1
LỜI NÓI ĐẦU
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nhờ sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ, truyền thông băng
thông rộng đang ngày càng trở thành nhu cầu thiết yếu mang lại nhiều lợi ích cho
người sử dụng. Bên cạnh việc cung cấp các dịch vụ như truy cập Internet, các trò
chơi tương tác, hội nghị truyền hình,… thì truyền thông băng thông rộng di động
cũng đang được ứng dụng rộng rãi, cung cấp các kết nối tin cậy cho người sử
dụng ngay cả khi di chuyển qua một phạm vi rộng lớn. Trong đó, truy cập
băng rộng không dây là một lĩnh vực mang lại sự quan tâm đáng kể của các tổ
chức nghiên cứu cũng như các nhà cung cấp thiết bị, các nhà khai thác mạng.
Ngày nay thế giới đang hướng tới tương tác toàn cầu trong truyền thông băng
rộng không dây, điều này không chỉ mang lại sự hội tụ về truyền thông toàn
cầu mà còn mang lại nhiều lợi nhuận về mặt kinh tế, giúp cho việc phát triển
khoa học, công nghệ, chính trị, văn hoá,… giữa các nước trên toàn thế giới.
Trong bối cảnh đó, WiMAX ra đời nhằm cung cấp một phương tiện truy
cập Internet không dây tổng hợp có thể thay thế ADSL và Wi-Fi. Hệ thống
WiMAX có khả năng cung cấp đường truyền vô tuyến với tốc độ lên đến
70Mbps và với bán kính phủ sóng lên đến 50km.
Tuy diễn đàn WiMAX đã đưa ra các thông số kỹ thuật của lớp PHY và lớp
MAC cho phần lớn các chuẩn nhưng trong một số chuẩn các thông số chung
vẫn chưa được đề cập. Điều này dẫn đến sự khác biệt trong việc sử dụng các kỹ
thuật trong WiMAX giữa các nhà cung cấp thiết bị, chẳng hạn như kỹ thuật lập
lịch cho WiMAX. Để bảo đảm chất lượng truyền dẫn thông tin cho các lưu lượng
khác nhau, các nhà cung cấp thiết bị cần điều chỉnh các thông số theo tiêu chuẩn
IEEE 802.16 cho các ứng dụng đa phương tiện có băng thông rộng, chẳng hạn
tốc độ dữ liệu rất cao như là VoIP, Video, luồng âm thanh và cũng như các ứng
dụng tốc độ dữ liệu thấp như là lướt Web. Trong một số ứng dụng truyền thông
thời gian thực, độ trễ tín hiệu là một trong các thông số quan trọng. Ví dụ như
theo nhóm tiêu chuẩn IEEE 802.16, độ trễ cho phép của VoIP là 120 ms, khi độ
trễ vượt quá 150 ms thì chất lượng thoại sẽ bị giảm sút nghiêm trọng và khi
đưa ra khảo sát đó là thuật toán PF và thuật toán WFQ kết hợp với điều khiển tốc độ
luồng bằng Leaky Bucket. Các phân tích đánh giá trong chương này, đều dựa trên
kết quả mô phỏng thu được từ module WiMAX.
3
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ MẠNG TRUY NHẬP BĂNG RỘNG-WiMAX
1.1 Mạng Truy Nhập băng rộng
Định nghĩa mạng truy nhập:Theo các khuyến nghị của ITU-T(Liên minh viễn
thông quốc tế phát triển các tiêu chuẩn quốc tế),mạng truy nhập là một chuỗi các
thực thể truyền dẫn giữa SNI (Service Node Interface– Giao diện nút dịch vụ) và
UNI (User Network Interface – Giao diện người sử dụng - mạng). Mạng truy nhập
chịu trách nhiệm truyền tải các dịch vụ viễn thông. Giao diện điều khiển và quản lý
mạng là Q.
Hình 1.1 Kết nối mạng truy nhập với các thực thể mạng
1.2 Tổng quan về WiMAX
WiMAX là từ viết tắt của Worldwide Interoperability for Microwave Access
có nghĩa là khả năng tương tác toàn cầu với truy nhập vi ba. Với WiMAX cố định có
tốc độ tương đương với ADSL, trong khi không cần dùng dây dẫn đến các thuê bao.
