Bản chất của chủ nghĩa yêu nước việt nam - Pdf 30

Bản chất của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam (Kinh nghiệm lịch sử)

I. Nhân loại từ khi hình thành các quốc gia, cộng đồng dân tộc, thì bản năng gắn bó và bảo vệ
không gian sinh tồn của sinh học đã vận động, phát triển thành tinh thần yêu nước, thành văn hóa yêu
nước, thương nòi. Như vậy, yêu nước là thuộc tính phổ biến mang tầm nhân loại. Yêu nước không phải là
độc quyền của bất kỳ một cộng đồng, một giai tầng, một thế hệ nào.
Yêu nước, chống ngoại xâm thì cộng đồng nào, dân tộc nào cũng kiên cường bất khuất, không
chịu làm nô lệ. Vì thế, câu khẩu hiệu "Không có gì quý hơn Độc lập Tự do" mà Hồ Chí Minh - Chủ tịch nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tổng kết, không chỉ cộng hưởng với nhận thức, khát vọng của nhân dân
Việt Nam mà cũng đồng vọng với lương tri của mọi cộng đồng nhân loại.
Nhưng bên cạnh điểm chung, phổ biến đó, thì biểu hiện (hay là động thái vận động thể hiện bản
chất) của yêu nước lại luôn mang dấu ấn của mỗi cộng đồng, thời đại, lịch sử cụ thể. Những biểu hiện cụ
thể đó là kết quả tổng hợp, là sản phẩm của một quá trình lịch sử - tự nhiên trong tiến trình phát triển kinh tế
- chính trị - xã hội của mỗi quốc gia, mà trước hết là phụ thuộc vào năng lực, phẩm chất bộ phận cầm
quyền, lãnh đạo quốc gia trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể của nó. Chủ nghĩa yêu nước của các quốc
gia - dân tộc vì thế mang một định danh cụ thể: Chủ nghĩa yêu nước Hoa Kỳ, tinh thần yêu nước Trung
Hoa, Hàn Quốc, Lào v.v…
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam - sản phẩm của hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của một
cộng đồng 54 dân tộc anh em, sinh tồn trong không gian địa - chiến lược, địa - chính trị hết sức "mở" với
hàng ngàn biên giới km từ đất liền đến biển, hải đảo… không chỉ bị thử thách thường xuyên trước thiên
nhiên nắng nhiều, mưa lắm, bão táp, phong ba… mà còn trước những thế lực xâm lăng thường lớn mạnh,
giàu có hơn từ phương Bắc (Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh…), từ phương Tây (thực dân Pháp,
đế quốc Mỹ)…
II. Trước giặc ngoại xâm, tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam, không nghi ngờ gì nữa, như
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từng tổng kết từ giữa thế kỷ XX: "… mỗi khi tổ quốc bị xâm
lăng, thì tinh thần đó lại sôi nổi ".
Hồ Chí Minh cũng chỉ ra cái căn cốt tạo thành bản lĩnh, thành cội nguồn bùng nổ sức mạnh của
chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, ấy là tinh thần yêu nước sôi nổi ấy được "kết thành một làn sóng". Chính vì
kết thành một làn sóng mới tạo thành nguồn năng lượng "vô cùng mạnh mẽ, lướt qua mọi nguy hiểm khó
khăn, nhấn chìm tất cả lũ cướp nước và lũ bán nước".
Chân lý - điều tổng kết đó rõ ràng, hẳn nhiều người Việt Nam phải thuộc.

tiên, rồi đến xã tắc, còn vua thì coi nhẹ hơn).
Nhưng oái ăm thay, trong quá trình vận động, logic ấy lại thường bị đảo ngược.
Năm 937, sau khi phản chủ tướng Dương Đình Nghệ đưa quân sang để chiếm lấy ngôi vị ở Tống
Bình, rồi nghe tin Ngô Quyền kéo quân ra hỏi tội, thì chính Kiều Công Tiễn đã cầu cứu đến Nam Hán mang
quân sang giúp y…
Đấy là một thời điểm.
Thế kỷ XIII, trước giặc Thát Đát (quân xâm lươc Mông Cổ), có kẻ bổng lộc đầy mình, học vấn,
chức vụ cũng đầy mình, như Thái sư Trần Nhật Hiệu run rẩy viết khuyên vua Trần "nhập Tống", có kẻ tự
nhận đủ tài, sức, vị thế làm vua như Trần Ích Tắc… mà không được làm vua đã lặng lẽ cho người đến Vân
Đồn liên kết với thương nhân phương Bắc, xúi, hẹn nhà Nguyên cất quân sang xâm lược, rồi đến trước
năm 1285 đem cả gia đình chạy theo quân giặc…
Lại có kẻ được cử triều đình cử đi sứ, nhưng lại được nhà Nguyên phong cho làm An Nam quốc
vương, vẫn im ỉm nhận danh tước, theo quân xâm lược hộ tống về nước…
Đấy là một thời điểm.
Thế kỷ XVIII, để lấy lại ngai vàng mục ruỗng, suy đồi mà tự mình không giữ được hàng trăm năm
trước sự chia rẻ mâu thuẫn lợi quyền, nhóm Lê Chiêu Thông đã lặn lội sang cầu cứu nhà Thanh cất quân
sang để giúp.
Đó là một thời điểm nữa…
Thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra động thái hay bản chất sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước
Việt Nam, như lịch sử đã hình thành và thẩm định là đồng nghĩa với đoàn kết "kết thành một làn sóng". Yêu
nước là tiềm tàng sức mạnh quật khởi, nhưng tiềm tàng đó chỉ trở thành hiện thưc một khi được tổ chức,
kết luyện lại thành một làn sóng, mới có thể hóa, bùng thành sức mạnh vượt qua mọi khó khăn thử thách,
nhấn chìm lũ cướp nước và bán nước.
Nói như Đức thánh Trần Hưng Đạo, sức mạnh đánh thắng oanh liệt 3 lần giặc Mông - Nguyên ở
thế kỷ XIII, là ở "vua tôi đồng tâm, anh em hòa thuận, cả nước góp sức".
Sức mạnh để làm nên Bình Ngô đại cáo, "rửa nỗi nhục ngàn thu", "mở nền thái bình", bước sang
trang Duy Tân - đổi mới của Đại Việt đầu thế kỷ XV, như Nguyễn Trãi tổng kết là từ "nêu hiệu gậy làm cờ, tụ
hội khắp bốn phương manh lệ, hòa rượu mời lính, trên dưới một dạ cha con"…
"Chúng chí thành thành"; "Một cây làm chẳng nên non/ Ba cây chụm lại nên hòn núi cao"… nhận
thức của nhân loại, hay dân gian Việt Nam cũng từ lâu hiểu sức mạnh của tinh thần đoàn kết.

