1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP
NGUYỄN DUY TRƯỜNG
TỔN THẤT ĐIỆN NĂNG PHI KỸ THUẬT
TRONG HỆ THỐNG ĐIỆN
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Chuyên ngành : Thiết bị, mạng & Nhà máy điện
Mã số : 60.52.50
THÁI NGUYÊN - 2012
Luận văn được hoàn thành tại trường Đại học Kỹ tuật Công
nghiệp Thái Nguyên.
Cán bộ HDKH : PGS.TS. Đặng Quốc Thống
Phản biện 1 : TS. Nguyễn Đăng Toản
Phản biện 2 : TS. Ngô Đức Minh
Luận văn đã được bảo vệ trước hội đồng chấm luận văn, họp tại: Phòng cao học
số 02, trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên.
Vào 13 giờ 30 phút ngày 25 tháng 07 năm 2012.
Có thể tìm hiển luận văn tại Trung tâm Học liệu tại Đại học
Thái Nguyên và Thư viện trường Đại học Kỹ thuật công nghiệp Thái Nguyên.
2
PHẦN MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết tổn thất điện năng chung bao gồm tổn thất điện năng
kỹ thuật và tổn thất điện năng phi kỹ thuật (Non-Technical Losses - NTL). Thông
thường các Công ty Điện lực chỉ cho chúng ta biết con số tổn thất điện năng
chung mà không chỉ rõ tỷ lệ tổn thất điện năng của từng loại tổn thất, có thể vì
nhiều yếu tố như: Điều kiện để tiến hành đo đạc không cho phép, thiết bị đo chưa
đủ hiện đại để phát hiện, công tác quản lý chưa tốt…Những yếu tố này ảnh hưởng
không nhỏ đến chỉ tiêu kinh doanh, một trong những chỉ tiêu quan trọng của
ngành điện và đến một thời điểm nào đó các Công ty Điện lực cần phải tiến hành
công suất trên đường dây và các thiết bị điện trong hệ thống điện, bên cạnh đó thì
NTL lại là tổn thất điện năng do gian lận điện, do sai số của các thiết bị đo đếm
điện năng hoặc do lỗi quản lý hệ thống đo đếm điện năng. Ngoài ra, người đóng
vai trò là quản lý cũng là một trong những nguyên nhân gây lên NTL.
Để nghiên cứu về NTL, vốn là một phần của tổn thất chung trong các Hệ
thống điện, bước tất yếu đầu tiên là cần hiểu được bức tranh tổng thể về các loại
tổn thất trong các hệ thống điện.
Tổn thất kỹ thuật là những tổn hao xảy ra do những đặc trưng vật lý của Hệ
thống điện (gây ra bởi những hoạt động bên trong Hệ thống điện) và chủ yếu là do
sự tiêu tán năng lượng trên các phần tử của Hệ thống điện như đường dây, máy
biến áp, các hệ thống đo lường…có thể tính toán và kiểm soát những tổn hao này
khi biết trước thông số của tải tiêu thụ.
Bên cạnh đó, NTL là kết quả của những hành động cố ý bên ngoài tác động
vào Hệ thống điện, hoặc có thể gây ra bởi những tải hay các thông số không được
đưa vào để tính toán tổn thất kỹ thuật. Việc tính toán NTL sẽ khó khăn hơn tổn
thất kỹ thuật bởi tổn hao này thường không xác định được khi vận hành Hệ thống
và do đó thông tin không được lưu lại. Những nguyên nhân chính gây lên NTL là:
• Gian lận điện năng bằng nhiều hình thức khác nhau.
• Hóa đơn điện không được thanh toán tiền bởi người sử dụng.
• Sai sót trong việc tính toán những tổn hao thuộc về kỹ thuật.
• Sai sót trong kế toán và lưu giữ số liệu khiến các thông tin về kỹ thuật bị
thay đổi.
Gian lận điện năng là nguyên nhân nổi bật nhất của NTL. Tuy nhiên, ba
nguyên nhân còn lại của NTL được nhắc đến ở trên không được phân tích trong
luận văn này, vì thế vai trò của chúng chưa được biết đến. Các hình thức gian lận
điện năng cụ thể sẽ được đề cập ở Chương 2.