Người sử dụng các thiết bị đầu cuối chỉ cần mua một thiết bị Indoor WiMAX (kích
thước bằng một modem ADSL) là có thể dùng được Internet tốc độ cao. WiMAX di
động có tố độ lớn hơn WiFi nhưng phạm vi phủ sóng lớn hơn rất nhiều so với Wifi.
Công nghệ WiMAX, là công nghệ không dây băng thông rộng đang phát triển rất
nhanh với khả năng triển khai trên phạm vi rộng và được coi là có tiềm năng to lớn
để trở thành giải pháp “dặm cuối” lý tưởng nhằm mang lại khả năng kết nối Internet
tốc độ cao tới các gia đình và công sở.
1.2.1 Diễn đàn WiMAX
1.2.2 Các đặc điểm của WiMAX
1.2.3 Chuẩn IEEE 802.16
1.2.1 Diễn đàn WiMAX
1.2.2 Các đặc điểm của WiMAX
<=70 MHz
Kênh 20 MHz
15 Mbps (max
75 Mbps)
Kênh 5 MHz
Điều chế
QPSK,
16QAM,
64QAM
OFDM 256
sóng mang
con QPSK ,
16QAM ,
64QAM
OFDM 256 sóng
mang con, BPSK
QPSK ,16QAM ,
64QAM
OFDM
512/1024/2048
BPSK,QPSK ,
16QAM ,
64QAM
Tính di dộng Cố định Cố định Cố định Di động
Băng thông
(MHz)
20, 25 ,28 1.5 tới 20 1.25 tới 20 1.5 tới 20
Bán kính
cell
2 – 7 km 7-10 km max
được cung cấp bởi MAC CPS. Lớp này thực hiện các chức năng sau:
- Nhận các đơn vị dữ liệu giao thức (PDU) từ lớp cao hơn.
- Thực hiện phân loại các PDU lớp cao hơn.
- Xử lí (nếu cần) các PDU lớp cao hơn trên cơ sở phân loại.
- Phát các CS PDU đến các MAC SAP thích hợp.
- Nhận CS PDU từ thực thể cùng cấp.
2.2.2 Lớp con phần chung (MAC CPS- common part sublayer)
Phần lõi của lớp MAC IEEE 802.16 là MAC CPS, có nhiệm vụ là :
- Định nghĩa tất cả các quản lý kết nối.
- Phân phối băng thông, yêu cầu và cấp phát, thủ tục truy nhập hệ thống.
- Lập lịch đường lên, điều khiển kết nối và ARQ.
6
- Truyền thông giữa CS và CPS được các điểm truy nhập dịch vụ MAC
(MAC SAP) duy trì. Thiết lập, thay đổi, xóa kết nối và truyền tải dữ liệu
trên các kênh là bốn chức năng cơ bản trong quá trình truyền thông tại lớp
này.
2.2.3 Lớp MAC_PS
Hai chức năng chính:
- Bảo mật qua các không gian truyền dẫn.
- Bảo vệ khỏi các đánh cắp dịch vụ.
2.2.4 Đặc điểm lớp MAC của WiMAX
2.2.5 Lớp vật lý (PHY, physical layer)
2.2.6 Các kỹ thuật truyền thông số trên lớp PHY
2.3 Cấu hình mạng
2.3.1 Cấu hình điểm-đa điểm PMP
2.3.2 Cấu hình mắt lưới MESH
2.4 Kiến trúc mạng WIMAX
2.4.1 Quá trình vào mạng
2.4.2 Một số nguyên lí cơ bản trong triển khai mạng WiMAX
2.4.3 Các dịch vụ và các ứng dụng được hỗ trợ trong WiMAX.
thiết bị) là chính nó như khai báo ban đầu. Ngược lại một người sử dụng hoặc một
thiết bị cũng có thể kiểm tra việc chứng thực của mạng mà nó kết nối tới. Hai quá
trình trên kết hợp với nhau cho ta một sự chứng thực tương trợ lẫn nhau.
- Sự cho phép: Có một cơ chế để có thể xác nhận rằng một người sử dụng bất
kỳ có được cho phép để nhận một dịch vụ nào đó hay không.
