TẬP BÀI GIẢNG
PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
tháng 8 năm 2015
1
MỞ ĐẦU
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về tăng cường giáo dục
pháp luật trong các nhà trường thông qua các chương trình môn học, giáo
trình, tài liệu giảng dạy pháp luật bảo đảm đúng tinh thần và nội dung của Hiến
pháp và pháp luật hiện hành. Vì vậy, môn học Pháp luật đại cương là một môn
học bắt buộc trong chương trình đào tạo đại học, cao đẳng, và trung học
chuyên nghiệp được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt chương trình khung và
được đưa vào giảng dạy chính thức tại các trường đại học, cao đẳng và trung
học chuyên nghiệp trong cả nước theo Quyết định số 33/QĐ - GDĐT ngày 01
tháng 7 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Đây là môn học cung cấp những kiến thức cơ bản nhất về Nhà nước và
Pháp luật, các ngành luật cơ bản của hệ thống pháp luật Việt Nam cho sinh
viên trong thời lượng 45 tiết. Nhằm giúp sinh viên hệ cao đẳng nắm vững một
số kiến thức cơ bản về pháp luật, tạo cơ sở cho các em học tập tốt, sống và làm
việc theo Hiến pháp và pháp luật, nâng cao thêm kiến thức pháp luật thông qua
chương trình môn học.
Hiện nay có một số giáo trình môn Pháp luật đại cương nhưng chưa có
giáo trình nào viết đầy đủ chi tiết theo đúng phân khối chương trình của Bộ
Giáo dục và Đào tạo. Các giáo trình hiện đang sử dụng vừa nặng về lý luận,
thừa và thiếu về nội dung, không cập nhật kiến thức pháp luật hiện hành.
Để hoàn thành tập bài giảng, tác giả đã có sự nỗ lực, nghiêm túc, tham
khảo nhiều tài liệu và sự đóng góp, nhận xét của đồng nghiệp công tác tại cơ
quan. Tuy nhiên, tập bài giảng không tránh khỏi những hạn chế, khiếm khuyết,
tác giả rất mong nhận được những ý kiến góp ý của đồng nghiệp, các em sinh
viên và các bạn đọc để tập bài giảng được hoàn thiện hơn.
Phúc Yên, ngày 17 tháng 8 năm 2015
Tác giả
3
phục vụ họ, bảo vệ lợi ích của họ. Nguồn gốc nhà nước là khế ước xã hội nên
chủ quyền nhà nước thuộc về nhân dân (Locker).
+ Thuyết bạo lực: Nhà nước xuất hiện trực tiếp từ việc sử dụng bạo lực
của thị tộc này đối với thị tộc khác mà kết quả là thị tộc chiến thắng nghĩ ra
một hệ thống cơ quan đặc biệt - Nhà nước để nô dịch kẻ chiến bại (Humme).
+ Thuyết tâm lý: Nhà nước xuất hiện do nhu cầu tâm lý của con người
nguyên thuỷ luôn mong muốn phụ thuộc vào thủ lĩnh, giáo sỹ, nhà nước là tổ
chức của những người siêu nhân có sứ mạng lãnh đạo xã hội (Phoreder).
* Học thuyết Mác – Lênin về nguồn gốc của nhà nước
Học thuyết Mác - Lênin cho rằng: Nhà nước không tồn tại trong xã hội
Cộng sản nguyên thủy, nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội loài người đã phát
triển đến một giai đoạn nhất định.
Chế độ cộng sản nguyên thuỷ và tổ chức bộ lạc, thị tộc
Chế độ Cộng sản nguyên thủy là hình thái kinh tế - xã hội đầu tiên trong
lịch sử xã hội loài người. Đó là một xã hội không có giai cấp, chưa có nhà
nước, chưa có pháp luật. Nhưng những nguyên nhân đưa tới sự ra đời của nhà
nước lại nảy sinh từ chế độ xã hội đó. Hiểu nhà nước thì phải tìm hiểu chế độ
Cộng sản nguyên thủy và tổ chức thị tộc bộ lạc.