1.2 TỔN THẤT ĐIỆN NĂNG TRONG HỆ THỐNG ĐIỆN
1[]
/>4
Tổn thất của một Hệ thống điện bất kỳ bao gồm 2 thành phần: Tổn thất kỹ
Tổn thất công suất tác dụng gây ra tổn thất điện năng trên điện trở R của
lưới điện, đó là tích phân của tổn thất công suất theo thời gian vận hành:
∫
∆=∆
t
dttPA
0
)(
(kWh) (1-15)
Với 0 và t là thời điểm bắt đầu và kết thúc của khoảng thời gian tính toán
∆A. Do đó, ta cần thông tin tương đối chính xác về ∆P(t)
để có thể tính được tổn
thất điện năng ∆A.
1.5.1 Xác định tổn thất điện năng với sự trợ giúp của các thiết bị đo
1.5.1.1 Xác định tổn thất điện năng theo các chỉ số công tơ
1.5.1.2 Xác định tổn thất điện năng bằng đông hồ đo đếm tổn thất
1.5.2 Xác định tổn thất điện năng theo phương pháp điện trở đẳng trị
1.5.3 Xác định tổn thất điện năng theo các đặc tính xác suất của phụ tải
1.5.3.1 Tổn thất trên đường dây
1.5.3.2 Tổn thất trong các máy biến áp
1.5.4 Xác định tổn thất điện năng theo đường cong tổn thất
5
1.5.5 Xác định tổn thất điện năng theo cường độ dòng điện thực tế
1.5.6 Xác định tổn thất điện năng theo đồ thị phụ tải
1.5.7 Xác định tổn thất điện năng theo thời gian tổn thất công suất cực đại
1.5.7.1 Phương pháp xác định theo τ
1.5.7.2 Phương pháp xác định theo τ
p
TRONG HỆ THỐNG ĐIỆN VIỆT NAM
2.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo thống kê của Tổng công ty điện lực TPHCM, thì số vụ vi phạm trộm
cắp điện những năm gần đây xuất hiện ngày càng nhiều và có xu hướng gia tăng
trong thời gian tới. Chỉ riêng trong năm 2010, Tổng công ty điện lực TPHCM đã
phát hiện và lập biên bản trên 2.600 trường hợp, sản lượng diện năng truy thu là
hơn 18 triệu kWh một năm với tổng số tiền trên 32 tỷ đồng. Chỉ trong 8 tháng đầu
năm nay, Tổng công ty đã xử lý hơn 1.300 biên bản vi phạm và truy thu gần 950
trường hợp khách hàng gian lận điện với số tiền hơn 15 tỷ đồng. Qua quá trình lập
biên bản kiểm tra, đa số những trường hợp gian lận rơi vào các hộ gia đình, điện
sinh hoạt. Số vụ vi phạm trong lĩnh vực kinh doanh ít hơn nhưng thiệt hại gây ra
thì nghiêm trọng hơn.
6
Hình 2.1. Cấu tạo cơ bản của Công tơ điện một pha
2.2 HIỆN TRẠNG TỔN THẤT ĐIỆN NĂNG DO GIAN LẬN
Như trình bày ở Chương 1, tình trạng gian lận điện năng là trường hợp rất
khó phát hiện, thậm chí là không thể phát hiện đuợc nếu chỉ sử dụng thông tin cung
cấp bởi các cơ quan thu chi phí sử dụng điện. Ở một số vùng, nhiều phụ tải không thể
đo được hoặc được đo theo từng cụm gia đình sử dụng, khiến cho quá trình tính toán
có sai số mang tính chất kỹ thuật hoặc phi kỹ thuật. Đôi khi vấn đề này còn liên quan
đến người trực tiếp đọc thông số hiển thị trên đồng hồ mà trước đó được đào tạo
không đúng nguyên tắc và cũng có thể khi dòng điện cao thế với mức tiêu thụ điện
năng lớn tại khu vực cũng là nguyên nhân dẫn đến sai số - trong đó nhân viên kỹ thuật
cũng là nhân tố liên quan khi kiểm tra công tơ và máy biến áp đo lường.