3.2 Quản lý tài nguyên vô tuyến
3.2.1 Tổng quan quản lý tài nguyên vô tuyến mạng không dây
Tài nguyên vô tuyến là bề rộng phổ cho phép để truyền tin. Vấn đề của quản lý
tài nguyên vô tuyến là làm sao với một dải băng tần cố định cho trước hệ thống
hoạt động với chất lượng tốt nhất và với tốc độ truyền số liệu cao nhất. Với chất
lượng càng cao và tốc độ truyền số liệu cao, người ta nói hệ thống có hiệu suất sử
dụng phổ tín hiệu cao. Quản lý tài nguyên vô tuyến (RRM - Radio Resource
Management) là một trong những vấn đề thách thức nhất và quan trọng nhất của các
mạng thông tin vô tuyến hiện đại. Một chiến lược quản lý tài nguyên vô tuyến hiệu quả
và thông minh có thể cải thiện đáng kể hiệu năng của hệ thống.
3.2.2 Mục đích của quản lý tài nguyên vô tuyến trong các mạng không dây
Trong các mạng không dây hiện đại, đặc biệt là các mạng không dây băng
rộng thì băng thông, tần số, khe thời gian, cũng như công suất hoạt động của hệ
thống đều là những tài nguyên hữu hạn rất quan trọng và quý giá và nhiệm vụ
của các nhà phát triển là phân phối, quản lý, tối ưu hóa các tài nguyên này để
đạt được hiệu quả sử dụng cao nhất, ít tốn kém nhất và hạn chế tối đa các nhiễu có
trong hệ thống để đảm bảo chất lượng dịch vụ cũng như tiết kiệm công suất
truyền cho hệ thống .
Ngoài ra các vấn đề về nhiễu trong hệ thống và giữa các hệ thống khác nhau
cũng là một vấn đề lớn cần xem xét. Khi trong hệ thống tồn tại nhiễu thì sẽ làm
giảm đáng kể hiệu năng hoạt động vì thế các bài toán cấp phát tài nguyên cũng
phải quan tâm đặc biệt với các vấn đề chống nhiễu như chống nhiễu trong kênh,
nhiễu xuyên kênh, nhiễu đồng kênh, nhiễu đa truy cập để đảm bảo chất lượng
hoạt động của hệ thống.
8
máy tính để phân tích hoạt động của mạng trước. Hơn nữa, nếu không đạt đến
một trạng thái hội tụ ổn định, thì nhiều băng thông của hệ thống sẽ bị mất bởi sự
quá tải của các bản tin báo hiệu về sự thay đổi diễn ra trong quản lý và cấp phát
tài nguyên.
3.2.4 Quản lí tài nguyên vô tuyến trong mạng IEEE 802.16
Vấn đề quản lý tài nguyên vô tuyến sẽ tạo nên sự cạnh tranh lành mạnh
giữa các nhà phát triển dịch vụ WiMAX, nhà cung cấp nào quản lý tài nguyên vô
tuyến tốt hơn, đảm bảo chất lượng dịch vụ tốt hơn thì nhà cung cấp đó sẽ chiếm
ưu thế trên thị trường. Đứng về phương diện người dùng cá nhân trong
WiMAX, RRM phải đảm bảo tối thiểu công suất phát của thiết bị người dùng
(trong mối quan hệ ràng buộc của tốc độ và công suất truyền) đồng thời phải hạn
chế tối đa hiện tượng nhiễu đồng kênh CCI giữa người dùng thuộc những cell khác
nhau bằng cách chọn cấp phát hợp lý các kênh con cho những người dùng nằm
9
trong vùng nhiễu (vùng xen phủ) giữa hai cell.
Đứng về phương diện các loại hình dịch vụ. Do trong WiMAX định nghĩa ra 5
loại hình dịch vụ gồm có: Unsolicited grant service (UGS), Real- time polling service
(rtPS), Non-real-time polling service (nrtPS), Best effort service (BE), Extended real-
time variable rate (ERT-VR) service nên phải đảm bảo cấp phát tài nguyên cân đối
theo thứ tự ưu tiên cho các loại hình dịch vụ, cho các kết nối hiện thời và các kết nối
mới để đảm bảo được các tham số QoS của hệ thống. Công việc quản lý tài nguyên
vô tuyến như vậy được thực hiện bằng các thuật toán scheduling sẽ được khảo sát kỹ
ở các chương sau của bản luận văn tốt nghiệp này.