- Cơ sở kinh tế của chế độ Cộng sản nguyên thủy là sở hữu chung về tư
liệu sản xuất và sản phẩm lao động.
- Thị tộc là cơ sở tồn tại của xã hội Cộng sản nguyên thủy, trong thị tộc
mọi người đều bình đẳng không ai có đặc quyền, đặc lợi. Thị tộc, tổ chức theo
huyết thống.
- Quyền lực trong xã hội này là quyền lực công, gắn liền với xã hội,
không tách rời dân cư. Hội đồng thị tộc là tổ chức quyền lực cao nhất của thị
tộc, trong đó mọi người lớn tuổi không phân biệt đàn ông hay đàn bà đều là
thành viên của hội đồng thị tộc.
Hội đồng có quyết định tất cả các vấn đề quan trọng của thị tộc. Các
quyết định này thể hiện ý chí chung của tất cả mọi thành viên và có tính bắt
xung đột và giữ cho sự xung đột đó nằm trong vòng “trật tự”.
So với tổ chức thị tộc, Nhà nước có hai sự khác biệt lớn:
5
+ Tổ chức dân cư theo lãnh thổ,
+ Quyền lực nhà nước thuộc về giai cấp thống trị, quyền lực đó tách
khỏi dân cư, được thực hiện bằng một bộ máy cưỡng chế của nhà nước.
1.1.2. Bản chất của nhà nước
* Tính giai cấp của nhà nước
- Nhà nước xét về bản chất, trước hết là một bộ máy trấn áp đặc biệt của
giai cấp này đối với giai cấp khác, là bộ máy để duy trì sự thống trị giai cấp.
- Nhà nước là sản phẩm của xã hội có giai cấp và là sự biểu hiện của sự
không thể điều hoà được của các mâu thuẫn giai cấp đối kháng. Nhà nước là tổ
chức quyền lực chính trị đặc biệt. Trong xã hội có đối kháng giai cấp, quyền
lực chính trị chỉ thuộc về giai cấp thống trị hoặc liên minh giai cấp thống trị.
- Nhà nước là công cụ cơ bản của quyền lực chính trị trong xã hội có
giai cấp bởi nó tồn tại để bảo vệ lợi ích chủ yếu của giai cấp thống trị. Không
chỉ ở trong nước mà cả trong quan hệ quốc tế, nhà nước cũng thể hiện là tổ
chức của giai cấp thống trị.
- Nhà nước là một hiện tượng thuộc kiến trúc thượng tầng hình thành
trên một cơ sở kinh tế nhất định, đó là công cụ để duy trì sự thống trị của giai
cấp này với giai cấp khác.
- Nắm quyền lực về kinh tế và chính trị, giai cấp thống trị cũng bằng con
đường nhà nước để xây dựng hệ thống tư tưởng của giai cấp mình thành hệ tư
tưởng thống trị trong xã hội buộc giai cấp khác phải lệ thuộc vào hệ tư tưởng.
- Nhà nước là công cụ sắc bén thể hiện và thực hiện ý chí của giai cấp
cầm quyền.
Như vậy, Nhà nước là bộ máy để duy trì sự thống trị giai cấp, đồng thời
còn là bộ máy duy trì trật tự xã hội phù hợp với lợi ích giai cấp cầm quyền.
*Vai trò xã hội của nhà nước
Tính xã hội của nhà nước thể hiện: cùng với việc bảo vệ lợi ích của giai
Bộ máy Nhà nước ta có các đặc điểm sau:
+ Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân lao động. Nhân dân sử
dụng quyền lực Nhà nước thông qua các cơ quan Nhà nước do nhân dân trực
tíêp hoặc gián tiếp bầu ra. Trong đó, tập trung nhất là thông qua hệ thống cơ
7
quan quyền lực Nhà nước gồm Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Các
cơ quan khác đều ra đời từ cơ quan quyền lực Nhà nước, phải chịu trách nhiệm
và báo cáo công tác trước hệ thống cơ quan này.
+ Bộ máy Nhà nước ta vừa là tổ chức hành chính cưỡng chế, vừa là tổ
chức quản lý kinh tế, văn hoá xã hội.
