Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay đối với doanh nghiệp nhà nước - Pdf 30



LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hệ thống NHTM VN đã có những đóng góp quan trọng cho sự ổn định và tăng
trưởng kinh tế ở nước ta trong nhiều năm qua. Đó là một trong những lĩnh vực sôi
động nhất trong nền kinh tế, và có ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động SXKD của
các ngành kinh tế khác. Những kỹ thuật nghiệp vụ trong hoạt động này rất đa dạng và
phức tạp, đòi hỏi những người thực hiện phải có những kỹ năng, kiến thức và sự hiểu
biết nhất định.
Trong khóa học vừa qua, cùng với các kiến thức qua các bài giảng, các môn
học và sự tìm hiểu thêm ở các sách báo, tạp chí, em đã phần nào nắm bắt được những
lý thuyết, những kiến thức cơ bản về hoạt động của hệ thống Ngân hàng trong nền
kinh tế. Tuy nhiên, có thể thấy là trong thực tế các hoạt động đó rất đa dạng và phong
phú, do đó quá trình thực tập chính là cầu nối gắn liền giữa lý thuyết và thực tiễn giúp
em có thể liên hệ được những kiến thức đã học được trên lý thuyết để vận dụng vào
thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng. Cũng như các sinh viên năm thứ 4 khác đang trải
qua quá trình thực tập, được sự giới thiệu của Nhà trường cùng với sự giúp đỡ tạo
điều kiện của Ngân hàng Công thương Chi nhánh Đống Đa (NHCTCNĐĐ), trong
suốt quá trình thực tập tại đây, Em đã nắm bắt được một số hoạt động cơ bản, tìm
hiểu thực tiễn tại Chi nhánh và nhận thấy rằng doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là
một đối tượng khách hàng rất quan trọng đối với Ngân hàng. Bên cạnh những DNNN
sản xuất kinh doanh (SXKD) hiệu quả xuất hiện một số DNNN làm ăn không hiệu
quả, không có khả năng trả nợ cho Ngân hàng đã gây khó khăn cho hoạt động ngân
hàng.
Trên cơ sở vốn kiến thức đã tích luỹ được cùng với việc xem xét tình hình thực
tế tại Chi nhánh, được sự quan tâm giúp đỡ của cán bộ, nhân viên phòng Khách hàng
1 trong thời gian thực tập tại NHCTCNĐĐ, đặc biệt là dưới sự giúp đỡ nhiệt tình của
cô giáo Ths Lê Phong Châu, em đã mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài: “Giải pháp
nâng cao hiệu quả cho vay đối với doanh nghiệp nhà nước tại NHCTCNĐĐ”.


- Phương pháp phân tích thống kê.

2- Phương pháp so sánh sự biến động của dãy số qua các năm.
- Phương pháp chuyên gia: Thu thập ý kiến của các chuyên gia trong các lĩnh
vực liên quan.
4. Phạm vi nghiên cứu
Hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ của NHCTĐĐ rất đa dạng và
phong phú. Nhưng vì thời gian thực tập và khả năng tiếp nhận của bản thân có hạn, vì
thế em không thể phân tích một cách sâu sắc các hoạt động của ngân hàng. Nên phạm
vi đề tài chỉ tập trung phân tích tình hình huy động và cho vay đối với DNNN của
NHCTĐĐ qua ba năm: 2005, 2006 và 2007
5. Kết cấu của chuyên đề
Ngoài lời nói đầu và kết luận, nội dung của chuyên đề được chia thành 3
chương:
- Chương 1: Hiệu quả cho vay đối với doanh nghiệp nhà nước của ngân hàng thương
mại.
- Chương 2: Thực trạng hiệu quả cho vay đối với doanh nghiệp nhà nước tại Ngân
hàng Công thương Chi nhánh Đống Đa.
- Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay đối với doanh nghiệp nhà nước tại
Ngân hàng Công thương Chi nhánh Đống Đa.
Do thời gian và điều kiện thực hiện chuyên đề còn hạn chế, mặt khác vốn hiểu
biết các nghiệp vụ này còn ở phạm vi quan sát là chủ yếu, nên chắc chắn chuyên đề
còn có những thiếu sót rất mong nhận được sự góp ý, chỉnh sửa của Thầy, Cô để em
có thể nắm vững kiến thức phục vụ cho công việc sau này. Em xin chân thành cảm
ơn!
Sinh viên thực hiện
Chu Thị Thu Quyên