Đứng về phía hệ thống WiMAX/OFDMA, phải tối thiểu tổng công suất
truyền của hệ thống, tối đa thông lượng, vùng phủ và dung lượng, tối thiểu chi phí
và độ phức tạp của hệ thống.
3.3 Kiến trúc chất lượng dịch vụ
Để có được sự hỗ trợ QoS hiệu quả đến người sử dụng, nhà phân phối thiết
bị WiMAX cần phải thiết kế và thực thi thiết lập các thành phần giao thức theo
những tiêu chuẩn. Nó bao gồm chính sách lưu lượng, shaping lưu lượng, điều khiển
unaware scheduler) và các bộ lập lịch có quan tâm đến kênh truyền (channel-aware
scheduler) như trong hình 3.5.
Hình 3.5 Phân loại các bộ lập lịch WiMAX.
11
3.4 Một số kỹ thuật lập lịch cơ bản
3.4.1 Các thuật toán lập lịch đơn nhất
3.4.1.1 Round Robin (RR)
Kỹ thuật này phù hợp nếu các thuê bao có cùng lưu lượng và các đặc điểm
vô tuyến. Thực tế thì dựa vào các đặc điểm vô tuyến, sẽ xác định phương pháp điều
chế và mã hoá MCS (Modulation and Coding Scheme) được sử dụng. Vì thế nếu tất
cả các thuê bao có cùng MCS và có cùng lưu lượng, thì chúng cần lượng tài nguyên
giống nhau và khi đó, bộ lập lịch RR có thể phù hợp trong các điều kiện đó. Tuy
nhiên các điều kiện đó thường không áp dụng trong ngữ cảnh WiMAX.
Hình 3.6 Bộ lập lịch Round Robin.
3.4.1.2 Weighted Round Robin (WRR)
Bởi vì RR không thể đảm bảo QoS cho các lớp dịch vụ khác nhau, RR kết
hợp với trọng lượng, Weighted Round Robin (WRR) [6], được áp dụng cho việc lập
lịch trong WiMAX. Các trọng lượng có thể được sử dụng để điều chỉnh theo các
yêu cầu về thông lượng và trễ. Về cơ bản, các giá trị trọng lượng tuân theo luật của
độ dài hàng đợi, trễ gói hay số lượng slot cần. Các trọng lượng thay đổi động theo
thời gian.
Chu kỳ reset
bộ đếm
Bộ lập WRR
Hình 3.7 Weighted Round Robin scheduler
12
3.4.1.3 Deficit Round Robin (DRR)
Bộ lập lịch Deficit Round Robin [10] kết hợp một hạn ngạch cố định Q
i
(quantum) và một bộ đếm dư thừa DC
xác định các luồng. Về cơ bản, mỗi kết nối có một hàng đợi FIFO riêng của nó, và
giá trị trọng lượng được gán động cho cho mỗi hàng đợi. Các tài nguyên được chia
sẻ theo tỉ lệ của trọng lượng như thuật toán WRR. Với sự thay đổi động của trọng
lượng, WFQ có thể đảm bảo tốc độ dữ liệu, trễ. Nhược điểm chính của WFQ là sự
phức tạp của nó.
Hình 3.10 Weighted Fair Queuing (WFQ)
3.4.2 Các thuật toán lai (HYBRID)
Hai thuật toán lai (kết hợp) sau đây sử dụng những cơ chế khác nhau cho
việc cấp phát băng thông cho những luồng dịch vụ khác nhau trong WiMAX.
Thuật toán lai (EDF+WFQ+FIFO) sử dụng một cơ chế ưu tiên chặt chẽ cho cấp
phát băng thông giữa các lớp, trong khi thuật toán lai (EDF+WFQ) cấp phát băng
thông cho các luồng dịch vụ dựa trên số lượng SS và tốc độ dành riêng tối thiểu
(MRTR) của SS trong mỗi lớp dịch vụ.
