tóm tắt luận văn thạc sĩ kỹ thuật TÍNH TOÁN, THIẾT kế, CHẾ tạo máy SÀNG PHÂN LOẠI hạt mài - Pdf 30

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP

LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT
NGÀNH CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO MÁY
TÊN ĐẾ TÀI
TÍNH TOÁN, THIẾT KẾ, CHẾ TẠO MÁY SÀNG
PHÂN LOẠI HẠT MÀI
Học viên: Nguyễn Văn Kiền
Lớp: Cao học K11
Chuyên ngành: Công nghệ chế tạo máy
Người HD khoa học: TS Vũ Ngọc Pi
THÁI NGUYÊN – 10/2010
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP

LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT
NGÀNH CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO MÁY
TÊN ĐẾ TÀI
TÍNH TOÁN, THIẾT KẾ, CHẾ TẠO MÁY SÀNG
PHÂN LOẠI HẠT MÀI
Học viên: Nguyễn Văn Kiền
Lớp: Cao học K11
Chuyên ngành: Công nghệ chế tạo máy
Người HD khoa học: TS Vũ Ngọc Pi
KHOA ĐÀO TẠO SĐH NGƯỜI HƯỚNG DẪN HỌC VIÊN
TS Nguyễn Văn Hùng TS Vũ Ngọc Pi Nguyễn Văn Kiền
BAN GIÁM HIỆU
LỜI CAM ĐOAN
Việc nghiên cứu thiết kế chế tạo máy sàng phân loại cỡ hạt mài để phục vụ cho
việc nghiên cứu trong nước là một giải pháp mang lại hiệu quả kinh tế . Hiện ở trong

NỘI DUNG 4
CHƯƠNG I:Tổng quan về hạt mài, phương pháp phân lọai hạt mài
và máy sàng phân loại hạt mài
8
1.1. Giới thiệu về hạt mài 8
1.1.1Vật liệu hạt mài 8
1.1.2 Độ hạt của vật liệu mài 11
1.1.3. Phân tích cỡ hạt 13
1.1.3.1. Dạng hạt 14
1.1.3.2. Kích thước hạt 16
1.2. Phương pháp phân loại hạt mài 18
1.2.1. Phương pháp sàng 18
1.2.2. Phương pháp đóng cặn 19
1.3.3. Phương pháp dùng kính hiển vi 20
1.2.4. Phương pháp dùng nhiễu xạ ánh sáng 20
1.2.5. Phân tích sàng 20
1.2.5.1. Nguyên lý cơ bản phân tích sàng 21
1.2.5.2. Đánh giá kết quả phân tích sàng 23
1.3. Máy sàng phân loại hạt mài 24
1.3.1. Các kiểu máy sàng 28
1.4. Kết luận chương I 32
CHƯƠNG II: Thiết kế động học máy 33
2.1. Cơ sở thiết kế động học 33
2.2. Thiết kế sơ đồ động học 35
2.3. Kết luận 35
CHƯƠNG III:Thiết kế động lực học máy 36
3.1. Thiết kế bộ truyền đai 36
3.1.1. Các thông số bộ truyền đai 36
3.2. Kiểm nghiệm đai 37
3.2.1. Kiểm nghiệm bền theo ứng suất có ích cho phép 37

5 4.1 Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =18Hz, e= 12mm
47
6 4.2 Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =19Hz, e= 12mm
47
7 4.3 Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =20Hz, e= 12mm
48
8 4.4 Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =21Hz, e= 12mm
48
9 4.5 Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =22Hz, e= 12mm
48
10 4.6 Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =22,5Hz, e= 12mm
49
11 4.7 Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =18Hz, e= 13mm
50
12 4.8 Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =19Hz, e= 13mm
50
13 4.9 Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =20Hz, e= 13mm
50
14 4.10 Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =21Hz, e= 13mm
51

khi f =17Hz, e= 10mm
60
26 4.22 Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =17Hz, e= 11mm
61
27 4.23 Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =18Hz, e= 11mm
61
28 4.24 Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =19Hz, e= 11mm
62
29 4.25 Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =20Hz, e= 11mm
62
30 4.26 Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =17Hz, e= 12mm
63
31 4.27 Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =18Hz, e= 12mm
63
32 4.28 Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =19Hz, e= 12mm
63
33 4.29 Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =20Hz, e= 12mm
64
34 4.30 Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng
khi f =17Hz, e= 9mm
65
35 4.31 Bảng biểu diễn thời gian phụ thuộc vào tốc độ sàng

