Vai trò của đầu t tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam
Vai trò của đầu t tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt NamVai trò của đầu t tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam
Vai trò của đầu t tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam1 Đại học kinh tế quốc dân Nguyễn Thu thủy
Đại học kinh tế quốc dân Nguyễn Thu thủyĐại học kinh tế quốc dân Nguyễn Thu thủy
Đại học kinh tế quốc dân Nguyễn Thu thủy
B. Nội dung
Chơng I.
Lý luận chung về đầu t và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
I. Đầu t.
1. Khái niệm về đầu t dới các góc độ khác nhau.
Dới góc độ tài chính thì đầu t là một chuỗi hoạt động chi tiêu để chủ
đầu t nhận về một chuỗi các dòng thu.
Dới góc độ tiêu dùng thì đầu t là sự hy sinh tiêu dùng hiện tại để thu
đợc mức tiêu dùng nhiều hơn trong tơng lai.
Khái niệm chung: Đầu t là việc bỏ vốn hoặc chi dùng vốn cùng các
nguồn lực khác ở hiện tại để tiến hành một hoạt động nào đó nhằm thu về
các kết quả có lợi trong tơng lai.
2. Vai trò của đầu t.
2.1. Trên góc độ toàn bộ nền kinh tế.
- Đầu t với việc tăng cờng khả năng khoa học- công nghệ của đất
nớc.
Đại học kinh tế quốc dân Nguyễn Thu thủy
Đại học kinh tế quốc dân Nguyễn Thu thủyĐại học kinh tế quốc dân Nguyễn Thu thủy
Đại học kinh tế quốc dân Nguyễn Thu thủy
kinh tế và hiệu quả đầu t trong các ngành các vùng lãnh thổ cũng nh phụ
thuộc vào hiệu quả của chính sách kinh tế nói chung. Thông htờng ICOR
trong nông nghiệp thấp hơn trong công nghiệp, ICOR trong giai đoạn
chuyển đổi cơ chế chủ yếu do tận dụng năng lực. Do đó ở các nớc phát
triển, tỷ lệ đầu t thấp thờng đãn đến tốc độ tăng trởng thấp.
2.2. Trên góc độ vi mô.
Đầu t quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở.
Chẳng hạn, để tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ra đời của bất kỳ
cơ sở nào đều cần phải xây dựng nhà xởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm và
lắp đặt máy móc trên nền bệ, tiến hành các công tác xây dựng cơ bản và
thực hiện các chi phí khác gắn liền với sự hoạt động trong một chu kỳ của
các cơ sở vật chất kỹ thuật vừa đợc tạo ra. Các hoạt động này chính là hoạt
động đầu t. Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ đang tồn tại sau
một thời gian hoạt động, các cơ sở vật chất - kỹ thuật của các cơ sở này hao
mòn, h hỏng. Để duy trì đợc sự hoạt động bình thờng cần định kỳ tiến
hành sửa chữa lớn hoặc thay đổi các cơ sở vật chất - kỹ thuật và nhu cầu tiêu
dùng của nền sản xuất xã hội, phải mua sắm các trang thiết bị mới thay thế
cho các trang thiết bị cũ đã lỗi thời, cũng có nghĩa là phải đầu t.
II. Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1. Cơ cấu kinh tế
Phát triển kinh tế với tốc độ cao và bền vững là mục tiêu phấn đấu của
tất cả các nớc. Để thực hiện đợc mục tiêu đó cần thiết phải xây dựng 1 cơ
cấu kinh tế hợp lý. Trong đó cần phải xác vai trò, tỷ trọng và mối quan hệ
quả, đảm bảo nền kinh tế tăng trởng với nhịp độ cao và phát triển ổn định,
không ngừng nâng cao đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của ngời dân.
Nớc ta trong thời gian tơng đối dài, nền kinh tế tồn tại theo cơ chế
tập trung quan liêu bao cấp. Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, sau 15
năm nền kinh tế nớc ta đã đạt đợc những thành tựu có ý nghĩa to lớn. Đại
hội VI đảng ta chủ trơng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng phát triển
3 chơng trình kinh tế lớn. Sản xuất lơng thực phẩm, hàng tiêu dùng và
hàng xuất khẩu, chú trọng phát triển kết cấu hạ tầng vào 3 chơng trình và
thực hiện luật đầu t nớc ngoài. Đến Đại hội VII, VIII, IX khi công cuộc
đổi mới bắt đầu đi vào chiều sâu, đảng ta tiếp tục khẳng định xây dựng cơ
cấu kinh tế hợ lý là một nội dung quan trọng của CNH HĐH, phát triển
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trờng có
sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa xã hội.