DNNN có tên gọi, có con dấu riêng và có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam.
Tóm lại, DNNN là một thực thể kinh tế thuộc sở hữu Nhà nước, ra đời và hoạt
động kinh doanh độc lập chịu sự quản lý vĩ mô của Nhà nước. DNNN là một tổ chức
kinh tế khác với tổ chức hành chính và tổ chức sự nghiệp nhà nước, không chỉ lấy
hoạt động kinh doanh, hoạt động công ích làm chủ yếu. Điều cơ bản là DNNN phải

4chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn, các nguồn
lực do Nhà nước là chủ sở hữu giao cho DN.
b. Đặc điểm
Định nghĩa trên cho thấy DNNN có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Một là, DNNN là tổ chức kinh tế được Nhà nước thành lập để thực hiện những mục
tiêu do Nhà nước giao.
Hai là, DNNN do Nhà nước đầu tư vốn cho nên tài sản trong Doanh nghiệp là thuộc
sở hữu Nhà nước, doanh nghiệp quản lý, sử dụng tài sản theo quy định của chủ sở
hữu là Nhà nước
Ba là, DNNN có tư cách pháp nhân vì có đủ các điều kiện của pháp nhân theo quy
định của pháp luật.
Bốn là, DNNN là doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn, nghĩa là nó tự chịu trách
nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số tài sản do Doanh nghiệp
quản lý.
c. Phân loại
DNNN có thể được phân loại theo các tiêu chí pháp lý khác nhau
* Theo mục đích hoạt động của DN thì có thể chia làm 2 loại:
- DNNN hoạt động công ích:
Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích là DNNN độc lập hoặc DNNN
thành viên hạch toán độc lập của Tổng công ty nhà nước trực tiếp thực hiện nhiệm
vụ quốc phòng, an ninh hoặc sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công cộng theo

Là DN nằm trong cơ cấu của Tổng công ty Nhà nước.
* Theo cấp chủ quản (đầu mối quản lý), có 3 nhóm:
- DNNN do các Bộ quản lý.
- DNNN do Địa phương quản lý.
- DNNN do các tổ chức đoàn thể quản lý.
* Theo quy mô kinh doanh có thể chia thành 3 nhóm:
- DNNN quy mô lớn: vốn Nhà nước trên 10 tỷ, doanh thu trên 100 tỷ.
- DNNN quy mô vừa: vốn Nhà nước từ 5 – 10 tỷ, doanh thu từ 50 – 100 tỷ.
- DNNN quy mô nhỏ: vốn Nhà nước dưới 5 tỷ, doanh thu dưới 50 tỷ.