19 4.6 Đồ thị biểu diễn thời gian sàng phụ thuộc vào tốc độ và
độ lệch tâm e khi thí nghiệm 200g hạt Granit ( Ấn Độ)
56
20 4.7 Quan hệ giữa thời gian sàng và độ lệch tâm khi sàng hạt
Supreme Granit
57
21 4.8 Đồ thị biểu diển thời gian sàng phụ thuộc vào f khi e=10 60
22 4.9 Đồ thị biểu diển thời gian sàng phụ thuộc vào f khi e=11 62
23 4.10 Đồ thị biểu diển thời gian sàng phụ thuộc vào f khi e=12 64
24 4.11 Đồ thị biểu diển thời gian sàng phụ thuộc vào f khi e=9 67
25 4.12 Đồ thị biểu diễn thời gian sàng phụ thuộc vào tốc độ và
độ lệch tâm e khi thí nghiệm 200g hạt Sic
68
26 4.13 Quan hệ giữa thời gian sàng và độ lệch tâm khi sàng hạt
Cacbit Silic
69
3
NỘI DUNG
1/ Tính cấp thiết của đề tài:
Hạt mài là vật liệu được sử dùng nhiều trong các lĩnh vực công nghiệp khác
nhau. Trong ngành cơ khí, hạt mài được dùng để sản xuất đá mài, dùng để đánh bóng,
để làm sạch bằng phun hạt mài ( phun cát), dùng trong gia công bằng dòng hạt mài, gia
công bằng tia nước có hạt mài v.v…
Để sử dụng hạt mài vào các mục đích trên, cần phải phân loại hạt mài ra các
kích cỡ khác nhau. Việc phân loại hạt mài không chỉ cần thiết cho sản xuất hạt mài, đá
mài v.v…mà còn đặc biệt cho quá trình nghiên cứu về hạt mài và gia công mài.
Để phân loại hạt mài ra các kích cỡ khác nhau phục vụ cho nghiên cứu người ta
sử dụng các máy sàng phân loại hạt mài và các sàng với các cỡ mắt sàng khác nhau.
Trên thế giới hiện nay có nhiều hãng chế tạo các loại máy sàng này như máy của hãng
Endecott, Retsch, Impact Test Equipment , Humboldt, Tylerv.v

3. Ý nghĩa của đề tài:
3.1/ Ý nghĩa khoa học:
- Ý nghĩa khoa học của đề tài thể hiện trong việc xác định tối ưu các thông số
của máy là tần số rung và biên độ rung của sàng nhằm đạt năng suất phân loại là cao
nhất.
3.2/ Ý nghĩa thực tiễn:
- Máy phân loại cỡ hạt mài được sản xuất trong nước có giá thành thấp hơn so
với sản phẩm nhập ngoại ( dự kiến giảm được 40 đến 50 % giá thành).
- Máy được dùng để phân loại các loại cỡ hạt mài để phục vụ cho nghiên cứu
hạt mài, gia công làm sạch bằng hạt mài hoặc trong sản xuất hạt mài.
6
4.Nội dung luận văn:
Kết cấu chính của luận văn gồm 7 phần:
Chương 1.Tổng quan về máy sàng phân loại cỡ hạt mài
- Giới thiệu sơ lược về các phương pháp phân loại hạt mài
- Nghiên cứu tổng quan về các loại máy phân loại cỡ hạt mài : cấu tạo, nguyên
lý làm việc và các thông số chính của các loại máy đã sản xuất trên thế giới.
- Tìm hiểu về các nghiên cứu đã có về máy phân loại cỡ hạt mài.
Chương 2: Thiết kế động học máy.
- Lựa chọn loại máy trên cơ sở phân tích ưu điểm, nhược điểm mô hình của một
số máy phân loại hạt mài đã được sản xuất trên thế giới.
- Thiết kế động học máy.
- Xây dựng kết cấy máy.
Chương 3: Thiết kế động lực học máy.
- Tính toán thiết kế các bộ truyền trong máy.
- Kiểm nghiệm bền cho một số chi tiết truyền lực chính của máy
Chương 4: Xác định tối ưu các thông số cơ bản.
- Xây dụng mô hình thực nghiệm và sau đó tiến hành các thí nghiệm để xác định
tần số rung và biên độ rung của sang nhằm đạt năng suất phân loại cao nhất.
- Phân tích các kết quả đạt được và đưa ra nhận xét

