triển và truyền
bá nền văn minh nhân loại. Trong thời đại ngày nay Đảng và nhà nước ta
đã khẳng định phát triển khoa học công nghệ cùng với phát triển giáo dục đào tạo là
quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp công nghiệp
hiện hoá, hiện đại hoá đất nước Mặc dù đất nước ta còn nghèo, nhưng trong thời gian
qua, với sự quan tâm của nhà nước, đặc biệt là sự nổ lực, cố gắng của đội ngũ cán bộ
khoa học công nghệ trong cả nước, tiềm lực khoa học công nghệ đã được tăng
cường, khoa học công nghệ đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế
xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh. Chính vì vậy GD - ĐT luôn được quan tâm
chăm lo đặc biệt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên trình độ khoa học công nghệ của nước ta nhìn chung còn thấp so
với các nước trên thế giới và trong khu vực, năng lực sáng tạo mới còn hạn chế, chưa
đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Khoa học
công nghệ nước ta đang dứng trước nguy cơ tụt hậu ngày càng xa, trước xu thế phát
triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và kinh tế tri thức thế giới.
Thách thức lớn nhất trong sự phát triển kinh tế xã hội của nước ta hiện nay là
sự yếu kém về chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp của nền
kinh tế, dẫn đến nguy cơ kéo dài tình trạng tụt hậu của nước ta so với các nước trong
khu vực và khó có thể thực hiện được sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước. Vì vậy
mỗi quốc gia đều cố gắng phát triển giáo dục gắn với phát triển kinh tế xã hội, tiến
bộ khoa học công nghệ, củng cố quốc phòng an ninh.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước, sự tham gia của toàn xã hội ngành
giáo dục nước ta trong nhiều năm qua đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể: mạng
lưới trường học phát triển rộng khắp, giáo dục có bước tăng trưởng khá, chất lượng
GD - ĐT đã có nhiều tiến bộ bước đầu và xuất hiện những nhân tố mới Bên canh
những thành tựu đáng ghi nhận GD - ĐT nước ta còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập;
bất cập cả về quy mô, cơ cấu và nhất là chất lượng, hiệu quả chưa đáp ứng kịp thời
với những đòi hỏi lớn và ngày càng cao về nhân lực của công cuộc đổi mới kinh tế -
xã hội. Hiện nay chúng ta còn khoảng 7% dân số mù chữ; chưa phổ cập được giáo
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Nghiên cứu những lý luận cơ bản về các quan điểm phát triển GD - ĐT nước
ta giai đoạn 2001 - 2010.
2
4.2. Tìm hiểu việc thực hiện quan điểm: :" Phát triển giáo dục phải gắn với nhu
cầu phát triển kinh tế xã hội, tiến bộ khoa học công nghệ, củng cố quốc phòng an
ninh".
4.3. Đưa ra một số kết luận, kiến nghị để giúp thực hiện tố nội dung quan điểm :"
Phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, tiến bộ khoa
học công nghệ, củng cố quốc phòng an ninh ".
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Chúng tôi tiến hành thu thập tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu sau
đó sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết như: Phân tích và tổng hợp ký
thuyết, phân loại và hệ thống hoá lý thuyết, mô hình hoá, giả thuyết - suy diễn để
làm cơ sở lý luận cho đề tài.
5.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
5.2.1. Phương pháp nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm giáo dục
Chúng tôi tiến hành thu thập và tổng kết kinh nghiệm dạy và học của giáo
viên, học sinh các bậc học để có căn cứ cụ thể cho vấn đề nghiên cứu. Ngoài ra
chúng tôi còn tìm thông tin từ nguồn khác nhau như báo, đài, các trang web, các
thống kê , báo cáo.
Nghiên cứu tài liệu và sản phẩm hoạt động sư phạm của cả giáo viên và học
sinh. Đó là giáo án, vở ghi chép của học sinh. Đó là giáo án, vở ghi chép của học
sinh, bài kiểm tra Đây là những căn cứ để đánh giá thực trạng.
5.2.2. Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia
Chúng tôi tiến hành phỏng vấn các thầy, cô giáo có nhiều năm kinh nghiệm
trong công tác giáo dục, tâm huyết với nghề về những vấn đề có liên quan đến đề tài
nghiên cứu nhằm thu thập, bổ sung cho đề tài.