+ Đội ngũ công chức, viên chức trong bộ máy nhà nước ta đại diện và
bảo vệ lợi ích cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động, liên hệ chặt chẽ
với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân.
+ Bộ máy nhà nước gồm nhiều cơ quan Nhà nước hợp thành, có mối
liên hệ chặt chẽ với nhau, thống nhất về quyền lực Nhà nước, có sự phân công
và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập
pháp, hành pháp và tư pháp. Tổ chức và hoạt động của cơ quan Nhà nước đều
phải do pháp luật quy định, tuân theo pháp luật.
1.2.2. Chức năng của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Việt Nam
Chức năng của nhà nước là những phương diện hoạt động chủ yếu của
nhà nước nhằm để thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trước nhà nước. Chức
năng nhà nước được xác định xuất phát từ bản chất nhà nước do cơ sở kinh tế
và cơ cấu giai cấp trong xã hội quyết định.
- Phân loại : căn cứ vào phạm vi hoạt động của chức năng nhà nước thì
nhà nước chia làm 2 nhóm:
+ Đối nội: là chức năng được thực hiện trong phạm vị nội bộ 1 đất nước
như đảm bảo chế độ kinh tế, giữ an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội trấn
áp những phần tử chống chế độ.
+ Đối ngoại: Thể hiện vai trò của nhà nước với các nhà nước khác, dân
+ Hệ thống các cơ quan kiểm sát gồm: Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát quân sự các cấp, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương và Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện.
Chức năng của hệ thống các cơ quan này là kiểm sát việc tuân theo pháp
luật và thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm do luật định.
* Những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước
9
Là những tư tưởng chỉ đạo, là căn cứ và là điểm xuất phát cho tổ chức
và hoạt động của các cơ quan Nhà nước tạo thành bộ máy Nhà nước. Tổ chức
và hoạt động của cơ quan Nhà nước tuân thủ các nguyên tắc này có ý nghĩa
quan trọng cho việc bảo đảm cho bộ máy Nhà nước hoạt động nhịp nhàng,
thống nhất, bảo đảm cho bộ máy nhà nước giữ vững được bản chất thực sự của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
- Nguyên tắc Đảng lãnh đạo tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước
Là nguyên tắc bảo đảm cho bộ máy nhà nước trong tổ chức và hoạt
động giữ được bản chất giai cấp sâu sắc và tính nhân dân rộng rãi. Đồng thời,
còn là nguyên tắc bảo đảm cho các hoạt động của bộ máy nhà nước có hiệu
lực, hiệu quả và căn cứ khoa học.
Đảng đề ra đường lối chính trị, chủ trương và định hướng lớn về tổ chức
và hoạt động của bộ máy Nhà nước. Đồng thời, Đảng lãnh đạo bằng công tác
cán bộ, giới thiệu những cán bộ ưu tú, có đức, có tài vào các cơ quan Nhà
nước. Đảng lãnh đạo bằng vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên, tổ
chức Đảng trong hệ thống các cơ quan Nhà nước.
Đảng lãnh đạo bộ máy nhà nước không có nghĩa là Đảng bao biện, làm
thay Nhà nước. Đảng lãnh đạo chính là phát huy vai trò, năng lực quản lý Nhà
nước. Phương pháp lãnh đạo của Đảng là giáo dục, thuyết phục và tuyên
truyền.
- Nguyên tắc tập trung dân chủ
Là nguyên tắc thể hiện sự kết hợp giữa tập trung và dân chủ, nghĩa là kết
hợp chặt chẽ giữa sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của cấp trên với tính năng
1.2.4.2.Đặc trưng của Nhà nước pháp quyền
- Có một hệ thống pháp luật đầy đủ và không chồng chéo.
- Là nhà nước của dân, do dân, vì dân.
- Quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp giữa các
cơ quan nhà nước.
- Là nhà nước tổ chức và hoạt động trên cơ sở hiến pháp, tôn trọng tính
tối thượng của hiến pháp và pháp luật.
11
- Tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, nâng
cao trách nhiệm pháp lý giữa nhà nước và công dân.