Ban đầu, xem Hình 2.1 dưới đây, công tơ điện có thiết kế hở và tất cả các
bộ phận cấu tạo của nó đều lộ thiên và có thể dễ dàng bị tiếp cận. Tuy nhiên, vào
đầu năm 1899, tại một buổi họp của Hiệp hội các Công ty Chiếu Sáng Edison đã
cho thấy rằng tình trạng gian lận điện là một vấn đề cần được quan tâm. Trên cơ
sở các khuyến nghị được tổng kết tại buổi họp, sau đó đã có sự cải tiến về mặt
hiệu suất và độ chính xác của các công tơ điện:
nối bên ngoài sẽ được đấu để làm giảm dòng điện đi vào công tơ, như thế công tơ
sẽ đọc số dòng ít hơn thực tế.
2.3.4 Can thiệp vào các mối hàn công tơ điện
Là một cách thức xâm phạm phổ biến khác. Can thiệp vào các mối hàn công
tơ điện nghĩa là một người tiếp cận vào chính công tơ điện đó. Có rất nhiều cách
can thiệp và các cách này sẽ được trình bày dưới đây.
2.3.5 Nối ngắn mạch các dây trong mạch đo lường điều khiển
Tương tự như phá các dây điều khiển, việc làm chập mạch sẽ làm chệch số
đọc dòng trong công tơ điện. Trong trường hợp này dòng điện đi vào công tơ sẽ
bằng không. Tác dụng lên công tơ điện là rõ ràng và ngay lập tức: với dòng điện
bằng không thì các số đọc công suất và năng lượng sẽ là không, hoặc mức tiêu thụ
tích lũy sẽ giữ nguyên.
2.3.6 Thay đổi đầu nối điện áp
9
Máy biến dòng
Máy biến điện áp
Các điểm nối điện áp trong hộp công tơ điện cho phép giúp công tơ có thể
đọc điện áp của tải. Một khi bị phá hỏng (nối tắt xuống đất hoặc có dây mát khác
nối vào), các số đọc được của nhân viên Điện lực sẽ bị sai lệch so với thực tế,
trong trường hợp ăn cắp điện thì số đọc được của điện áp sẽ là thấp hơn.
2.3.7 Nối trực tiếp với lưới điện cao thế
Đây là một cách gian lận điện mà đồng hồ không thể đo được lượng điện
tiêu thụ. Khó khăn chính của vấn đề này đó là hầu hết tải điện áp cao thế được lắp
đặt theo yêu cầu của khách hàng, ví dụ một trung tâm mua sắm yêu cầu điện áp 6
kV. Vì khách hàng là người yêu cầu mắc điện trực tiếp, và những đầu mối này đều
dễ dàng bị can thiệp. Đồng thời, không phải kỹ sư điện nào cũng muốn tiếp cận
đường dây điện cao thế nếu không có sự hỗ trợ thiết bị an toàn của công ty.
2.3.8 Can thiệp vào công tơ điện
Khi các mối hàn trên công tơ bị phá hỏng thì con người dễ dàng tác động
vào các bộ phận bên trong của đồng hồ, và từ đó sẽ có rất nhiều cách làm cho
khi nối vào hệ thống ống dẫn nước của ngôi nhà. Trong trường hợp này, hộ tiêu thụ sẽ
sử dụng một máy biến áp nhỏ, vì khi đó điện áp đầu vào của công tơ sẽ thấp hơn điện
áp thực tế, kết quả dẫn đến chỉ số của công tơ sẽ giảm đi so với thực tế.
2.3.13 Đấu nối vào điện áp dây
Là biện pháp tương tự như sử dụng dây trung tính ở trên. Điện áp dây của
lưới điện hạ áp thường là 240 V (Ở Mỹ) hoặc 380 V (Việt Nam).
CHƯƠNG 3
TÍNH TOÁN ÁP DỤNG CHO LƯỚI ĐIỆN HUYỆN VĂN LÂM - HƯNG YÊN
3.1 THỰC TRẠNG LƯỚI ĐIỆN CỦA HUYỆN VĂN LÂM
3.1.1 Nguồn điện cấp cho Văn Lâm
Hiện tại huyện Văn Lâm có 2 trạm trung gian 110/35/22 kV là E284 và
E.285 và 1 trạm từ 35/10 kV.