hợp) trên qui mô công nghiệp với một số hiệu: ACO – độ bền thông thường, có kích
thước hạt 40 -250 µm, ACP – độ bền nâng cao có kích thước hạt 50 -315 µm ,ACB –
độ bền cao có kích thước hạt 60 -400 µm ,ACM – bột mịn, có kích thước 1 -40 µm.
Gần đây đã chế tạo được kim cương tổng hợp với các nhản hiệu mới: ACK và ACKC
có độ bền không kém kim cương nhân tạo.
Các tinh thể kim cương thiên nhiên dùng để chế tạo dao cắt bằng kim cương,
mũi khoan, ổ, dao cắt kính, mũi khoan mỏ, các đầu của dụng cụ đo độ cứng và độ nhấp
nhô bề mặt, khuôn kéo dây đường kính nhỏ. Tuy nhiên kim cương được dùng rộng rãi
hơn cả để mài sắc và đánh bóng dụng cụ hợp kim cứng và để gia công các chi tiết bằng
hợp kim cứng, kính quang học, sứ và những vật liệu cứng khác. Tinh thể kim cương
cũng dùng để sửa đá mài ở những nguyên công có yêu cầu cao về chất lượng bề mặt và
độ chính xác của chi tiết.
Ký hiệu của kim cương tự nhiên là A, còn kim cương nhân tạo là AC
b. Corunđum:
Corunđum là khoáng sản gồm các tinh thể ôxyt nhôm Al
2
O
3
với các hợp chất
khác nhau. Trữ lượng corunđum trong tự nhiên không lớn nên việc sử dụng chúng bị
giới hạn chủ yếu trong các nguyên công mài bóng. Corunđum có ký hiệu là E.
Cacborunđum ( ký hiệu là H): Là những khoáng sản ở dạng hạt nhỏ màu đen
hoặc đen xám, gồm 30 – 60 % corunđum, dùng để chế tạo giấy mài ráp, các sản phẩm
mài dùng cho nguyên công ít quan trọng cũng như dùng mài bóng và mài nghiền một
số chi tiết.
Corunđum điện thu được khi nấu chảy liệu từ quặng thiên nhiên đó là corunđum
lẫn với một lượng rất nhỏ các khoáng sản khác; Corunđum điện được sản xuất với các
nhản hiệu: thường –ET, trắng –EB, mônôcorunđum –M, crômit –EX, titanit –ET.
Corunđum điện thường thu được từ quá trình nấu chảy bôxit trong các lò điện
corunđum nung quặng, chủ yếu gồm ôxyt nhôm, có dải màu sắc từ hồng đến nâu thẫm,