- Có một xã hội dân sự.
- Tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh, đầy đủ các điều ước quốc tế mà
Việt Nam là thành viên.
B. HƯỚNG DẪN ÔN TẬP
1. Trình bày các chức năng cơ bản của nhà nước.
2. Phân tích các tiêu chí xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam.
Phân tích sự tương đồng của các tiêu chí trên của Việt Nam so với thế giới.
3. Các thuộc tính cơ bản của nhà nước.
4. Lý giải nguồn gốc ra đời của nhà nước.
12
CHƯƠNG 2. LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT
A. LÝ THUYẾT
2.1. Nguồn gốc của pháp luật
2.1.1. Nguồn gốc của pháp luật
2.1.1.1. Nguồn gốc của pháp luật
* Trong xã hội Cộng sản nguyên thủy không có pháp luật nhưng lại tồn
tại những quy tắc xử sự chung thống nhất
- Bất kỳ xã hội nào cũng nảy sinh nhu cầu khách quan là phải tồn tại trong
trật tự, trong đó các thành viên của nó phải tuân theo các chuẩn mực chung, thống
nhất, phù hợp với những điều kiện của xã hội và phù hợp với lợi ích tập thể.
“hợp lý”, “khách quan”, nghĩa là những cách xử sự được số đông chấp nhận,
phù hợp với lợi ích của số đông trong xã hội.
- Tính dân tộc của pháp luật
Pháp luật được người dân chấp nhận là của mình thì nó phải được xây
dựng trên nền tảng dân tộc, thấm nhuần tính dân tộc. Nó phải phản ánh được
những phong tục, tập quán, đặc điểm lịch sử, điều kiện địa lý và trình độ văn
minh, văn hóa của dân tộc.
- Tính mở của pháp luật
Pháp luật phải là hệ thống pháp luật mở, sẵn sàng tiếp nhận những thành
tựu của nền văn minh, văn hóa pháp lý của nhân loại làm giàu cho nội dung
của pháp luật.
2.1.3. Các chức năng của pháp luật
- Pháp luật thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước;
- Pháp luật là cơ sở để giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội;
- Pháp luật là phương tiện bảo đảm thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa,
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm công bằng xã hội;
- Pháp luật là cơ sở để xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước.
14
2.1.4. Các thuộc tính của pháp luật
- Tính quy phạm phổ biến: Tức là nói đến tính khuôn mẫu, mực thước,
mô hình xử sự có tính phổ biến chung. Bởi vậy, nội dung của các quy tắc pháp
luật là các quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân, của nhà nước.
Ví dụ: Trong quan hệ mua bán phải tuân theo nguyên tắc “thuận mua
vừa bán”. Tuy nhiên, trong xã hội không chỉ có pháp luật là có tính quy phạm.
Đạo đức, tín điều tôn giáo cũng có tính chất này nhưng tính quy phạm của
pháp luật mang tính phổ biến. Đây chính là dấu hiệu để phân biệt pháp luật với
các loại quy phạm nói trên.
Tính quy phạm phổ biến của pháp luật được thể hiện ở các khía cạnh
sau:
+ Là khuôn mẫu chung cho nhiều người.
pháp luật được tôn trọng và thực hiện. Việc tuân theo các quy tắc đạo đức chủ
yếu bằng lòng tin và tính tự giác. Người nào vi phạm các quy tắc đạo đức thì bị
dư luận, xã hội lên án. Trái lại, việc tuân theo các quy tắc phạm luật còn được
đảm bảo bằng quyền lực Nhà nước, nghĩa là bằng sự cưỡng chế của các cơ
quan Nhà nước.
2.2. Quy phạm pháp luật
2.2.1. Khái niệm quy phạm pháp luật
- Khái niệm
Quy phạm pháp luật là những quy tắc xử sự có tính chất khuôn mẫu, bắt
buộc mọi chủ thể phải tuân thủ, được biểu thị bằng hình thức nhất định, do nhà
nước ban hành hoặc thừa nhận, được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các biện
pháp cưỡng chế của nhà nước, nhằm mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội.