6* Theo các ngành kinh tế kỹ thuật có thể phân loại theo nhóm các ngành kinh tế kỹ
thuật sau đây:
- DNNN thuộc các ngành sản xuất nông, lâm nghiệp và phục vụ sản xuất nông, lâm
nghiệp.
- DNNN thuộc các ngành công nghiệp – xây dựng và phục vụ sản xuất công nghiệp.
- DNNN thuộc các ngành thương mại, dịch vụ, vận tải, thông tin liên lạc.
- DNNN thuộc các ngành còn lại.
* Dựa vào hình thức quản lý hay cơ cấu tổ chức quản lý, DNNN có các loại hình:
- DNNN có hội đồng quản trị (HĐQT): hình thức này chỉ áp dụng đối với các Tổng
công ty Nhà nước và các DNNN độc lập có quy mô lớn. Đối với loại hình này, HĐQT
là cơ quan quản lý cao nhất của DN, thực hiện chức năng quản lý mọi hoạt động của
DN. HĐQT chịu trách nhiệm trước Chính phủ hoặc cơ quan quản lý nhà nước được
Chính phủ uỷ quyền về sự phát triển của DN theo mục tiêu mà Nhà nước giao phó.
- DNNN không có HĐQT: Được áp dụng đối với DNNN không phải là Tổng công ty
hoặc DNNN độc lập có quy mô vừa và nhỏ. Cơ cấu tổ chức quản lý theo mô hình này
bao gồm Giám đốc và bộ máy giúp việc. Giám đốc là người có quyền điều hành cao
nhất trong DN, là người đại diện theo pháp luật của DN, chịu trách nhiệm trước người

nguồn lực của xã hội… Chúng ta thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần, trong đó KTNN vẫn giữ vai trò chủ đạo, điều tiết, định
hướng cho các thành phần khác. Như vậy trong hệ thống DN của nền kinh tế nhiều
thành phần, DNNN có vai trò là một bộ phận cấu thành của KTNN. KTNN và DNNN
vẫn nắm giữ vai trò chủ đạo để thúc đẩy nền kinh tế phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội.
Đặc điểm của các nước chậm phát triển là cơ cấu kinh tế bất hợp lý, công
nghiệp chưa phát triển, nông nghiệp lạc hậu, thị trường giao lưu trao đổi hàng hoá hạn
hẹp, tổ chức sản xuất phân tán manh mún. Mức thu nhập bình quân của người dân
thấp. Để thực hiện chiến lược tăng tốc, rút ngắn và tạo dựng cơ sở kinh tế của Nhà
nước XHCN theo mô hình mới, Nhà nước tất yếu phải lựa chọn giải pháp phát triển
các DNNN, tăng cường KTNN. Ở đây, việc lựa chọn này không mang tính chủ quan,
mà là một tất yếu lịch sử trong phát triển nền kinh tế của mỗi quốc gia đang ở trình độ
kinh tế chậm phát triển.

8 Trong nền KTTT hiện đại ở các nước công nghiệp phát triển, DNNN không thể
hiện rõ vai trò của một công cụ để chính phủ can thiệp trực tiếp vào nền kinh tế.
Nhưng ở các nước chậm phát triển, hệ thống DN còn kém phát triển, đặc biệt là khu
vực DN tư nhân còn nhỏ bé, lực lượng kinh tế vĩ mô của Nhà nước còn hạn chế thì
việc phát triển hệ thống DNNN với nhiều DN quy mô lớn, trình độ công nghệ cao…là
một giải pháp có tính quyết định đến việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo định hướng nhiều thành phần và mở cửa hội nhập. DNNN có thể
trở thành những công cụ trực tiếp để tham gia khắc phục những hạn chế của KTTT
khi nó đủ khả năng cung cấp những hàng hoá và dịch vụ công cộng có ý nghĩa đặc
biệt đối với sinh hoạt chung của xã hội mà tư nhân và các thành phần kinh tế khác
không muốn hoặc không có khả năng đầu tư. Phát triển DNNN để tạo kết cấu hạ tầng
dịch vụ cho nền kinh tế, góp phần nâng cao hiệu quả và phát triển bền vững lâu dài
nền kinh tế.