5.3. Phương pháp thống kê toán học:
độ vào năm 2010 đạt 40%, trong đó cao đẳng trở lên 6%, trung học chuyên nghiệp
8%, công nhân kỹ thuật 26%. Thực hiện phổ cập THCS trong cả nước.
1.2.1. Giáo dục mầm non
Nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ trước 6 tuổi, tạo cơ sở để trẻ phát
triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ; mở rộng hệ thống nhà trẻ và
4
trường lớp mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư, đặc biệt ở nông thôn và những vùng
khó khăn; tăng cường các hoạt động phổ biến kiến thức và tư vấn nuôi dạy trẻ cho
các gia đình.
Đến năm 2010, hầu hết trẻ em đều được chăm sóc, giáo dục bằng những hình
thức thích hợp.Tăng tỉ lệ trẻ dưới 3 tuổi đến nhà trẻ từ 12% năm 2000 lên 15% năm
2005 và 18% năm 2010. Đối với trẻ 3- 5 tuổi tăng tỉ lệ đến trường, lớp mẫu giáo từ
50% năm 2000 lên 58% năm 2005 và 67% năm 2010. Riêng trẻ 5 tuổi, tăng tỉ lệ huy
động đến mẫu giáo để chuẩn bị vào lớp 1 từ 81% năm 2000 lên 85% năm 2005 và
95% vào năm 2010.
1.2.2. Giáo dục phổ thông
Thực hiện giáo dục toàn diện về đức, trí, thể, mỹ. Cung cấp học vấn phổ thông
cơ bản, hệ thống và có tính hướng nghiệp; tiếp cận trình độ các nước phát triển trong
khu vực. Xây dựng thái độ học tập đúng đắn, phương pháp học tập chủ động, tích
cực, sáng tạo; lòng ham học, ham hiểu biết, năng lực tự học, năng lực vận dụng kiến
thức vào cuộc sống.
- Tiểu học: Phát triển những đặc tính tự nhiên tốt đẹp của trẻ em, hình thành ở
HS lòng ham hiểu biết và những đức tính, kỹ năng cơ bản đầu tiên để tạo hứng thú
học tập và học tập tốt. Củng cố và nâng cao thành quả phổ cập giáo dục tiểu học
trong cả nước. Tăng tỉ lệ huy động HS trong độ tuổi đến trường từ 95% năm 2000
lên 97% năm 2005 và 99% năm 2010.
- Trung học cơ sở: Cung cấp cho HS học vấn phổ thông cơ sở và những hiểu
biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để thực hiện phân luồng sau THCS, tạo
điều kiện để HS tiếp tục học tập hoặc đi vào cuộc sống lao động. Đạt chuẩn phổ cập
THCS ở các thành phố, đô thị, vùng kinh tế phát triển vào những năm 2005, trong cả
đào tạo trên cơ sở xây dựng một hệ thống liên thông phù hợp với cơ cấu trình độ, cơ
cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền của nhân lực và năng lực của các cơ sở đào tạo.
Tăng cường năng lực thích ứng với việc làm trong xã hội, năng lực tự tạo việc làm
cho mình và cho những người khác.
Nâng tỉ lệ sinh viên từ 118 sinh viên trên 1 vạn dân năm học 2000- 2001 lên
200 sinh viên trên 1 vạn dân vào năm 2010. Tăng quy mô đào tạo thạc sĩ từ 11.727
học viên năm học 2000 lên 38.000; nghiên cứu sinh từ 3.870 năm 2000 lên 15.000
vào năm 2010.
- Giáo dục không chính quy: Phát triển giáo dục không chính quy như là một
hình thức huy động tiềm năng của cộng đồng để xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội
cho mọi người, ở mọi trình độ, mọi lứa tuổi, mọi nơi có thể học tập suốt đời, phù hợp
6
với hoàn cảnh và điều kiện của mỗi cá nhân, góp phần nâng cao dân trí và chất lượng
nguồn nhân lực.