13
3.4.2.1 EDF + WFQ + FIFO
Hình 3.11 Cấu trúc cấp phát băng thông của thuật toán lai EDF+WFQ+FIFO
3.4.2.2 EDF + WFQ
K Vinay et al. đề xuất một thuật toán lai sử dụng thuật toán lập lịch EDF
cho các SS thuộc các lớp dịch vụ ertPS và rtPS và thuật toán WFQ cho các MS
thuộc các lớp dịch vụ nrtPS và BE. Cũng giống như thuật toán lai
(EDF+WFQ+FIFO) đã nói tới ở mục trên, công việc phân phối tổng băng thông
cho các lớp luồng dịch vụ được thực hiện lúc khởi đầu mỗi frame còn các thuật
toán EDF, WFQ được thực hiện tại thời điểm đến của mỗi gói tin. Tổng băng
thông được phân phối cho các MS thuộc các lớp luồng dịch vụ khác nhau.
TỔNG KẾT VÀ ĐÁNH GIÁ SƠ LƯỢC CÁC THUẬT TOÁN
Trong chương vừa rồi luận văn đã trình bày về bộ lập lịch và một số thuật
toán lập lịch cơ bản trong WiMAX. Tóm lại chúng ta đã biết được mục đích của
việc lập lịch là nhằm cung cấp đảm bảo các yêu cầu về QoS trong khi vẫn có
khả năng tận dụng một cách hiệu quả băng thông, nói cách khác lập lịch chính là
một kỹ thuật giúp quản lý tài nguyên vô tuyến (Radio Resource Management). Các
yêu cầu QoS khác nhau nên sử
dụng thuật toán này là không phù
hợp.
Không có
2
Weighted
Round Robin
(WRR)
[7]
Có Cấp phát băng thông tương đối
công bằng cho các SS, có thể sử
dụng để lập lịch cho cả đường
downlink và uplink.
Không đảm bảo giới hạn độ trễ,
không hoạt động tốt khi độ dài gói
thay đổi liên tục nếu không cung
cấp cho bộ lập lịch độ dài gói và
chiều dài hàng đợi, tuy nhiên làm
như vậy lại dẫn tới tăng độ phức
tạp triển khai.
Các giá trị
trọng số
(weight)
3
Deficit Round
Robin
(DRR) [7]
Có
Đơn giản khi triển khai, cấp
phát băng thông tương đối công
bằng theo trọngsố.
Độ phức tạp triển khai cao.
6
Hybrib(EDF+
WFQ+FIFO)
[8]
Cho độ trễ trung bình của
các luồng thời gian thực thấp.
Độ phức tạp triển khai cao.
7
Hybrib(EDF+
WFQ)
Cho độ trễ trung bình của các
luồng thời gian thực thấp. Phân
phối băng thông công bằng hơn
thuật toán EDF+WFQ+FIFO
Độ phức tạp triển khai cao.
15
CHƯƠNG 4: ĐÁNH GIÁ MÔ PHỎNG MỘT SỐ
KỸ THUẬT LẬP LỊCH TRONG WIMAX
4.1 Môi trường mô phỏng
Môi trường thực hiện mô phỏng ở đây là NS-2 (Network Simulator) được
cài đặt trên hệ điều hành Linux. NS-2 là một công cụ mã nguồn mở cho phép mô
phỏng mạng chuyển mạch gói, hỗ trợ mô phỏng các giao thức như TCP, UDP, các
giao thức định tuyến, giao thức lớp MAC trên môi trường mạng vô tuyến và hữu
tuyến…Tuy nhiên bản thân NS-2 không hỗ trợ mô phỏng các thành phần của
chuẩn 802.16, để có thể thực hiện phần mô phỏng WiMAX, luận văn sử dụng
module hỗ trợ WiMAX của học viện NIST (National Institute of Standards and
Technology) đã được cấu hình thêm hai bộ lập lịch là PF và WFQ kết hợp Leaky
Bucket.
thông lượng của các luồng khi sử dụng thuật toán WFQ là lớn hơn tổng thông lượng
khi sử dụng thuật toán PF và ở thuật toán WFQ thông lượng các luồng phân bố gần
với mức thông lượng giới hạn hơn là ở thuật toán PF.
Qua những đánh giá trên có thể thấy rõ thuật toán PF chỉ đảm bảo phân bố
công bằng thông lượng cho các luồng nhưng tính ổn định của giá trị thông lượng
không cao so với khi sử dụng thuật toán WFQ.