Lưới điện của huyện có 2 trạm trung gian 110/35 kV nên việc cấp thường
xuyên tương đối ổn định, ít phải cắt điện toàn huyện hoặc phải cắt một phần lưới
của huyện để sửa chữa và khi có sự cố. Lưới điện được xây dựng mới nhưng vẫn
còn 1 phấn được xây dựng từ những năm 1964-1990 nên thiết bị hầu hết là lạc hậu,
đã vận hành qua nhiều năm nên đã quá cũ và lạc hậu. Đầu nguồn bố trí đóng cắt
bằng cầu dao nên mỗi khi thao tác phía 35 kV thường phải cắt máy cắt từ đầu
nguồn làm gián đoạn thời gian cung cấp điện.
Đường dây 35 kV có 48 km trong đó có 14 km từ Lạc Đạo- Thị Trấn Như
Quỳnh là dây AC70 còn lại (nhánh Đại Đồng-Thị Trấn Như Quỳnh – Hệ… là dây
AC50)
Đường dây 10 kV có 184 km gồm 61,7 km đường trục là dây AC50 và
122,3 km đường nhánh là dây AC35.
Đường dây 0,4 kV có 380 km.
11
3.1.2 Khái quát về lưới điện lộ 971-7
Các trạm tiêu thụ do lộ 971-7 Văn Lâm cấp điện tới chủ yếu là các trạm cấp
điện cho nông thôn, do đó không có phụ tải công nghiệp. Ở đây chỉ có một vài
xưởng cơ khí nhỏ nên nó không ảnh hưởng nhiều đến hình dạng của đồ thị phụ tải
cũng là công cụ rất hiệu quả để giải quyết các bài toán liên quan đến tính kinh tế, kĩ
12
thuật, vận hành hệ thống cung cấp điện do xây dựng được họ đường cong với các
giá trị khác nhau.
+ Xác định tổn thất điện năng theo đồ thị phụ tải, phương pháp này tuy có đơn
giản nhưng để xác định được tổn thất điện năng theo phương pháp này ta phải giả thiết
trong khoảng thời gian Δt ta coi giá trị dòng điện hay công suất là không đổi và coi
điện áp bằng điện áp định mức, do đó kết quả tính toán có sai số lớn.
+ Xác định hao tổn điện năng theo đặc tính xác suất của phụ tải
Ta đã biết phụ tải điện là đại lượng ngẫu nhiên, chịu tác động của nhiều yếu
tố do đó hao tổn điện năng cũng là đại lượng ngẫu nhiên vì vậy khi tính toán ta có
thể sử dụng phương pháp xác suất thống kê để tính.
+ Tính hao tổn điện năng theo phương pháp thời gian hao tổn công suất cực
đại τ. Phương pháp này có ưu điểm là có thể xác định các thông số tính toán một
cách dễ dàng và khối lượng đo đếm không lớn, đặc biệt tính theo phương pháp
này còn xác định được tình trạng làm việc của các phần tử.
3.2.2 Phương pháp tính tổn thất điện năng cho lộ 971-7
Theo phân tích về ưu nhược điểm của các phương pháp ở trên. Ta thấy rằng
các phương pháp trên đều cho ra kết quả gần đúng. Nhưng với điều kiện thực tế
là: thời gian giới hạn, thiết bị do đếm đơn giản ta thấy rằng với lộ 971-7 Văn Lâm
thì phương pháp tính hao tổn điện năng theo thời gian hao tổn công suất cực đại là
phương pháp phù hợp nhất.