Đấy cũng một thời.
Nhưng, lịch sử dân tộc Việt Nam không phải chỉ có như vậy.
Thế kỷ XIII, trên chặng đường dựng xây và bảo vệ quốc gia Đại Việt, vương triều Trần - đại diện
cho quốc gia Đại Việt, còn cực kỳ non trẻ. Đến năm 1258, khi phải đương đầu với một đế chế ngoại xâm
Thát Đát to, mạnh, triều đình Đông A mới thành lập được gần 1/4 thế kỷ (thành lập năm 1225). Rồi 1285,
1288 khi Đại Việt phải lần thứ hai, lần thứ ba buộc phải tiến hành kháng chiến với quân Mông - Nguyên, là
khi vương triều Trần đã trải qua hơn nửa thế kỷ cầm quyền, cai quản đất nước. Nhưng, ở bất kỳ thời điểm
nào, dù một phần tư hay hơn nửa thể kỷ, vương triều Trần của Đại Việt ở nửa sau thế kỷ XIII chỉ bé nhỏ
như "bọ ngựa trước bành cỗ xe" của quân xâm lược (hình ảnh mà chính tướng giặc Ô Mã Nhi ngạo mạn)
vẫn luôn tìm thấy ở trong lòng dân tộc, quốc gia mình sức mạnh thần kỳ ở tinh thần yêu nước đoàn kết của
toàn thể Đại Việt và không ngừng tổ chức, khơi dậy, phát huy nó.
Đầu những năm 80 thế kỷ XIII, Đức Hưng Đạo Vương không chỉ công khai tình thế của quốc gia
cho toàn bộ tướng sĩ biết : "… Ta cùng các ngươi sinh ở đời nhiễu - nhương loạn lạc, lớn lên gặp phải buổi
gian - nan, trông thấy sứ giặc đi lại rầm - rập,nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà xỉ - mắng
triều - đình, đem thân dê chó mà bắt - nạt tể - phụ, lại cậy thế Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc-lụa, ỷ thế Vân - Nam
- vương để vét bạc vàng; của kho có hạn, lòng tham không cùng, khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói, giữ
sao cho khỏi tai - vạ về sau!"…
Triều đình Trần chăm lo xây dựng khối đoàn kết đó không chỉ bằng "không có áo thì ta cho áo,
không có ăn thì ta cho ăn, quan còn nhỏ thì ta thăng thưởng, lương có ít thì ta tăng cấp, đi thủy thì ta cho
thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa, lúc hoạn - nạn thì cùng nhau sống chết, lúc nhàn - hạ thì cùng nhau vui cười"
mà còn dám và biết đòi hỏi trách nhiệm, nghĩa vụ trước vương triều, quốc gia với tướng sĩ, chúng dân", mà
vẫn nghiêm khắc chỉ ra (chứ không vỗ về "dân túy"): "Các ngươi trông thấy chủ nhục mà không biết lo,
trông thấy quốc - sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc, mà không biết tức, tai nghe nhạc để
hiến ngụy sứ, mà không biết căm…". Vua Trần mời các vị bô lão mọi miền về điện Diên Hồng, và đặt trước
đại biểu của trăm họ, ngàn làng - như đặt, trao trước chính các đại thần, câu hỏi : " Nên hàng hay nên
đánh?".
Những hành động ấy không chỉ đơn giản là biểu hiện của GẦN DÂN, THÂN DÂN nữa, mà cao hơn
cả là TIN DÂN!
Và chính niềm tin mãnh liệt vào lòng dân như vậy, triều đình Trần đã nhận được từ "trăm lời như
cùng một miệng: " Đánh" - cộng hưởng quyết tâm của các bậc đại thần "Đầu tôi chưa rơi xuống đất xin bệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status