Khái quát lịch sử quan hệ Việt - Mường và các giai đoạn ngôn ngữ Việt - Mường - Pdf 30

Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỞ ĐẦU
“Quan hệ dân tộc” ở bất kỳ nước nào, giai đoạn lịch sử nào cũng hết sức
phong phú, được thể hiện trên nhiều lĩnh vực, chồng chéo, đan xen nhau. Lê Nin đã nói:
chừng nào mà các dân tộc khác nhau cùng chung sống trong một quốc gia thì họ gắn bó
với nhau bằng hàng triệu mối liên hệ về kinh tế, xã hội, văn hóa, pháp luật, phong tục tập
quán. Như vậy, quan hệ dân tộc là quan hệ tổng hợp, gồm cả giao lưu, giao tiếp, đan xen
giữa kinh tế, chính trị - xã hội, văn hóa, lãnh thổ, tôn giáo, chủng tộc. Chúng tác động,
ảnh hưởng liên hoàn lẫn nhau, giữa các tộc người, các địa phương, các quốc gia dân tộc
và trong từng khu vực; mang tính nhạy cảm, tính thời sự cấp bách, dễ bị lợi dụng và dễ
dẫn đến những mâu thuẫn, xung đột giữa các tộc người, các quốc gia. Chính vì thế, giải
quyết ổn thoả quan hệ dân tộc là yêu cầu chung để ổn định, hoà bình, hợp tác, phát triển
của từng tộc người, từng quốc gia và của cả nhân loại.
Việt Nam - một quốc gia đa dân tộc, sống trên mảnh đất Đông Dương - nơi cửa
ngõ nối Đông Nam Á lục địa với Đông Nam Á hải đảo, Việt Nam là nơi giao lưu của các
nền văn hoá trong khu vực. Ở đây có đủ 4 ngữ hệ lớn trong khu vực Đông Nam Á: Ngữ
hệ Nam Á, ngữ hệ Nam đảo, Ngữ hệ Thái và ngữ hệ Hán - Tạng. Tiếng nói của các dân
tộc Việt Nam thuộc 8 nhóm ngôn ngữ khác nhau: Nhóm Việt - Mường; Nhóm Môn –
Khơme; Nhóm Tày – Thái; Nhóm HMông – Dao; Nhóm Kađai; Nhóm Nam Đảo; Nhóm
Tạng - Miến; Nhóm Hán.
Mặc dù tiếng nói của các dân tộc thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ khác nhau, song do
các dân tộc sống rất xen kẽ với nhau nên một dân tộc thường biết tiếng các dân tộc có
quan hệ hàng ngày, và dù sống xen kẽ với nhau, giao lưu văn hoá với nhau, nhưng các
dân tộc vẫn lưu giữ được bản sắc văn hoá riêng của dân tộc mình.
Chính vì vậy, vấn đề “ Quan hệ dân tộc” giữa các dân tộc ở Việt Nam là một đề tài
phong phú và phức tạp luôn đặt ra cho các nhà nghiên cứu. Khái niệm “Dân tộc” ở đây là
dùng để chỉ một cộng đồng cụ thể (Tày, Thái, Việt, Mường, Hoa…), đó thực ra là khái
niệm “tộc người”, là một hình thái đặc thù của một tập đoàn người, một tập đoàn xã hội,
xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi bốn đặc
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368

chiếm khoảng 86,2% tổng dân số Việt Nam[5; 266].