Các bước tiến hành tính toán hao tổn điện năng theo phương pháp thời
gian hao tổn công suất cực đại:
Bước 1: Thu thập đồ thị phụ tải của lộ 971-7
* Xây dựng đồ thị phụ tải
* Xác định thời gian tổn thất công suất cực đại (τ)
Bước 2: Xác định tổn thất công suất trong lộ 971-7
* Thu thập điện năng tại các trạm tiêu thụ
* Xác định điện trở đường dây
2 120 120 132 156 162 134 124 135.43 5.98 3.84 139.27
3 120 120 126 172 162 134 127 137.29 7.36 4.73 142.02
4 179 208 210 258 256 265 295 238.71 14.19 9.12 247.83
5 236 208 267 263 274 265 254 252.43 8.07 5.19 257.62
6 293 208 212 263 296 278 267 259.57 12.6 8.1 267.67
7 314 292 381 360 315 356 312 332.86 11.4 7.32 340.18
8 393 370 362 356 364 378 354 368.14 4.78 3.07 371.21
9 580 563 519 586 532 528 564 553.14 9.33 5.99 559.13
10 580 548 589 579 567 583 527 567.57 7.84 5.04 572.61
11 575 548 598 605 616 556 557 579.29 9.47 6.08 585.37
12 418 402 426 411 427 435 441 422.86 4.74 3.05 425.91
13 404 407 418 424 428 426 319 403.71 13.47 8.66 412.37
14 410 421 421 416 443 436 389 419.43 6.16 3.96 423.39
15 410 452 407 426 425 447 404 424.43 6.7 4.31 428.74
16 464 483 407 485 470 468 408 455 11.67 7.5 462.5
17 575 643 590 625 627 632 614 615.14 8.5 5.46 620.6
18 833 837 828 810 815 823 817 823.29 3.47 2.23 825.52
19 754 721 764 712 708 686 734 725.57 9.51 6.11 731.68
20 649 645 706 705 608 695 598 658 15.8 10.2 668.15
21 464 581 556 543 536 607 598 555 16.91 10.9 565.87
22 409 395 389 407 454 398 406 408.29 7.49 4.81 413.1
23 230 284 243 222 225 218 268 241.43 8.86 5.69 247.12
24 184 198 232 315 209 212 221 224.43 14.98 9.63 234.06
14
Hình 3.1 Đồ thị phụ tải ngày mùa đông điển hình của lộ 971-7
Tính toán các thông số của đồ thị phụ tải mùa đông:
Phụ tải trung bình: P
TB
=
∑
1
2
M
n
i
ii
P
tP
∑
=
= 7.54 ( h )
Hệ số điền kín của đồ thị: k
dk
=
M
tb
P
P
= 0.5
3.3.2 Xây dựng đồ thị phụ tải mùa hè
Số liệu tháng 6 tôi không thể đo đếm được, vì vậy tôi thu thập thông qua sổ
nhật ký vận hành của trạm. Qua quá trình đo đếm và thu thập số liệu ta có bảng số
liệu sau:
15
Bảng 3.3 Công suất đo ngày điển hình mùa hè của lộ 971 -7 Văn Lâm
Giờ
đo
8/6 9/6 10/6 12/6 13/6 14/6 15/6
i
P
24 190 200 220 220 210 215 215 210.0 10.35 216.7 46937.2
Hình 3.2 Đồ thị phụ tải ngày mùa hè điển hình của lộ 971-7
Tính toán các thông số của đồ thị phụ tải mùa hè:
16
Phụ tải trung bình: P
TB
=
∑
∑
=
=
n
i
i
n
i
ii
t
tP
1
1
= 453,3 ( kW )
Thời gian sử dụng công suất cực đại: T
M
=
M
n
i
ii
P
Cách xây dựng:
Kẻ đường thẳng đi qua điểm cao nhất của đồ thị phụ tải ngày đêm và xác
định thời gian tác động của phụ tải này trong năm tức là ứng với phụ tải P
1
ta sẽ
có thời gian t
1
= t
1h
+ t
1đ
, tiếp theo ta kẻ đường thẳng đi qua bậc thang thứ 2 và xác
định P
2
ứng với thời gian t
2
, tiếp tục cho đến P
n
. Ta thiết lập được bảng tác động
của phụ tải trong năm và căn cứ vào đó để xây dựng đồ thị phụ tải năm.