xanh giòn hơn so với cácbit silic đen.
Cacbit bo: Thu được trong lò điện hồ quang do kết quả tác dụng tương hỗ giữa
Bo oxyt và cốc dầu mỏ ít tro. Cacbit bo là dung dịch đặc của Bo B
4
C với hàm lượng
đến 94% B
4
C, gần 1,5% cacbon tự do và tổng cộng đến 74% bo. Trong công nghiệp,
người ta sản xuất bột mài từ cacbit bo với độ hạt 12 – 4 và bột mài mịn M40, M28.
Cacbit boro silicat: Là vật liệu mài thu được do nung chảy trong lò hồ quang
hỗn hợp bo oxyt, cát và than, có khả năng mài cao hơn so với cacbit bo.
Năm 1957 người ta thu được từ bo nitrua những tinh thể gọi là borazon.
Borazon có độ cứng như kim cương và chịu được nhiệt độ cao ( 1300
o
C).
10
Những tính chất cơ bản của vật liệu hạt mài là độ cứng, khả năng mài, độ bền và
độ chịu mòn.
Độ cứng cao của vật liệu mài là đặc điểm khác biệt cơ bản của chúng. Người ta
dùng các phương pháp khác nhau để xác định độ cứng của vật liệu mài. Trong kỹ thuật
phổ biến nhất là dùng phương pháp làm xước bằng đầu nhọn của một vật thể lên bề
mặt một vật thể khác, và phương pháp ép nhẹ khối kim cương hình tháp lên bề mặt vật
liệu thử.
1.1.2. Độ hạt của vật liệu hạt mài:
Hạt là những tinh thể riêng rẽ hay liên tinh thể, hoặc những mảnh tinh thể
thường không đúng hình dạng và có kích thước không quá 5mm
Hạt có ba kích thước cơ bản: chiều dài, chiều rộng và chiều dày. Tuy nhiên để
cho đơn giản, người ta chỉ chọn chiều rộng là kích thước đặc trưng của hạt. Việc sàng
những hạt mài nhỏ thường được thực hiện bằng các lưới rây có lỗ vuông, kích thước lỗ
của lưới được đặc trưng bởi số mắt lưới , nghĩa là số lỗ trên một tấc Anh ( 25,4mm).

100
80
63
50
40
32
25
20
16
12
10
8
HẠT MÀI
10
12
16
20
24
30
36
46
54
60
70
80
BỘT MÀI
100
120
150
2500 – 2000

BỘT MỊN
_
_
_
_
_
_
_
80 – 63
63 – 50
50 – 40
40 – 28
40 – 28
28 – 20
20 – 14
14 – 10
10 – 7
7 – 5
5 – 3
Mỗi số hiệu hạt mài không chứa dưới 45% nhóm cơ bản, không quá 20% nhóm
lớn hơn và không chứa dưới 90% nhóm phức hợp ( bao gồm các số hiệu cơ bản cùng
các số hiệu lớn và nhỏ lân cận).
Hạt mài không có hình dạng nhất định khi nghiền nhỏ. Chúng thường là những
hình chóp đa diện, lập phương, hình cầu hoặc dạng tấm phẳng .
1.1.3. Phân tích cỡ hạt:
Tính chất và thuộc tính của hạt vật liệu tùy thuộc vào hình dạng, kích thước và
tỷ lệ phân bố kích thước của chúng có trong mẫu vật liệu. Trả lời câu hỏi: “ Hạt là gì?”.
Có thể đó là một điều không dễ dàng, để hiểu cơ bản vấn đề này ta cần đến kết quả của
những kỹ thuật phân tích cỡ hạt khác nhau. Hình dạng hạt và quá trình phân loại hạt
vật liệu là một vấn đề rất phức tạp cho sự phân tích cỡ hạt.

- Dạng tấm: hạt có dạng tấm phẳng, chiều dài và chiều rộng tương đối, còn
chiều dày nhỏ.
- Dạng hình khối: là hạt có chiều dài, chiều rộng và chiều dày tương tự nhau nó
bao gồm những hạt có hình lập phương hay hình cầu.
Tuy nhiên kiểu mô tả định tính đôi lúc là chưa đầy đủ, điều này yêu cầu có định
nghĩa về hệ số định lượng để đặc trưng cho hình dạng của hạt, để xét hình dạng của hạt
người ta còn xét đến tỷ lệ tương đối giữa chiều dài, chiều rộng, chiều dày và dạng hình
học của chúng.
Tỷ lệ tương đối giữa hai nhân tố của hạt thường được định nghĩa như sau: [12]
Hệ số kéo dài:
p
p
e
b
l
r =
Hệ số dẹt:
p
p
F
t
b
r =
Trong đó:
t
p
: chiều dày của hạt ( khoàng cách nhỏ nhất giữa hai mặt phẳng song song
tiếp tuyến tới những bề mặt đối diện của hạt)
b
p