Củng cố và nâng cao kết quả xoá mù chữ cho người lớn, đặc biệt ở vùng núi,
vùng sâu, vùng xa. Thực hiện có hiệu quả các chương trình sau xoá mù chữ, bổ túc
trên tiểu học để góp phần thực hiện chủ trương phổ cập trung học trong những năm
tiếp theo. Tạo cơ hội cho đông đảo người lao động được tiếp tục học tập, được đào
tạo lại, được bồi dưỡng ngắn hạn, định kỳ và thường xuyên theo các chương trình
giáo dục, các chương trình kỹ năng nghề nghiệp phù hợp với nhu cầu nâng cao năng
suất lao động, tăng thu nhập hoặc chuyển đổi nghề nghiệp. Chú trọng phát triển các
chương trình chuẩn hoá đội ngũ giáo viên, cán bộ lãnh đạo, quản lí, công chức nhà
nước từ Trung ương đến địa phương.
- Giáo dục trẻ khuyết tật: Tạo cơ hội cho trẻ khuyết tật được học tập ở một
trong các loại hình lớp hoà nhập, bán hoà nhập hoặc chuyên biệt, đạt tỉ lệ 50% vào
năm 2005 và 70% vào năm 2010.
3. Nội dung quan điểm 2: “Phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển
kinh tế xã hội, tiến bộ khoa học công nghệ, củng cố quốc phòng an ninh”
3.1. Nội dung cơ bản
Trong luật giáo dục 2005, điều 9 đã quy định:
1.1.1. Thành tựu:
Đầu năm 2005, Bộ GD - DDT đã tổ chức Hội nghị sơ kết đánh giá 2
năm thực hiện Quyết định số 161/2002/QĐ - TTg ngày 15/11/2002 của Thủ tướng
chính phủ (gọi tắt là QĐ 161) về một số chính sách phát triển giáo dục mầm non tại
Đồng Nai và Hà Nội. Phát biểu tại hội nghị, Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm đã
đánh giá cao những nỗ lực của ngành và khẳng định: “Hơn 2 năm qua, QĐ 161 của
Thủ tướng chính phủ đã thực sự đi vào cuộc sống tạo ra sinh khí mới cho ngành
GDMN phát triển, đưa GDMN trở lại vị trí đúng của nó. Thành tựu của ngành
GD nói chung là rất lớn trong đó GDMN phát triển mạnh nhất”. Năm học 2004-
2005 hầu hết các số lượng trẻ đến lớp tăng, so sánh với năm học 2003-2004 tỷ lệ trẻ
em trong độ tuổi đến các loại hình GDMN đều tăng: trẻ nhà trẻ tăng 1%, trẻ mẫu
giáo tăng 3%, trong đó trẻ mẫu giáo 5 tuổi tăng 20%. Trước khi có quyết định 161
toàn quốc có 222 xã trắng về GDMN cho đến nay cả nước chỉ còn lại 2 xã trắng.
GDMN đã có bước phát triển mới trên cả 3 phương diện: Quy mô, chất lượng và
chăm sóc - giáo dục.
Bảng 1: Thống kê của Bộ GD -ĐT về GDMN năm học 2007-2008
8
Tổng số
Chia ra
Công lập Ngoài C.lập
1. Trường 11,571
5,651 5,920
- Mầm non
8,732 3,463 5,269
- Mẫu giáo 2,839 2,188 651
2. Lớp 101,575 48,716 52,859
3. Trẻ em
Tổng số 2,687,037 1,270,618 1,416,419
tạo, chưa được bồi dưỡng nghiệp vụ vẫn còn ở nhiều cơ sở GDMN. Hệ thống trường
tư thục phát triển quá mạnh tuy nhiên qua kiểm tra chỉ có 72% giáo viên đủ tiêu
chuẩn về sư phạm, trong khi đó có nhiều cơ sở GDMN tư thục chưa được cấp phép
nhưng lại không có sự quản lý chặt chẽ của các cấp, các ngành nên chất lượng của
những trường mầm non tư thực vẫn còn là một vấn đề nhức nhối. Đặc biệt gần đây
người dân thực sự bức xúc với hiện tượng GDMN tư thục bị thả nổi và nhiều hiện
tượng tiêu cực khác như: Cho trẻ uống thuốc tăng trọng, bạo hành trẻ thương tâm, cở
sở vật chất nhếch nhác, người giữ trẻ không được đào tạo. Từ những khuyết điểm
trên dẫn tới hậu quả là học sinh mầm non ở nhiều nơi vẫn chưa được quan tâm chăm
sóc toàn diện từ đó ảnh hưởng tới những tiền đề phát triển về cả thể chất và trí tuệ
cho trẻ.
1.2. Giáo dục tiểu học
1.2.1. Thành tựu
Giáo dục tiểu học trong nhiều năm qua cũng được sự quan tâm đặc biệt nên đã
đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận.