Công suất Thời gian tác động
P
1
t
1
= 190. t
1
h
+ 175. t
1
7 190 663 31 175 352
8 190 644 32 190 327
9 175 630 33 190 311
10 175 595 34 190 309
11 175 584 35 175 281
12 175 581 36 190 270
13 175 569 37 175 266
14 190 516 38 190 265
15 190 482 39 190 265
17
16 190 477 40 190 264
17 190 476 41 175 263
18 175 475 42 190 257
19 190 461 43 175 256
20 190 452 44 175 250
21 175 436 45 190 218
22 175 431 46 175 150
23 175 430 47 175 146
24 190 428 48 175 142
Hình 3.3 Đồ thị phụ tải năm của lộ 971-7
Tính toán các thông số của đồ thị phụ tải năm:
-Phụ tải trung bình: P
TB
=
∑
∑
=
=
n
i
ii
P
tP
∑
=
= 1838 ( h )
- Hệ số điền kín của đồ thị: k
dk
=
M
tb
P
P
= 0.42
3.4 TÍNH TOÁN HỆ SỐ COSφ CỦA LỘ 971-7
Hệ số cos
ϕ
được xác định theo công thức: cos
ϕ
=
22
QP
P
AA
A
+
(3.15)
Trong đó A
P
, A
=
n
n
i
i
∑
=1
cos
ϕ
= 0.85
3.4.1. Công suất tính toán của các trạm
Dựa vào lượng điện năng tiêu thụ trong năm thống kê được tại các trạm và thời
của các trạm theo công thức: P
t
=
M
T
A
( kW ) (3.16)
Q
t
= P
t
.tg
ϕ
(kVAR) (3.17)
Với T
max
= 3650 (h), cos
ϕ
4 T.Yên Xá 10/0.4 250 320460 88
5 T. Ngọc Trì 10/0.4 180 93700 26
6 T.Bà Sinh 10/0.4 180 28699 8
7 B.Việt Hưng A 10/0.4 180 883905 242
8 T.Đồng Trung 10/0.4 250 542072 149
9 T.B. Việt Hưng 10/0.4 160 25859 7
10 T.Việt Hưng 2 10/0.4 180 25786 7
11 T.Lê Thanh 10/0.4 180 309440 85
12 Trạm Mậu Lương 10/0.4 180 499675 136
13 T. Dốc Tảo 10/0.4 320 529489 145
14 T.Xuân Đào 10/0.4 400 714641 196
15 Trung Tâm -LT 10/0.4 320 506149 139
16 T. Đồng Xá-ĐĐ 10/0.4 180 236475 65
17 T. Kim Huy 10/0.4 320 37750 10
18 T. Kim Huy -PDP 10/0.4 250 390960 107
19 T. Thanh Khê 10/0.4 250 717454 197
19
20 T. PDP <Phúc Xá> 10/0.4 160 243880 67
21 T. Phú Nhuận 10/0.4 250 745400 204
22 T. Phả Lệ 10/0.4 250 342720 94
23 T. Sầm Khúc 10/0.4 250 404640 111
24 T. Dinh Khuốc 10/0.4 250 451345 124
25 T. Bơm Lương Tài 10/0.4 320 18170 5
26 T. UB Xã Minh Hải 10/0.4 320 46732 13
27 T. B. Hoàng Nha MH 10/0.4 180 276313 76
28 T. Hoàng Nha - MH 10/0.4 320 865790 237
29 T. Đại Từ 1 - ĐĐ 10/0.4 320 764325 209
30 T. CQT Đại Đồng 10/0.4 250 456234 125
31 T. Bưu điện – ĐĐ 10/0.4 50 21047 6
32 T. Đại Từ 2 – ĐĐ 10/0.4 180 26324 7
- P
max
. (công suất cực đại).
- T
max
. (thời gian sử dụng công suất cực đại).
- cosϕ . (hệ số công suất cực đại).
- t (thời gian vận hành).
20
Bộ dữ liệu đầu vào dành cho nút không có trạm biến áp phụ tải:
+ P
tt
; Q
tt
(cosϕ) ; T
max
; t (nếu vào Q
tt
thì thôi không vào cosϕ và ngược lại).
Bộ dữ liệu đầu vào dành cho nút có trạm biến áp phụ tải:
Vì có trạm biến áp phụ tải cho nên việc vào liệu trước tiên là chọn loại máy
biến áp trong thư viện cho phù hợp với lưới điện thực tế, sau đó gõ tên trạm và cuối
cùng là vào liệu phụ tải, lúc đó Bạn có thể chọn 1 trong những bộ dữ liệu dưới đây:
+ P
max
, cosϕ ; T
max
; t. (bộ dữ liệu tiêu chuẩn).