thì khái niệm về kích thước yêu cầu định nghĩa bỡi một hoặc nhiều tham số. Thông
thường để thuận lợi nhất người ta dùng đường kính dẫn xuất để đưa ra khái niệm kích
thước hạt. nó được hiểu như là đường kính của một hình cầu tương đương tới thuộc
tính kích thước nào đó của hạt. Đa số người ta sử dụng chiều dài và chiều rộng để biểu
16
diễn kích thước của hạt, tất cả cách mô tả đường kính dẫn xuất cho kích thước hạt là
người ta đồng nhất chiều dài và chiều rộng của hạt vào trong một vòng tròn hoặc hình
cầu tương đương, từ cách đồng nhất như vậy ta có các khái niệm về đường kính của
hạt:
Đường kính chu vi: được định nghĩa như là đường kính một vòng tròn có cùng
chu vi như chu vi hình bao của hạt.
Đường kính bề mặt: là đường kính của một hình cầu có cùng diện tích với diện
tích bề mặt hạt.
Đường kính thể tích: là đường kính của một hình cầu có cùng thể tích với hạt.
Có một cách mô tả thường được sử dụng rộng rãi là đường kính vùng dự kiến,
đó là đường kính của một vòng tròn dự kiến làm sao cho phép hạt nằm ở trong đó với
một vị trí ổn định nhất.
Tùy theo những ứng dụng khác nhau mà người ta đã sử dụng các kiểu mô tả
đường kính dẫn xuất khác nhau. Ví dụ, đường kính lỗ sàng là chiều rộng của lỗ vuông
tối thiểu mà hạt vật liệu có thể đi qua được.
Trong một mẫu vật liệu do có nhiều hạt tạo thành, nó không bao gồm những hạt
có cùng kích thước, mà nó gồm những hạt có hình dạng khác nhau và kích thước hạt
nằm trong một phạm vi nào đó. Bỡi vậy để xác định kích thước của hạt ta cần phải có
những thông tin về kích thước của toàn bộ hạt. Tuy nhiên, ở trong mẫu vật liệu còn có
những hạt có kích thước ngoại lệ không cùng kích thước với các hạt trong mẫu, đôi khi
yêu cầu kích thước trung bình của hạt và sự phân bố của chúng ở trong mẫu.
Nếu một mẫu phù hợp với những đặc trưng có sự phân bố chuẩn thì có thể dùng
kích thước trung bình để mô tả kích thước hạt của mẫu đó và có thể cho phép một sai
số nào đó.
Đường kính trung bình của hạt được tính theo công thức: [17]