- Đặc điểm của quy phạm pháp luật.
+ Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung
+ Là tiêu chuẩn để xác định giới hạn và đánh giá hành vi của con người
+ Do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện
+ Quy phạm pháp luật là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội.
16
2.2.2. Cấu trúc của quy phạm pháp luật
- Giả định: Là một phần của quy phạm pháp luật quy phạm pháp luật
trong đó nêu ra tình huống có thể xảy ra trong đời sống xã hội mà quy phạm
pháp luật sẽ tác động đối với những chủ thể nhất định.
- Quy định: Là một phần của quy phạm pháp luật nêu lên những cách xử
sự mà các chủ thể có thể hoặc buộc phải thực hiện.
- Chế tài: Là các biện pháp tác động của nhà nước nếu không thực hiện
hành vi xử sự theo quy định.
2.3. Văn bản quy phạm pháp luật
2.3.1. Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật
- Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật
- Khái niệm: Theo khoản 1, Điều 1, Luật ban hành văn bản quy phạm
tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.
7. Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
8. Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
9. Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước.
10. Nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa
Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội.
11. Thông tư liên tịch giữa Chánh án Toà án nhân dân tối cao với Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
12. Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân.
2.3.3. Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật
2.3.3.1. Thời điểm có hiệu lực và việc đăng công báo
- Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được quy định
trong văn bản nhưng không sớm hơn 45 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban
hành. Trong tình trạng khẩn cấp thì có hiệu lực kể từ ngày công bố hoặc ký
ban hành nhưng phải đăng tải ngay trên trang thông tin điện từ của cơ quan ban
hành và phải được đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng; đăng công báo
chậm nhất sau 2 ngày làm việc kể từ ngày ký.
18
- Văn bản quy phạm pháp luật phải được đăng Công báo; văn bản quy
phạm pháp luật không đăng Công báo thì không có hiệu lực thi hành, trừ
trường hợp văn bản có nội dung bí mật nhà nước và các trường hợp quy định
trong tình trạng khẩn cấp nêu trên.
- Trong thời hạn chậm nhất là 2 ngày làm việc, kể từ ngày công bố hoặc
ký ban hành, cơ quan ban hành phải gửi văn bản đến Công báo để đăng công
báo. Cơ quan Công báo có trách nhiệm đăng toàn văn chậm nhất là 15 ngày, kể
từ ngày nhận được văn bản.
2.3.3.2. Hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật
- Chỉ trong trường hợp cần thiết, văn bản quy phạm pháp luật mới được
* Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật
- Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có
hiệu lực.
- Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác
nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.
- Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ
quan nhà nước ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp
dụng quy định của văn bản được ban hành sau.
- Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định
trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành
vi xảy ra trước ngày văn bản mới có hiệu lực thì áp dụng văn bản quy phạm
pháp luật mới.
2.4. Quan hệ pháp luật
2.4.1. Khái niệm quan hệ pháp luật
Quan hệ pháp luật là hình thức pháp lý của các quan hệ xã hôi xuất hiện
dưới tác động, điều chỉnh của quy phạm pháp luật và sự kiện pháp lý.
2.4.2. Đặc điểm của quan hệ pháp luật
- Là quan hệ mang tính ý chí.
- Là một loại quan hệ tư tưởng, quan hệ của kiến trúc thượng tầng.
- Xuất hiện trên cơ sở quy phạm pháp luật.
20
- Là quan hệ mà các bên tham gia quan hệ đó mang những quyền chủ
thể và nghĩa vụ pháp lý.
- Sự thực hiện quan hệ pháp luật được đảm bảo bằng sự cưỡng chế của
nhà nước.
- Có tính xác định chặt chẽ.
2.4.3. Cấu trúc của quan hệ pháp luật
- Chủ thể của quan hệ pháp luật
Chủ thể của quan hệ pháp luật là cá nhân, tổ chức có khả năng trở thành
các bên tham gia quan hệ pháp luật có được các quyền chủ thể và nghĩa vụ
trong quan hệ pháp luật thông qua hành vi của mình hướng tới các đối tượng
vật chất, tinh thần hoặc thực hiện các quyền chính trị như bầu cử, lập hội, biểu
tình, Những hành vi hướng tới các đối tượng luôn gắn chặt với quyền và nghĩa
vụ pháp lý của các chủ thể trong quan hệ pháp luật.