Ngân hàng bắt nguồn từ một công việc rất đơn giản là giữ các đồ vật quý cho
những người sở hữu nó tránh mất mát, đổi lại người chủ sở hữu phải trả cho người
cầm giữ hộ một khoản tiền công. Khi xã hội phát triển, thương mại phát triển, nhu cầu
về tiền ngày càng lớn thì ngân hàng trở thành nơi giữ tiền cho những người có tiền và
cung cấp tiền cho những người cần tiền. Ngân hàng là một định chế tài chính trung
gian, sẽ huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội và dùng chính tiền đó cho các cá nhân và
tổ chức vay lại, và rất hiếm khi có tình trạng cùng một lúc tất cả chủ tiền gửi đến đòi
nợ ngân hàng, đó chính là nguyên tắc cơ bản đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng.
Căn cứ vào chức năng, ngân hàng được chia làm hai loại: ngân hàng thương mại và
ngân hàng Nhà nước.
Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ bản nhất của
ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn. Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa
các cá nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi khan thiếu. Hoạt động
của ngân hàng thương mại nhằm mục đích kinh doanh một hàng hóa đặc biệt đó là
"vốn- tiền", trả lãi suất huy động vốn thấp hơn lãi suất cho vay vốn, và phần chênh
lệch lãi suất đó chính là lợi nhuận của ngân hàng thương mại.. Hoạt động của ngân

10hàng thương mại phục vụ cho mọi nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân chúng, loại
hình doanh nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội.
Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, ngân hàng thương mại thực
sự đóng một vai trò rất quan trọng, vì nó đảm nhận vai trò giữ cho mạch máu (dòng
vốn) của nền kinh tế được lưu thông và có vậy mới góp phần bôi trơn cho hoạt động
của một nền kinh tế thị trường còn non yếu. Năm 2005-2006 Việt Nam đã tích
cực đẩy mạnh quá trình cổ phần hoá các ngân hàng thương mại Nhà nước với
mục đích quan trọng nhất là nâng cao năng lực tài chính của các tổ chức này.
Tính đến tháng 2-2007 đã có 34 ngân hàng thương mại hoàn tất việc cổ phần hóa với
tổng số vốn điều lệ trên 21.000 tỷ đồng .

hàng đáp ứng được nhu cầu lớn về vốn phát sinh trong quá trình SXKD của mọi đối
tượng khách hàng trong nền kinh tế.
Thứ hai, tín dụng ngân hàng cho vay chủ yếu bằng nguồn vốn huy động bên
ngoài chứ không phải hoàn toàn là vốn thuộc sở hữu của ngân hàng mình như tín
dụng nặng lãi hay tín dụng thương mại.
Thứ ba, tín dụng ngân hàng mang tính hoàn trả và có lãi đúng theo thời hạn
quy định. Ngân hàng chỉ cho phép khách hàng vay trong thời hạn ghi trong hợp đồng
tín dụng, khi hết thời hạn khách hàng có nghĩa vụ trả tiền cho ngân hàng cả gốc và lãi.
Chính đặc trưng này đã có tác động lớn tới hoạt động của các DN trong việc hoạch
định kế hoạch sử dụng vốn tối ưu, và nó cũng chính là một nguyên tắc hoạt động của
ngân hàng. Tín dụng ngân hàng đáp ứng mọi nhu cầu hợp pháp của người vay, đối
tượng của tín dụng ngân hàng là tiền tệ, nên khắc phục được hạn chế của tín dụng
thương mại. Đây chính là tính ưu việt của tín dụng ngân hàng mà trong tín dụng
thương mại không có được.
Như vậy, có thể nói rằng tín dụng ngân hàng ra đời là một tất yếu khách quan
kịp thời khắc phục những hạn chế của tín dụng thương mại cả về quy mô và chất
lượng tín dụng. Khi nền kinh tế đang ngày càng toàn cầu hoá ngày càng nhanh thì
khối lượng và chất lượng tín dụng ngân hàng ngày càng đòi hỏi ở mức độ cao hơn, nó
chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng khối lượng tín dụng của nền kinh tế, tín dụng

12ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu hoá hiện nay.
Để thuận tiện cho việc quản lý cũng như nghiên cứu người ta thường phân loại
tín dụng theo các tiêu thức khác nhau.
+ Căn cứ vào thời hạn cho vay thì chia làm 3 loại:
- Cho vay ngắn hạn ( từ 12 tháng trở xuống ): Đây là loại hình cho vay có thời
hạn đến 12 tháng và được sử dụng để bù đắp thiếu hụt vốn lưu động của DN
và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Đối với Ngân hàng thì tín dụng

- Cho vay
- Thuê mua
- Chiết khấu thương phiếu
- Bảo lãnh
+ Căn cứ theo khách hàng:
- Cho vay DN
- Cho vay hộ sản xuất
- Cho vay các tổ chức tài chính
- Cho vay dân cư
+ Căn cứ vào hình thức hoàn trả:
- Cho vay trả góp: Là loại hình cho vay mà trong đó khách hàng hoàn trả vốn
gốc và lãi theo định kỳ. Nó chủ yếu được áp dụng trong cho vay bất động sản
nhà ở, cho vay tiêu dùng, cho vay đối với những người kinh doanh nhỏ.
- Cho vay phi trả góp: Là loại hình cho vay mà tiền vay và lãi được thanh toán
một lần theo kỳ hạn đã thoả thuận.
Ngoài ra còn có một số tiêu thức khác như căn cứ vào điều kiện tín dụng có đảm bảo
hay không, căn cứ vào lãi suất thì có tín dụng theo lãi suất cố định và theo lãi suất
không cố định…
1.2. Hiệu quả hoạt động cho vay ( HQHĐCV ) của NHTM đối với DNNN
1.2.1. Khái niệm HQHĐCV của NHTM
Trong thời gian qua hoạt động cho vay của các Ngân hàng đã đạt được nhiều
thành công, đóng góp một phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội. Nó giúp

14cho quá trình lưu chuyển vốn trong nền kinh tế nhanh, kịp thời qua đó tạo ra sự
chuyển dịch cơ cấu sản xuất nhanh đáp ứng nhu cầu không ngừng gia tăng của xã hội.
Với chức năng trung gian tài chính tiền tệ lớn nhất ở Việt Nam, hiện nay các NHTM
đã huy động được một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị ban đầu. Giá trị khi trở về với

động của mình, phải tự trang trải công nợ nên khi vay vốn các DN đều phải tính toán
khi nào cần vay vốn, vay bao nhiêu, sử dụng vốn vay như thế nào để đem lại hiệu quả
cao nhất, vừa đảm bảo hoạt động kinh doanh của mình, vừa trả được nợ cho ngân
hàng đúng hạn cả gốc và lãi.
+ Xét trên góc độ hiệu quả xã hội thì một khoản cho vay có hiệu quả sẽ góp
phần thực hiện các mục tiêu của Nhà nước như cân bằng kinh tế giữa các thành phần,
các vùng kinh tế hay trong việc giải quyết công ăn việc làm cho người dân… Các DN
có mạnh, hoạt động có hiệu quả thì mới phát huy được hết những vai trò, tính năng
của mình trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước.
1.2.2. Ý nghĩa của việc nâng cao HQHĐCV
Đất nước đang chuyển mình với những bước đi đúng hướng, những thành tựu
mới trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Xu hướng toàn cầu hoá trên thế
giới cùng với việc Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO đã mở ra nhiều
cơ hội mới cho mọi nhà, mọi doanh nghiệp, mọi lĩnh vực trong đó không thể không
nói tới ngân hàng - một lĩnh vực hết sức nhạy cảm ở Việt Nam. Chúng ta đang bắt
đầu thực hiện các cam kết mở cửa, khiến cho các doanh nghiệp đứng trước sự cạnh
tranh ngày càng khốc liệt, cơ hội nhiều nhưng thách thức cũng không nhỏ. Điều này
tạo ra những ảnh hưởng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp,
vì thế ảnh hưởng đến hoạt động của các ngân hàng thương mại (NHTM) nói chung và
hoạt động tín dụng ngân hàng nói riêng. Trong hoạt động của các NHTM Việt Nam
hiện nay, hoạt động tín dụng là một nghiệp vụ truyền thống, nền tảng, chiếm tỉ trọng
cao trong cơ cấu tài sản và cơ cấu thu nhập, nhưng cũng là hoạt động phức tạp, tiềm
ẩn những rủi ro lớn cho các NHTM. Tín dụng trong điều kiện trong nền kinh tế mở,
cạnh tranh và hội nhập vẫn tiếp tục đóng một vai trò quan trọng trong kinh doanh
ngân hàng và đang đặt ra những yêu cầu mới về nâng cao hiệu quả hoạt động tín
dụng.