Năm 2001, Việt Nam đã đạt chuẩn quốc gia về xoá mù chữ và phổ cập tiểu
học. Phổ cập giáo dục tiểu học (GDTH) đã đạt thành tích đáng kể ở tất cả các vùng
miền trong cả nước. Việt Nam được đành giá là nước có tiến bộ nhanh hơn so với
phần lớn các nước có thu nhập thấp khác trên thế giới trong việc khắc phục những
10
chênh lệch về giới và về tỷ lệ nhập học đúng độ tuổi. Tỷ lệ học sinh nhập học đúng
độ tuổi đã tăng từ 90% trong thập niên 1990 lên gần 98% trong năm học 2004-
2005(mục tiêu quốc gia đề ra là 97% trong năm 2005). Nếu như năm học 1997-1998,
tỷ lệ học sinh hoàn thành bậc tiểu học đạt 68% thì đến năm học 2004-2005, tỷ lệ này
đã đạt từ 99%-100% ở các vung miền và tăng nhanh ở khu vực Tây Nguyên.
Bảng 2: Số liệu chung bậc tiểu học năm học 2007-2008
Số liệu chung bậc tiểu học năm học 2007-2008
Chỉ số
Tổng số
Chia ra
khoá hầu như không có, các môn giáo dục thể chất chỉ phụ hoạ cho có Đó là thực
trạng đã tồn tại lâu trên cả nước, và dù cho có tiêu chí giảm tải của Bộ GD đã được
đưa ra: "Trẻ em phải khoẻ mạnh; thứ hai là ngoan ngoãn, có lòng nhân ái, biết chia
sẻ; thứ ba là có kỹ năng sống, biết giao tiếp và sống an toàn (thực phẩm, giao thông,
cháy nổ và trước các tệ nạn xã hội), sau đó mới cần đứa trẻ thích đi học, thích học và
biết cách học"(theo phát biểu của ông Lê Tiến Thành, Vụ trưởng Vụ Giáo dục tiểu
học, Bộ GD - DDT), nhưng hầu như mục tiêu này vẫn chỉ là mục tiêu, sự quá tải vẫn
diễn ra hàng ngày.
Sự quá tải có thể kể đến: Quá tải học chữ; phớt lờ kỹ năng, ngoại khoá hầu hết
các trường đều rất thụ động, chỉ chú trọng vào việc học chữ, thi đưa thành tích và
dường như quên hẳn giáo dục kỹ năng sống cho học sinh; phụ huynh phải tự lo giáo
dục kỹ năng sống cho con cái.
Mặt khác, nhiều trường còn thiếu thốn cơ sở vật chất, khu học tập ngoại khoá,
chất lượng giáo viên chưa đạt chuẩn, chưa đồng bộ.
Từ những khuyết điểm trên dẫn tới mục tiêu hình thành nhân cách toàn diện,
hình thành con người chủ nghĩa xã hội bị ảnh hưởng.
1.3. Giáo dục phổ thông
1.3.1. Thành tựu
12
Giáo dục phổ thông (GDPT) là cơ sở của giáo dục đào tạo. Những thành tựu
của GDPT thể hiện sơ lược qua bảng sau:
Chúng ta nhận thấy: Hệ thống trường công lập chiếm phần lớn trong hệ thống
các trường PT, ngoài ra các trường công lập cũng phát triển khá mạnh mẽ. Chất
lượng giáo viên ngày càng được nâng cao, cơ sở vật chất của các trường cũng được
đầu tư, sửa chữa mua mới để đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh.
1.3.2. Khuyết điểm
- Đa số người dân và không ít người trong ngành giáo dục cho rằng chất lượng
GDPT của ta trong nhiều chục năm lại đây rất sút kém.
- Tỡnh trạng dạy thờm - học thờm tràn lan và tiờu cực vẫn tiếp tục phỏt triển mặc dự
Chớnh phủ đó cú chỉ thị cấm từ ngót chục năm nay.
vai trò của GDĐH, không chỉ đối với các nước tiên tiến mà còn đối với tất cả các
nước trên thế giới. Việt Nam là một quốc gia đang phát triển nhận thức được tầm
quan trọng của GDĐH nên trong nhiều năm qua Đảng và nhà nước ta rất quan tâm
tới GDĐH. Nhờ vậy nhiều thành tựu của ngành GDĐH đáng được ghi nhận.