2. Phân loại cơ cấu kinh tế
2.1. Cơ cấu kinh tế ngành.
- Ngành nông nghiệp: Là tổ hợp các ngành gắn liền với các quá trình
sinh học gồm: nông nghiệp, lâm nghiệp và ng nghiệp. Do sự phát triển của
phân công lao động xã hội, các ngành này hình thành và phát triển tơng
đối độc lập, nhng lại gắn bó mật thiết với nhau.
Nông nghiệp là một ngành cơ bản của nền kinh tế cả nớc, vừa chịu sự
chi phối chung của nền kinh tế quốc dân, vừa gắn bó mật thiết với các
ngành khác trên địa bàn nông thôn, đồng thời lại phản ánh những nét riêng
biệt mang tính đặc thù của 1 ngành mà đối tợng sản xuất là những cơ thể
sống.
Theo nghĩa hẹp: nông nghiệp bao gồm trồng trọt và chăn nuôi, theo
nghĩa rộng thì nông nghiệp còn bao gồm cả lâm nghiệp và thuỷ sản.
- Ngành công nghiệp: Là một ngành quan trọng của nền kinh tế bao
Cơ cấu vùng lãnh thổ kinh tế là sự phân công lao động xã hội theo
lãnh thổ trên phạm vi cả nớc. Cơ cấu vùng lãnh thổ đợc coi là nhân tố
hàng đầu để tăng trởng và phát triển bền vững các ngành kinh tế đợc phân
bố ở vùng. Việc xác lập cơ cấu kinh tế vùng Lãnh thổ 1 cách hợp lý
nhằm phân bố trí các ngành sản xuất trên vùng lãnh thổ sao cho thích
hợp để triển khai có hiệu quả mọi tiềm năng và lợi thế của từng vùng. Việc
bố trí sản xuất ở mỗi vùng không khép kín mà có sự liên kết với các vùng
khác có liên quan để gắn với cơ cấu kinh tế của cả nớc: ở nớc ta có thể
chia ra các vùng kinh tế nh sau:
- Trung du và miền núi bắc bộ
- Tây Nguyên
- Đồng bằng sông cửu long
- Vùng KTTĐ Bắc bộ
- Vùng KTTĐ Miền trung
- Vùng KTTĐ Phía Nam
2.3. Cơ cấu thành phần kinh tế (gồm có):
- Kinh tế nhà nớc: Phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là lực
lợng vật chất quan trọng và là công cụ để nhà nớc định hớng và điều tiết
vĩ mô nền kinh tế.
- Kinh tế tập thể: Phát triển với nhiều hình thức hợp tác đa dạng,
trong đó hợp tác xã là nòng cốt.
- Kinh tế cá thể, tiểu chủ: Cả ở nông thôn và thành thị có vị trí quan
trọng lâu dài.
- Kinh tế t nhân.
- Kinh tế hỗn hợp: Dới các hình thức liên doanh, liên kết giữa kinh tế
nhà nớc với kinh tế t nhân trong và ngoài nớc.
- Kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài: Là một bộ phận của nền kinh tế
Việt Nam đợc khuyến khích phát triển, hớng mạch vào sản xuất, kinh
doanh hàng hoá và dịch vụ có công nghệ cao, xây dựng kết cấu hạ tầng.
3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nhanh vào một số ngành lĩnh vực có công nghệ hiện đại, công nghệ cao.
Phát triển mạnh công nghiệp chế biến nông sản, thuỷ sản, may mặc.Xây
dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng quan trọng. Sản xuất t
liệu sản xuất cần thiết để trang bị cho các ngành kinh tế và quốc phòng,
khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Phát triển mạnh và nâng cao chất lợng các ngành dịch vụ, thơng mại,
kể cả thơng mại điện tử, các loại hình vận tải, bu chính viễn thông, du
lịch, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm.
- Cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ:
Phát huy vai trò của vùng kinh tế trọng điểm có mức tăng trởng cao,
tích luỹ lớn, đồng thời tạo điều kiện phát triển các vùng khác trên cơ sở phát
huy thế mạnh của từng vùng, liên kết với vùng trọng điểm tạo mức tăng
trởng khá,. Quan tâm phát triển kinh tế- xã hội gắn với tăng cờng quốc
phòng- an ninh ở các vùng miền núi, đồng bào các dân tộc thiểu số, biên
giới, hải đảo chú trọng các vùng tây nguyên, tây bắc, tây nam. Có chính
sách hỗ trợ nhiều hơn cho các vùng khó khăn để phát triển cơ cấu hạ tầng,
nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, xoá đói giảm nghèo, đa các vùng này
vợt qua tình trạng kém phát triển.
- Cơ cấu thành phần kinh tế.
Chú trọng phát triển các hình thức tổ chức kinh doanh đan xen, hỗn
hợp nhiều hình thức sở hữu, giữa các thành phần kinh tế khác nhau, giữa
trong nớc và nớc ngoài. Phát triển mạnh hình thức tổ chức kinh tế cổ phần
nhằm huy động và sử dụng rộng rãi vốn đầu t xã hội.
III
Vai trò của đầu t trong việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế ở Việt Nam
1. Vai trò của đầu t trong việc chuyển dịch cơ cấu ngành
Cơ cấu ngành của nền kinh tế là tổ hợp các ngành, hợp thành các
tơng quan tỷ lệ, biểu hiện mối liên hệ giữa các ngành đó của nền kinh tế
quốc dân.
Một nền kinh tế quốc dân bao gồm nhiều ngành sản xuất khác nhau.
Do đó, 1 quốc gia muốn phát triển và đạt đợc tốc độ tăng trởng cao phả
có 1 cơ cấu ngành hợp lý. Đối với Việt Nam, để thực hiện mục tiêu CNH
HĐH đất nớc, phấn đầu năm 2010 cơ bản trở thành 1 nớc công nghiệp thì
điều này lại càng có ý nghĩa. Chính vì vậy, việc đầu t vào chuyển dịch cơ
cấu ngành, tạo sức bật cho nền kinh tế đóng 1 vai trò hết sức quan trọng.
Vai trò này của đầu t đợc thể hiện ở những khía cạnh sau:
Thứ 1: Đầu t tác động làm thay đổi tỷ trọng đóng góp vào GDP của
các ngành: Đây là 1 hệ quả tất yếu của đầu t. Đầu t vào ngành nào càng
nhiều thì ngành đó càng có khả năng đóng góp lớn hơn vào GDP. Việc tập
trung đầu t vào ngành nào phụ thuộc vào chính sách và chiến lợc phát
triển của mỗi quốc gia. Thông qua các chính sách và chiến lợc, nhà nớc
có thể tăng cờng khuyến khích hoặc hạn chế đầu t đối với các ngành cho
phù hợp với từng giai đoạn phát triển. Dẫn đến sự tăng đầu t vào 1 ngành
sẽ kéo theo sự tang trởng kinh tế của ngành đó và thúc đẩy sự phát triển
của các ngành, các khu vực có liên quan. Vì vậy sẽ tạo ra sự tăng trởng
kinh tế chung của đất nớc. Việc xác định nên tập trung đầu t vào ngành
nào có tính chất quyết định sự phát triển của quốc gia. Nhng kinh nghiệm
của các nớc trên thế giới đã cho thấy con đờng tất yếu có thể tăng trởng
nhanh với tốc độ mong muốn là tăng cờng đầu t nhằm tạo ra sự phát triển
ở khu vực công nghiệp và dịch vụ. Do đó, để thực hiện đợc các mục tiêu đã
định, Việt Nam cũng không thể nằm ngoài sự phát triển.
Thứ 2: Nh đã nói ở trên, đầu t đã làm thay đổi tỷ trọng của các
ngành trong cả nền kinh tế. Sự thay đổi này lại đi liền với sự thay đổi cơ cấu
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Vai trò của đầu t tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam
Vai trò của đầu t tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt NamVai trò của đầu t tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam
Vai trò của đầu t tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam
Thứ nhất là: Đầu t giúp các vùng lãnh thổ phát huy đợc tiềm
năng, thế mạnh kinh tế của vùng.