+ Đối tượng mà hành vi của các chủ thể hướng tới trong quan hệ pháp
luật thường là lợi ích vật chất, giá trị tinh thần hoặc lợi ích chính trị. Do vậy,
các đối tượng như : tài sản, danh dự, tự do, là khách thể của hành vi các chủ
thể trong quan hệ pháp luật.
* Sự kiện pháp lý
- Khái niệm: Sự kiện pháp lý là những tình huống, hiện tượng, quá trình
xảy ra trong đời sống có liên quan tới sự xuất hiện, thay đổi và chấm dứt các
quan hệ pháp luật.
- Phân loại sự kiện pháp lý:
+ Căn cứ vào hậu quả do sự kiện pháp lý gây ra: Sự kiện pháp lý làm
xuất hiện, sự kiện pháp lý làm thay đổi và sự kiện pháp lý làm chấm dứt các
quan hệ pháp luật.
+ Căn cứ vào số lượng, điều kiện hoàn cảnh làm nảy sinh hậu quả pháp
lý: Sự kiện pháp lý đơn giản, sự kiện pháp lý phức tạp.
+ Căn cứ vào dấu hiệu ý chí, sự kiện pháp lý chia thành: sự biến (không
phụ thuộc ý chí) và hành vi.
2.5. Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý
22
2.5.1. Vi phạm pháp luật
2.5.1.1. Khái niệm
Là hành vi hành động hoặc không hành động trái pháp luật và có lỗi do
chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại đến các quan hệ
xã hội được pháp luật bảo vệ.
+ Hành vi của con người trong khuôn khổ của pháp luật quy định
thường được chia làm hai loại: Hành vi hợp pháp và hành vi bất hợp pháp.
- Hành vi hợp pháp: Là hành vi tuân thủ, đúng các quy định của pháp
tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh,
+ Vi phạm hành chính; Là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một
cách cố ý hay vô ý xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là
tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính.
+ Vi phạm dân sự: là những hành vi trái pháp luật, có lỗi xâm phạm tới
những quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân có liên quan tới tài sản, quan hệ phi
tài sản.
+ Vi phạm kỷ luật: là hành vi có lỗi, trái với những quy chế, quy tắc xác
lập trong nội bộ một cơ quan, xí nghiệp, trường học, không thực hiện đúng kỷ
luật lao động, học tập, phục vụ được quy định trong nội quy, quy chế của cơ
quan,
2.5.2. Trách nhiệm pháp lý
2.5.2.1. Khái niệm
Là một loại quan hệ pháp luật đặc biệt giữa nhà nước với chủ thể vi
phạm pháp luật, trong đó bên vi phạm pháp luật phải gánh chịu những hậu quả
bất lợi, những biện pháp cưỡng chế nhà nước được quy định ở chế tài của các
quy phạm pháp luật.
2.5.2.2. Các loại trách nhiệm pháp lý
+ Trách nhiệm pháp lý hình sự: là loại trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc
nhất mà toà án nhân danh nhà nước áp dụng đối với những người có hành vi
phạm tội được quy định trong Bộ luật hình sự.
24
+ Trách nhiệm pháp lý hành chính; là loại trách nhiệm pháp lý do các cơ
quan quản lý nhà nước áp dụng đối với mọi chủ thể khi họ vi phạm pháp luật
hành chính.
+ Trách nhiệm pháp lý dân sự: là loại trách nhiệm pháp lý do toà án áp
dụng đối với mọi chủ thể khi họ vi phạm pháp luật dân sự.
+ Kỷ luật: Là loại trách nhiệm pháp lý do thủ trưởng các cơ quan đơn vị
áp dụng đối với cán bộ công nhân viên của cơ quan mình khi họ vi phạm nội
quy, quy chế trong nội bộ cơ quan, xí nghiệp.