16hợp với khả năng thực lực của bản thân ngân hàng. HQHĐCV làm tăng khả năng sinh
lợi của sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, thu hồi được vốn vay giúp cho ngân hàng xây
dựng được cơ cấu tài sản có phù hợp với tài sản nợ. Có thể nói HQHĐCV theo quan
điểm của NHTM là thuật ngữ phản ánh mức độ an toàn trong cho vay và khả năng
sinh lời của ngân hàng do hoạt động cho vay mang lại nên có thể nói hoạt động cho
vay phải gắn với HQHĐCV.
Thứ nhất, nâng cao HQCV góp phần làm tăng quy mô tín dụng, mở rộng thị
trường, tăng thị phần của ngân hàng mình. Một khi HQCV được nâng cao thì các hoạt
động khác của ngân hàng cũng được nâng cao lên một tầm cao mới, đặc biệt là trong
hoạt động thanh toán của ngân hàng. Nếu bạn là một DN đang có nhu cầu vay vốn thì
vấn đề chọn ngân hàng nào sẽ là người cung ứng vốn cho mình, tiêu chí lựa chọn
ngoài việc họ thực hiện thủ tục cho vay gọn nhẹ sẽ là tình hình cho vay đối với các
khách hàng khác trên thị trường, nếu đạt kết quả tốt trong hoạt động cho vay trước đó
thì bạn cũng sẽ hy vọng họ sẽ cung ứng vốn cho bạn mang lại một kết quả kinh doanh
tốt trong tương lai. Và như vậy bạn đã lựa chọn ngân hàng nào có HQHĐCV tốt. Từ
đó ngân hàng không chỉ làm cho thị phần của mình tăng mà còn làm cho uy tín ngày
càng cao.
Thứ hai, nâng cao HQHĐCV để tăng thu nhập của ngân hàng và đồng thời
giảm thiểu các rủi ro tín dụng. Chỉ tiêu HQHĐCV là một yếu tố quyết định nhất đối
với lợi nhuận của ngân hàng, HQHĐCV làm tăng khả năng sinh lời của các sản phẩm
ngân hàng, dịch vụ ngân hàng do đó giảm được sự chậm trễ không cần thiết, giảm chi
phí nghiệp vụ, quản lý. Và giảm thiểu rủi ro tín dụng vì HQHĐCV cao và rủi ro tín
dụng là hai mặt trái ngược nhau nên nâng cao HQHĐCV là đảm bảo cho an toàn của
ngân hàng..
b. Đối với khách hàng
Các khách hàng là DNNN sử dụng vốn tự có để SXKD mà không sử dụng vốn
vay là hầu như không có, vì thế nên tín dụng ngân hàng là công cụ mà các DN hay sử
dụng nhất, sử dụng tín dụng ngân hàng kết hợp với vốn tự có một cách hợp lý để cho

khác lại có một chủ thể khác thiếu vốn, ngân hàng đã đứng ra làm cầu nối giữa hai
thành phần này với nhau làm cho cung và cầu sớm gặp nhau. Góp phần cho nguồn