Từ năm học 2002-2003, việc tổ chức thi đại học đã được tổ chức khá khoa học
trên quy mô cả nước. Các thí sinh dự thi trên cả nước làm cùng đề, cùng biểu điểm
chấm, hạn chế được nhiều tiêu cực trong thi cử. Đó là những thành tựu trong tuyển
sinh đại học và cao đẳng. Để nâng cao chất lượng đào tạo hầu như các trường đại
học trong cả nước đã đầu tư trang bị thêm nhiều phương tiện học tập, nghiên cứu cho
cả giảng viên và sinh viên; chất lượng đội ngũ giảng viên ngày càng được nâng cao
tỷ lệ giảng viên là giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ tăng. Hệ thống trường đại học công
lập chiếm phần lớn trong tổng số các trường đại học (75% năm học 2007 -2008) theo
đúng định hướng chủ nghĩa xã hội. Để thấy được những thành tựu của GDĐH rõ
ràng hơn chúng ta hãy xem bảng thống kê dưới đây:
Số liệu thống kê Đại học và Cao đẳng năm học 2007 - 2008
1. Tổng số trường
Tổng số
Chia ra
Cao
đẳng Đại học
369 209 160
Chia ra:
Công lập 305 185 120
Ngoài công lập 64 24 40
Tỷ lệ % ngoài công lập 17.34 11.48 25.00
2. Quy mô học sinh 1,603,484 422,937 1,180,547
Chia ra:
Công lập 1,414,646 377,531 1,037,115
Ngoài công lập 188,838 45,406 143,432
thiếu liên kết nghiêm trọng giữa giảng dạy và nhu cầu của thị trường. Với hơn 25%
chương trỡnh học ở đại học là dành cho các môn bắt buộc quá nặng về tuyên truyền
15
chính trị, không phải băn khoăn nhiều về việc sinh viên Việt Nam được trang bị rất
kém cho cả việc đi làm lẫn việc đi du học.
Cú thể lấy việc Intel tỡm cỏch thuờ tuyển kỹ sư cho cơ sở sản xuất của họ ở
thành phố HCM làm ví dụ minh hoạ. Khi công ty này thực hiện một cuộc kiểm tra
đánh giá theo tiêu chuẩn với 2.000 sinh viên CNTT Việt Nam, chỉ có 90 ứng cử
viên, nghĩa là 5%, vượt qua cuộc kiểm tra, và trong nhóm này, chỉ có 40 người có đủ
trỡnh độ tiếng Anh đạt yêu cầu tuyển dụng. Intel xác nhận rằng đây là kết quả tệ nhất
mà họ từng gặp ở những nước mà họ đầu tư.
Các nhà đầu tư Việt Nam và quốc tế cũng cho rằng việc thiếu các công nhân
và quản lý có kỹ năng là cản trở lớn nhất đối với việc mở rộng sản xuất. Chất lượng
nghèo nàn của giáo dục đại học cũn cú một ngụ ý khỏc: đối lập với những người
cùng thế hệ ở Ấn Độ và Trung Quốc, người Việt Nam thường không thể cạnh tranh
được để lọt qua những khe cửa hẹp của các chương trỡnh đại học cao cấp ở Mỹ và
châu Âu.
Chỉ số sỏng tạo
Quốc gia Số bằng sáng chế được cấp năm 2006
Hàn Quốc 102.633
Trung Quốc 26.292
Singapore 995
Thailand 158
Malaysia 147
Philippines 76
Việt Nam 0
“Phần lớn các trường ĐH VN ở trong tỡnh trạng khộp kớn, khộp kớn giữa cỏc
trường ĐH với nhau và khép kín giữa trường ĐH với thực tiễn cuộc sống” - đó là
đánh giá của một “người trong cuộc”, TS Đỗ Huy Quang (ĐH Sư phạm Hà Nội).
Nhiều trường chỉ tiêu đào tạo không chính qui cao hơn cả hệ chính qui, trong
độ công nghệ trong một số nghành sản xuất, dịch vụ đã được nâng lên đáng kể,
nhiều sản phẩm và hàng hoá có sức cạnh tranh cao hơn.