17
Hình 4.11 Thông lượng của các luồng dịch vụ với bộ lập lịch WFQ trong kịch bản di
động
Hình 4.12 Thông lượng của các luồng dịch vụ với bộ lập lịch PF trong kịch bản di
động
2. Độ trễ hàng đợi
18
Để khảo sát độ trễ hàng đợi ở hai bộ lập lịch ta tiến hành lấy các giá trị trễ
hàng đợi của từng gói tin (với dịch vụ thời gian thực rtPS) được gửi đi ở BS và tiến
hành vẽ đồ thị phân bố trễ sử dụng các hàm phân bố trễ xác suất.
Nhìn vào đồ thị hàm phân bố xác suất (hình 4.13) ta có thể thấy trừ PF là thuật
toán có độ trễ hàng đợi cao hơn nhiều so với WFQ, như vậy kết quả này hoàn toàn
phù hợp với lý thuyết về các bộ lập lịch phân tích ở trên.
Hình 4.13 Đồ thị xác suất trễ với bộ lập lịch WFQ và PF trong kịch bản di động
4.4.2 Kịch bản cố định
Các kết quả thu được của phần mô phỏng với kịch bản cố định cũng sát và hợp
lý với phân tích về lý thuyết như kết quả của kịch bản di động đó phân tích ở trên
nên ở phần này học viên chỉ đưa ra các đồ thị để so sánh và đối chiếu kết quả.
19
1. Thông lượng
Hình 4.14 Thông lượng của các luồng dịch vụ với bộ lập lịch WFQ trong kịch
bản cố định
Hình 4.15 Thông lượng của các luồng dịch vụ với bộ lập lịch PF
trong kịch bản cố định
bằng theo trọng số Weighted Fair Queueing (WFQ) với thuật toán giới hạn tốc độ
luồng Leaky Bucket. Để làm rõ những ưu nhược điểm mà thuật toán này mang lại,
học viên thực hiện tìm hiểu thuật toán đề xuất và so sánh, đánh giá hiệu năng cùng
với thuật toán lập lịch phổ biến Proportional Fair (PF). Kết quả mô phỏng khá sát
với mong đợi về lý thuyết, thuật toán PF chỉ cho phép phân phối đều băng thông cho
các luồng dịch vụ theo các hằng số trễ cho trước chứ không tối đa tổng thông lượng
của hệ thống . Mặt khác thuật toán PF cũng không có một đường bao trễ hàng đợi,
do đó ta không thể kiểm soát được độ trễ hàng đợi của hệ thống tại những thời điểm
khác nhau, do đó không đảm bảo hỗ trợ yêu cầu chất lượng dịch vụ QoS. Đối với
thuật toán WFQ thì tổng thông lượng thu được của toàn hệ thống là cao hơn PF và
gần với mức mong muốn như đó xác định trước trong các tham số mô phỏng. Với
thuật toán WFQ việc cấp phát băng thông cho các luồng dịch vụ khác nhau trở nên
ổn định hơn, băng thông được cấp phát đều hơn các trọng số f
i
cho trước. Môt ưu
điểm quan trọng nhất của thuật toán WFQ khi sử dụng phối hợp với ràng buộc về
Leaky Bucket là đó giới hạn được trễ hàng đợi, giá trị trễ giới hạn Dmax hoàn toàn
có thể tính toán trước được bằng các thay đổi các tham số của Leaky Bucket như
Bm,i và Ri , do đó ta có thể kiểm soát được trễ hàng đợi trong hệ thống , từ đó có
22
thể quản lý được các yêu cầu chất lượng dịch vụ QoS. Tuy thuật toán WFQ kết hợp
Leaky Bucket khá mạnh mẽ xét trên khía cạnh về cung cấp thông lượng cho hệ
thống và đảm bảo trễ hệ thống , nhưng một nhược điểm dễ thấy của thuật toán này là
phức tạp dẫn đến tốn tài nguyên hệ thống . Tuy nhiên với sức mạnh của các bộ vi xử
lý với công nghệ của thời đại ngày nay, sẽ là hoàn toàn khả thi để áp dụng triển khai
thuật toán đề xuất này vào thực tế.
Cũng khá nhiều việc phải làm để chứng minh tính hiệu quả của thuật toán đề
xuất này trong thực tế nhưng hướng phát triển trước mắt của luận văn sẽ là thử
nghiệm và đánh giá sự kết hợp của một số thuật toán xấp xỉ khác của GPS nhưng dễ
thực hiện hơn WFQ với bộ điều khiển tốc độ Leaky Bucket. Sau khi đó có những