19vốn trong xã hội được sử dụng một cách tối ưu và có hiệu quả nhất. Nâng cao
HQHĐCV làm cho NHNN thực hiện được chính sách tiền tệ quốc gia, ổn định đồng
tiền, hạn chế lạm phát ở mức phù hợp và tăng trưởng kinh tế.
1.2.3. Một số chỉ tiêu dùng để phản ánh HQHĐCV gắn với DNNN
a. Dư nợ cho vay DNNN
Là chỉ tiêu phản ánh tại một thời điểm xác định nào đó ngân hàng hiện còn cho
vay bao nhiêu, và đây cũng là khoản mà ngân hàng cần phải thu về.
Tỷ lệ dư nợ =
Dư nợ cho vay DNNN
Tổng dư nợ cho vay
b. Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ cho vay DNNN
Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ =
Dư nợ cho vay DNNN năm sau
Dư nợ cho vay DNNN năm trước
c./ Nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Dư nợ quá hạn cho vay DNNN
Tổng dư nợ cho vay DNNN
Là chỉ tiêu phản ánh các khoản nợ khi đến hạn mà khách hàng không trả được
cho ngân hàng mà không có nguyên nhân chính đáng thì ngân hàng sẽ chuyển từ tài
khoản dư nợ sang tài khoản quản lý khác gọi là nợ quá hạn. Nợ quá hạn là chỉ tiêu
phản ánh chất lượng của nghiệp vụ tín dụng tại ngân hàng.
d. Tỷ lệ dư nợ cho vay DNNN có TSĐB
Tỷ lệ dư nợ cho vay có TSĐB =

thể đảm bảo mục tiêu nâng cao hiệu quả, kiểm soát rủi ro, phát triển bền vững hoạt
động tín dụng, nhất thiết phải xây dựng một chính sách tín dụng nhất quán và hợp lý,
thích ứng với môi trường kinh doanh, phù hợp với đặc điểm của NHTM, phát huy
được các thế mạnh, khắc phục và hạn chế được các điểm yếu nhằm mục tiêu an toàn
và sinh lợi. Trong giai đoạn bắt đầu thực hiện các cam kết mở cửa thị trường ngân
hàng, trước sự cạnh tranh của các ngân hàng đối thủ nước ngoài, nguy cơ thị phần tín
dụng của NHTM bị co hẹp ngày một gần hơn thì việc nâng cao hiệu quả hoạt động tín

21dụng đảm bảo an toàn, phát triển cần bắt đầu ngay từ việc cải cách chính sách tín
dụng. Hiện tại các NHTM đã bước đầu xây dựng chính sách tín dụng, nhưng vẫn
chưa phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế, chưa thực sự phát huy hiệu quả
quản lý ở Trụ sở chính và thực thi thông suốt ở các đơn vị trực thuộc và ở mỗi cán bộ
tín dụng. Có thể nêu cụ thể một số việc như: xác định ngành hàng chiến lược, khách
hàng chiến lược vẫn còn lúng túng; tăng trưởng tín dụng chưa đi kèm với quản lý rủi
ro tín dụng; chính sách lãi suất cho vay còn cứng nhắc, mức lãi suất cho vay hầu như
giống nhau đối với với tất cả các khoản vay; một số NHTM đã thực hiện tách các
chức năng quan hệ khách hàng, thẩm định rủi ro, quyết định tín dụng, quản lý nợ
nhưng mới chỉ về mặt hình thức tổ chức, thiếu tính độc lập, khách quan. ... Một số
vấn đề liên quan tới hiệu quả tín dụng còn phải kể đến việc tổ chức hạch toán, phân
loại nợ, thống kê thông tin tín dụng chưa đảm bảo tính chính xác, minh bạch để làm
cơ sở cho việc quản lý tín dụng có hiệu quả; việc tổ chức hệ thống thông tin phục vụ
hoạt động tín dụng còn thiếu và yếu, chưa đồng bộ và độ tin cậy không cao, chất
lượng cán bộ tín dụng còn hạn chế, kỹ năng giao tiếp, chăm sóc khách hàng làm chưa
bài bản, chuyên nghiệp...
Ngoài ra công tác thẩm định cũng rất quan trọng trong việc nâng cao
hiệu quả cho vay. Thẩm định tín dụng là việc tổ chức xem xét một cách khách quan,
toàn diện những nội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp tới tính khả thi của phương án