Là cư dân có nguồn gốc bản địa lâu đời và phát triển từ thời nguyên thuỷ. Trong
suốt tiến trình phát triển của lịch sử Việt Nam, người Kinh luôn là trung tâm thu hút và
đoàn kết các dân tộc anh em xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nền kinh tế của người Kinh
trải qua hàng ngàn năm cho đến trước thời hiện đại (cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX) vẫn
là kinh tế nông nghiệp kết hợp với nghề thủ công truyền thống, được đánh giá là một nền
kinh tế tiêu biểu cho Việt Nam và khu vực. Về tổ chức xã hội, người Kinh sau khi thoát
khỏi cuộc sống hang động, đã định cư và tạo nên cuộc sống lấy làng (mà người xưa gọi là
kẻ) làm nơi định cư. Về văn hoá, dân tộc Kinh là một trong những dân tộc ở trong khu
vực luôn đạt đến trình độ văn hoá văn minh rực rỡ của mọi thời đại, từ văn minh Việt cổ,
văn minh Đại Việt sau thế kỷ X cho đến ngày nay đều chứng tỏ điều đó. Trong văn hoá -
văn minh, từ văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần và văn hoá ứng xử, người Kinh đã sáng
tạo ra những nét đặc sắc cho mình, tiếp thu có chọn lọc các ưu điểm của các nền văn
minh khác để làm phong phú cho dân tộc. Trong tín ngưỡng văn hoá, thờ cúng tổ tiên là
tín ngưỡng quan trọng nhất của người Kinh. Bên cạnh đó, Người Việt chịu ảnh hưởng
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhiều của văn hoá Trung - Ấn, đặc biệt là Trung Hoa với tư tưởng Nho, Phật, Đạo, gần
đây tiếp cận them với văn hoá phương Tây.
2. Tộc người Mường
Người Mường cư trú lâu đời ở các tỉnh Hoà Bình, Thanh
Hoá, Ninh Bình, Hà Tây, Yên Bái, Sơn La, Phú Thọ. Dân số
hiện nay khoảng 1,1 triệu người [5; 267] Về nguồn gốc lịch sử,
người Mường cùng nguồn gốc với người Kinh. Kinh tế chủ yếu
là trồng lúa nước; ngoài ruộng nước, người Mường còn làm
nương rẫy, săn bắn, đánh cá, hái lượm và sản xuất thủ công
nghiệp. Tổ chức xã hội, chủ yếu là mường bản, mỗi bản gồm
một số gia đình, nhiều hay ít tuỳ theo địa bàn cư trú quy định,
bản có tổ chức chặt chẽ. Đại bộ phận người Mường ở nhà sàn,
kiểu nhà 4 mái. Trang phục tiêu biểu của phụ nữ là khăn đội đầu và áo cánh ngắn màu

người, chia làm nhiều nhóm: Sách, Mày, Rục, Mã Liềng, A Rem, có
thể là nhóm đời sống khó khăn nhất trong các tộc người ở Việt Nam
hiện nay. [5; 268]. Người Chứt vốn sống bằng nông nghiệp nương
rẫy du canh, chăn nuôi và săn bắn, hái lượm. Trừ nhóm Sách sống bằng nông nghiệp còn
các nhóm khác hái lượm và săn bắn chiếm vị trí quan trọng, thậm chí là nguồn sống
chính trong những năm mất mùa; nghề thủ công có đan lát và nghề mộc là phổ biến.
Người Chứt sống định cư và quần tụ thành từng làng (Cà Vên), nhưng làng tản mạn, mỗi
làng có trưởng làng do dân suy tôn, thường là trưởng tộc một dòng họ có uy tín nhất
trong làng. Nhà ở thường không bền vững, họ quen ở trong các túp lều dùng dây buộc,
dùng cột ngoàm hay ở trong các hang đá, mái đá. Cho đến trước năm 1945 các nhóm
Rục, Arem chủ yếu vẫn sống trong các hang đá, mái đá. Người Chứt không biết dệt vải,
mùa hè nam giới đóng khố, cởi trần; phụ nữ mặc váy. Mùa đông, họ mặc áo làm bằng vỏ
cây. Hiện nay đồng bào ăn mặc giống như người Kinh. Quan hệ vợ chồng bền vững; lễ
cưới được tổ chức bên nhà gái, sau đó mới đón dâu. Lễ vật quan trọng nhất ngoài lợn, gà,
nhất thiết phải có thịt khỉ sấy khô. Tang ma đơn giản và có nhiều ảnh hưởng của người
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Kinh. Ngoài thờ cúng tổ tiên, bàn thờ đặt ở nhà tộc trưởng, người Chứt thờ nhiều ma: ma
rừng, ma suối, thần nông, ma bếp...