phương pháp đo phụ thuộc chủ yếu kích thước của hạt mài có trong mẫu. Bảng 1.3
biễu diễn phạm vi đo của một số phương pháp.
Bảng 1.3- Phạm vi đo của mỗi phương pháp đo [15]
Phương pháp đo Phạm vi đo được (mm)
Đo bằng kính hiển vi điện tử 0,00001 – 0,001
Lắng cặn ly tâm 0,00001 – 0,01
Đo bằng tia Laze 0,00002 – 0,5
Lắng cặn nhờ trọng lực 0,001 – 0,25
Phương pháp chụp quang học 0,001 – 5
Sàng siêu âm 0,005 - 0,1
Sàng tia khí 0,02 – 0,2
Sàng ướt 0,02 – 5
Sàng khô 0,02 – 125
1.2.1 Phương pháp sàng:
Đây là một kỹ thuật có từ lâu, nhưng nó vẫn được sử dụng vì có lợi thế là đơn
giản và rẻ. Khó khăn chính của phương pháp này là khó thực hiện đo các hạt hình kim,
khi các hạt vật liệu bị ướt và vón cục, hay đo các hạt vật liệu có kích thước bé hơn
38µm.
Sàng là dụng cụ quan trọng để phân loại kích thước hạt, để tiến tới những cái
máy sàng như ngày nay, ban đầu người ta cũng sử dụng những cái sàng bằng tay. Quá
trình sàng thực chất là chúng ta làm cho hạt vật liệu di chuyển trên bề mặt sàng theo
một phương nào đó, kết quả trong quá trình di chuyển các hạt có kích thước nhỏ hơn
mắt lưới sàng sẽ đi qua lỗ sàng. Trong những năm gần đây chúng ta nhận thấy sự tiến
bộ nhiều mặt của phương pháp sàng. Từ chỗ ban đầu người ta sử dụng những cái sàng
18
bình thường thì đến bây giờ có thể phân tích đúng đắn kích cỡ hạt bằng những máy
sàng có độ chính xác cao.
1.2.2 Phương pháp lắng cặn:
Đây là phương pháp đo truyền thống thường dùng trong công nghiệp sơn và đồ
gốm. Nguyên lý của phép đo được dựa vào qui luật lắng cặn theo lớp. Sử dụng qui luật

laser có bước sóng
63,0=
λ
µm thường được sử dụng nhất bỡi vì nó cho ra những kết
quả và tín hiệu tốt nhất so với ánh sáng laser có bước sóng cao hơn.
- Một máy dò tìm thích hợp: thường là một tấm silic cảm quang với một máy dò
tìm.
- Một số thiết bị để tạo cho chùm laser đi xuyên qua mẫu vật liệu cần đo. Những
hạt cần đo có thể được đo bỡi các chùm laser tuần hoàn chiếu qua mẫu vật liệu.
Sự nhiễu xạ ánh sáng laser đem lại những ưu điểm : Không yêu cầu một dụng
cụ theo tiêu chuẩn; làm khô các hạt đo trực tiếp; toàn bộ mẫu đều được đo ( ánh sáng
nhiễu xạ đều đi xuyên qua tất cả các hạt); là phương pháp đo không phá hoại và không
xâm nhập các hạt của mẫu; kết quả đo nhanh.
1.2.5. Phân tích bằng sàng:
Thời gian sàng một mẫu vật liệu phụ thuộc vào việc lựa chọn phương pháp
sàng, có nghĩa phương pháp sàng đó tạo ra chuyển động nằm ngang hay chuyển động
thẳng đứng của hạt, điều đó tạo ra một chuyển động tương đối giữa các hạt vật liệu và
cái sàng. Những hạt đi qua lỗ sàng hoặc giữ lại trên sàng phụ thuộc vào kích thước của
tất cả các hạt trong mẫu. Xác suất để một hạt đi xuyên qua lỗ sàng được xác định tỷ lệ
kích thước hạt với kích cỡ mắt lưới sàng, hướng chuyển động của hạt, số lần những
cuộc gặp gỡ hướng chuyển động của hạt và lỗ mắt lưới sàng. Đồng thời nó cũng phụ
thuộc vào các tham số chuyển động của cái sàng và thời gian sàng.
Sàng vật liệu là một trong những phương pháp cơ bản để phân loại các hạt có
kích thước lớn hơn 75 µm, và đó là phương pháp phổ biến thường được dùng trong
công nghiệp để phân loại kích cỡ hạt vật liệu mài. Các sàng thường được làm bằng lưới
20
thép và có lỗ mắt lưới hình vuông. Hình 1.2 biễu diễn hai kiểu mắt lưới thường sử
dụng nhất. Phân tícâịht mài bằng sàng bằng những sàng lưới thép cho biết kích thước
ước lượng hai chiều của hạt, bỡi vì kích thước nhỏ nhất của mỗi hạt dự đoán khả năng
xuyên qua mắt lưới sàng của nó.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status