hoạt từ đó hạn chế các rủi ro mà tín dụng mang lại.
Và một yếu tố vô cùng quan trọng nữa là yếu tố con người, đó là yếu tố quan
trọng nhất quyết định đến sự thành bại của bất cứ một hoạt động nào trên mọi lĩnh
vực. Đối với hoạt động tín dụng thì yếu tố con người lại càng đóng một vai trò quan
trọng, nó quyết định đến chất lượng tín dụng, chất lượng dịch vụ và hình ảnh của
NHTM và từ đó quyết định đến hiệu quả tín dụng của Ngân hàng. Bởi vậy, cần dành
một quỹ thời gian để hướng dẫn tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về chuyên
môn nghiệp vụ, chú trọng nghiệp vụ marketing, kỹ năng bán hàng, thương thảo hợp
đồng và văn hoá kinh doanh. Đồng thời phải thực hiện tiêu chuẩn hoá cán bộ tín dụng

23và kiên quyết loại bỏ, thuyên chuyển sang bộ phận khác những cán bộ yếu về tư cách
đạo đức, thiếu trung thực, những cán bộ tín dụng thiếu kiến thức chuyên môn nghiệp
Ngoài ra cơ sở vật chất của ngân hàng phục vụ cho quá trình hoạt động thẩm
định khách hàng cũng như thẩm định dự án cũng góp phần nâng cao chất lượng tín
dụng. Nó là công cụ phương tiện cho việc thực hiện tổ chức quản lý hoạt động của
ngân hàng một cách cập nhật về thị trường vốn, cũng như theo dõi diễn biến của thị
trường và các đối thủ cạnh tranh.
1.3.2. Các nhân tố khách quan
Thứ nhất, môi trường xã hội tạo ra phong tục tập quán của mỗi con người và
hoạt động ngân hàng là một thành viên của nền kinh tế cũng nằm trong khuôn khổ đó,
hoạt động tín dụng chịu tác động của môi trường kinh tế chính trị và các quy định của
pháp luật Nhà nước.
Thứ hai, môi trường pháp lý: nước ta là một Nhà nước phát triển theo định
hướng XHCN nên có những nguyên tắc hoạt động nhất định của Nhà nước mà Ngân
hàng cũng chịu sự kiểm soát của Nhà nước thông qua các luật định của Chính phủ và
của NHNN. Một môi trường pháp lý thống nhất và ổn định sẽ là điều kiện thuận lợi
cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng như DN, nó tác động tới chất lượng tín

DN. Vì thế mà môi trường chính trị xã hội ổn định luôn là chỉ tiêu quan trọng mà mỗi
nhà ngân hàng mong muốn nếu muốn hoạt động tín dụng của nước mình đạt chất
lượng cao.
Trên đây là các nhân tố chủ yếu tác động đến chất lượng tín dụng, nó có thể gây
ra các rủi ro đối với các NHTM bất kỳ lúc nào. Chính vì thế NHTM cần phải thường
xuyên phải phân tích các nhân tố này đồng thời cần chủ động trong việc xây dựng các
yếu tố thuộc về khả năng của ngân hàng để từ đó ngăn ngừa các rủi ro có thể xảy ra
đồng thời ngày càng nâng cao HQCV của ngân hàng nói riêng và hoạt động kinh
doanh của NHTM nói chung.
CHƯƠNG II

25

Trích đoạn Phương hướng phát triển DNNN ở nước ta Tăng cường công tác huy động vốn để tài trợ cho các DNNN Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status