Các chương trình nghiên cứu trọng điểm về công nghệ thông tin, công nghệ
sinh học, công nghệ vật liệu tự động hoá, công nghệ cơ khí chế tạo máy, đã góp phần
17
nâng cao năng lực nội sinh trong một số lĩnh vực công nghệ tiên tiến, nâng cao năng
xuất chất lượng hiệu quả của nhiều nghành kinh tế.
Khoa học và công nghệ trong những năm qua đã góp phần đào tạo và nâng
cao trình độ nhân lực chăm sóc sức khoẻ nhân dân, bảo vệ môi trường, gìn giữ và
phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc.
2.1.3. Cơ chế quản lí khoa học và công nghệ từng bước được đổi mới
Hệ thống quản lí nhà nước về khoa học và công nghệ được tổ chức từ trung
ương đến địa phương đã đẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ, góp phần thực
hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của nghành và địa phương.
Thực hiện luật khoa học công nghệ, các chương trình, đề tài, dự án khoa học
và công nghệ đã bám sát hơn nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội. Cơ chế tuyển chọn
tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã bước đầu được thực
hiện theo nguyên tắc dân chủ công khai.
Hoạt đông của các tổ chức khoa học và công nghệ đã mở rộng từ nghiên cứu
phát triển đến sản xuất và dịch vụ khoa học công nghệ. Quyền tự chủ và hợpp tác
quốc tế của các tổ chức, cá nhân được mở rộng.
2.1.4. Trình độ nhận thức và ứng dụng khoa học công nghệ của nhân dân ngày
một nâng cao
Nhờ sự quan tâm của các tổ chức Đảng, chính quyền các cấp, hoạt động tích
cực của các tổ chức khoa học công nghệ, các tổ chức khuyến nông, lâm, ngư và công
tác phổ biến, tuyên truyền rộng rãi về tác động của khoa học công nghệ đến sản xuất
và đời sống, nhận thức và khả năng tiếp thu, ứng dụng tri thức khoa học công nghệ
của người dân trong thời gian qua đã tăng lên rõ rệt. Hoạt động khoa học công nghệ
đang được xã hội hoá trên phạm vi cả nước.
2.2. Những tồn tại và yếu kém trong sự phát triển khoa học và công nghệ
Bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận, GD - ĐT nước ta còn bộc lộ nhiều
hạn chế, bất cập: bất cập cả về quy mô, cơ cấu và nhất là chất lượng, hiệu quả chưa
đáp ứng kịp thời với những đòi hỏi lớn và ngày càng cao về nguồn nhân lực của
công cuộc đổi mới KT- XH.
Song, để việc thực hiện quan điểm “Phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu
phát triển kinh tế xã hội, tiến bộ khoa học công nghệ, củng cố quốc phòng an ninh”
đạt hiệu quả cao còn là vấn đề nan giải, cần phải suy nghĩ. Đây không chỉ là vấn đề
riêng của ngành GD mà còn là vấn đề chung mà trách nhiệm thuộc về toàn xã hội.
2. Kiến nghị
Hiện nay, cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển ngày càng nhanh,
kinh tế tri thức có vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình phát triển lực lượng
sản xuất.
Trong bối cảnh đó, GD đã trở thành nhân tố quyết định đối với sự phát triển
kinh tế xã hội Vì thế, các nước trên thế giới, kể cả những nước đang phát triển đều
coi GD là nhân tố hàng đầu quyết định sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi
quốc gia.
Do vậy, toàn Đảng, toàn dân ta đang ra sức chăm lo cho sự nghiệp giáo dục,
ươm những mầm giống tốt để xây dựng đất nước.Trước tình hình đó, chúng tôi xin
đề nghị:
- Quan điểm “Phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế xã
hội, tiến bộ khoa học công nghệ, củng cố quốc phòng an ninh” phải được quán triệt
đúng mức ở các cấp quản lý và chỉ đạo GD, phải được cụ thể hóa để hiểu một cách
đầy đủ và triển khai một cách thực sự có hiệu quả ở mọi lĩnh vực.
- Tăng cường ngân sách nhà nước cho GD, coi đầu tư cho GD và ĐT là hướng
chính của đầu tư cho sự phát triển, có chính sách ưu tiên, ưu đãi cho GD.
- Xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển giáo dục.
20
- Huy động sự đóng góp của toàn xã hội và phát triển tiềm lực sẵn có của
nghành GD
- Công tác tuyên truyền GD trong nhân dân để có sự đồng thuận xã hội rộng