Như vậy, nhóm ngôn ngữ Việt - Mường gồm 4 tộc người có một số nét tương
đồng, nhưng cũng có nhiều đặc điểm khác biệt. Tuy vậy, không phải ngay từ đầu nhóm
Việt - Mường đã được chia tách thành các dân tộc : Việt, Mường, Thổ, Chứt như ngày
nay. Quá trình thống nhất và chia tách của nhóm ngôn ngữ này là một vấn đề phức tạp
còn nhiều ý kiến tranh luận khác nhau trong giới nghiên cứu: khảo cổ, nhân chủng, dân
tộc học và ngôn ngữ, …
II. SỰ HÌNH THÀNH, THỐNG NHẤT VÀ CHIA TÁCH CỦA CƯ DÂN VIỆT -
MƯỜNG.
1. Sự hình thành và thống nhất của cư dân Việt - Mường.
Vấn đề hình thành cư dân Việt - Mường hay Việt Cổ là vấn đề được nhiều ngành
khoa học quan tâm. Để nghiên cứu lịch sử vấn đề này chúng ta không thể không xem xét

lang” chính thức được đùng để chỉ các thủ lĩnh người Việt ở các địa phương. Việc Phùng
Hưng được phong làm “quan lang” Đường Lâm chứng tỏ chế độ quan lang đã tồn tại
trong phạm vi cả nước, không phải chỉ có ở các địa phương người Việt miền núi (đồng
bào Mường bây giờ). Việc tồn tại bền vững chế độ “quan lang” ở các vùng, mường là yếu
tố chứng tỏ sự thống nhất giữa người Việt đồng bằng và người Việt miền núi (người
Mường). Người Việt miền núi đời đời gắn bó với người Việt đồng bằng trên mọi mặt
chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá nhất là về chính trị và quân sự, phục vụ lợi ích chung
của dân tộc, của Tổ Quốc đã chứng minh điều đó.
Vậy tên “ Mường” có từ bao giờ và người Mường đã tách ra từ thời gian nào trong
lịch sử? Đây là những câu hỏi còn gây nhiều tranh luận.
Một số ý kiến cho rằng, Người Mường có thể đã trở thành một dân tộc khác với
người Việt từ lâu đời. Các tác giả như: Trần Quốc Vượng, Nguyễn Dương Bình, Nguyễn
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Văn Tài,… chủ trương việc tách Việt khỏi Mường kết thúc vào thời kỳ Bắc thuộc. Ý kiến
đó theo Đặng Nghiêm Vạn “có phần đúng nhưng chưa đủ” [5; 265]. Bên cạnh đó, ý kiến
của Nguyễn Lương Bích lại cho rằng đến tận cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX không có
danh từ “ Mường” để chỉ người hoặc tộc người. [1] Vậy cơ sở của những ý kiến trên như
thế nào?
Nếu như trước khi nhà Khúc dựng nền độc lập, người Việt đồng bằng và miền núi
đều thống nhất trên nhiều phương diện chính trị, xã hội, kinh tế, quân sự, thì từ đầu thế
kỷ X, lịch sử Việt Nam chuyển sang một giai đoạn phát triển mới. Chế độ quan lang ở
các địa phương dần dần bị xóa bỏ tạo cơ sở cho sự tồn tại của nhà nước Trung ương tập
quyền. Chế độ quan lang từ đầu thế kỷ X đã không còn ở miền đồng bằng nhưng vẫn
được duy trì lâu dài tại các khu vực người Việt ở miền núi. Đó có thể là lý do để nhiều
nhà nghiên cứu cho rằng việc tách Việt khỏi Mường kết thúc vào thời Bắc thuộc. Bên
cạnh đó, có thể vì một nguyên do nữa là: đến thời Đinh, Lê, Lý, sử sách danh từ “Cử
Long man” để chỉ người vùng Cử Long. Cách gọi đó còn được hiểu: coi người Cử Long
là một dân tộc man di, một dân tộc thiểu số, không phải người Việt.
Tuy vậy, theo nhiều nhà nghiên cứu, danh từ “mường” thường được người Việt và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status