Sau khi đã vào liệu cho Chương trình, LOADFLOW thực hiện việc tính tổn
thất điện năng như sau:
. τ
i
(3-19)
Trong đó τ được xác định theo T
max
riêng của từng trạm theo (1-8).
+ Tổn thất điện năng trên đường dây được xác định theo (3-20)
∑∑∑
===
k
ijtb
k
tbijij
k
ijluoi
P P.PA
∆ττ∆τ∆∆
(3-20)
Trong đó τ
tb
được xác định theo (3-21). Điều này có nghĩa là việc tính tổn
thất điện năng trên đường dây trong LOADFLOW được xử lý tương tự như cách
tính tổn thất điện năng trên đường dây nhờ sự hỗ trợ của PSSE, điều khác cơ bản là
sau khi đã vào liệu đầy đủ LOADFLOW tự xác định τ
tb
theo (3-21) và tự tính tổn
thất điện năng cho từng đoạn của lưới điện theo (3-20) một cách tự động, tránh được
các sai sót nếu phải tính thủ công. Tuy nhiên, việc tính tổn thất điện năng trên đường
dây của tất cả các đoạn mạch của lưới điện theo τ
i
n
i
i
n
max
max
. τ
=
=
∑
∑
1
1
(h) (3-22)
Công thức (3-22) hoàn toàn có thể xác định bằng phương pháp thủ công, tất
nhiên sẽ phải mất nhiều thời gian để gia công số liệu, đặc biệt là với một lưới điện
lớn thì việc xử lý thủ công (bằng tay theo 3-22) sẽ không được tính tới. Chính vì vậy
cần phải có một công cụ để có thể xác định được “n” (số hộ phụ tải tham gia vào
21
on mch ij ca li) mt cỏch t ng, nhm giỳp Chng trỡnh xỏc nh c
ij
cho tng on ca li in.
Túm tt ni dung ca thut toỏn ny nh sau:
LOADFLOW t lõu ó cú nh hng ng dng ch yu cho cỏc vn ca
li in trung v h ỏp, chớnh vỡ vy thut toỏn ny da trờn tớnh cht ca li in
vn hnh kiu h. Trong li ny nu s c t dõy trờn bt k nhỏnh no ca li
thỡ tt c cỏc ph ti c cp in qua nhỏnh ú s mt in ỏp -> s xỏc nh c
n -> xỏc nh
ij
ij
vào nhánh m
m :=m+1
Hình 3.5 Giao diện chương trình tính tổn thất điện năng kỹ thuật
Giao diện nhập liệu trực tiếp bằng chức năng ‘Tạo tệp trực tiếp’
Hình 3.6 Giao diện vào liệu trực tiếp cho lưới điện
Vì chương trình giới hạn tối đa là 20 nút nên ta tiến hành chia sơ đồ lộ
971-7 Văn Lâm ra thành 6 nhánh nhỏ dưới đây:
a) Nhánh 6: Nhánh đi Chỉ Đạo (Nghĩa Lộ)
23
b) Nhánh 5: Nhánh đi Hoàng Nha-Minh Hải
c) Nhánh 4: Nhánh đi Lương Tài
d) Nhánh 3: Nhánh đi Việt Hưng
e) Nhánh 2: Nhánh đi Lương Tài-Việt Hưng
f) Nhánh 1: Nhánh xuất tuyến của lộ 971-7 trạm trung gian Nhân Vinh
Sở dĩ sắp xếp các nhánh theo thứ tự như trên là để có thể tính dồn công suất
từ các nhánh cuối lộ thu về phía đầu lộ trên sơ đồ 1 sợi của lộ 971-7.
Sau đây ta vào liệu trực tiếp cho lần lượt từng nhánh trên sơ đồ như sau:
24
Hình 3.7 Sơ đồ vào liệu trực tiếp cho nhánh 6 (đi Nghĩa Lộ)
25
Hình 3.8 Sơ đồ vào liệu trực tiếp cho nhánh 5 (đi Hoàng Nha-Minh Hải)
Hình 3.9 Sơ đồ vào liệu trực tiếp cho nhánh 4 (đi Lương Tài)