Với nhng vị trí địa lý, đặc thù tự nhiên khác nhau mỗi vùng lãnh
thổ sẽ có những thế mạnh kinh tế khác nhau, nhng để phát triển kinh tế thì
không chỉ dựa vào những tài nguyên vị trí địa lý sẵn có đó, mà phải có đủ
điều kiện để khai thác và sự dụng nó có hiệu quả. Điều này đòi hỏi phải có
nguồn vốn đầu t. Vì khi đợc dầu t thích đáng các vùng sẽ có điều kiện
để xây dựng cơ sở hạ tầng, máy móc công nghệ hiện đại, xác định các
phơng hớng phát triển đúng đắn để tận dụng, phát huy sức mạnh của
vùng. Nh một số vùng miền núi có địa hình đồii núi cao ( Sơn La Hoà
Bình ) trớc khi đợc đầu t vùng không có công trình nào lớn mạnh thực
sự, nhng nhờ đầu t khai thác thế mạnh sông núi của vùng nhà máy thuỷ
điện đã đợc xây dựng, góp phần làm phát triển nền kinh tế của vùng.
Thứ hai là: Đầu t góp phần nâng cao tỷ trọng đóng góp vào GDP của
các vùng lãnh thổ đợc đầu t.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Vai trò của đầu t tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam
Vai trò của đầu t tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt NamVai trò của đầu t tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam
Vai trò của đầu t tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam8 Đại học kinh tế quốc dân Nguyễn Thu thủy
Đại học kinh tế quốc dân Nguyễn Thu thủyĐại học kinh tế quốc dân Nguyễn Thu thủy
Đại học kinh tế quốc dân Nguyễn Thu thủy
nhiều ngời dân đã có việc làm, góp phần nâng cao đời sống của mình.
2.3. Đầu t góp phần giải quyết những mất cân đối về phát triển
kinh tế giữa các vùng.
Nguồn vốn đầu t thờng đợc tập trung ở những vùng kinh tế trọng
điểm của đất nớc, thúc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế của những khu vực
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Vai trò của đầu t tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam
Vai trò của đầu t tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt NamVai trò của đầu t tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam
Vai trò của đầu t tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam9 Đại học kinh tế quốc dân Nguyễn Thu thủy
Đại học kinh tế quốc dân Nguyễn Thu thủyĐại học kinh tế quốc dân Nguyễn Thu thủy
Đại học kinh tế quốc dân Nguyễn Thu thủy
đó, và đến lợt mình những vùng phát triển này lại làm bàn đạp thúc đẩy
những vùng khác cùng phát triển. Các vùng kinh tế trọng điểm đợc đầu t
phát huy thế mạnh của mình, góp phần lớn vào sự phát triển chung của cả
đất nớc, kéo con tàu kinh tế chung của đất nớc đi lên, khi đó các vùng
kinh tế khác mới có điều kiện để phát triển.
Đầu t cũng đã thúc đẩy các vùng kinh tế khó khăn có khả năng phát
triển, giảm bớt sự chênh lệch kinh tế với các vùng khác. Các vùng kinh tế
khó khăn khi nhận đợc sự đầu t, giúp họ có thể có đủ điều kiện để khai
thác, phát huy tiềm năng của họ, giải quyết những vớng mắc về tài chính,
cơ sở hạ tầng cũng nh phơng hớng phát triển,tạo đà cho nền kinh tế
10 Đại học kinh tế quốc dân Nguyễn Thu thủy
Đại học kinh tế quốc dân Nguyễn Thu thủyĐại học kinh tế quốc dân Nguyễn Thu thủy
Đại học kinh tế quốc dân Nguyễn Thu thủy
tập thể mà đã xuất hiện thêm các thành phần kinh tế khác nh kinh tế t
nhân, kinh tế cá thể, kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài. Cùng với sự xuất
hiện này là sự đa dạng về nguồn vốn đầu t do các thành phần kinh tế mới
mang lại. Các thành phần kinh tế mới đã bổ sung một lợng vốn không nhỏ
vào tổng vốn đầu t của toàn xã hội, tạo nên một nguồn lực mạnh mẽ hơn
trớc để phát triển kinh tế. Việc có thêm các thành phần kinh tế đã huy
động và tận dụng đợc các nguồn lực trong xã hội một cách hiệu quả hơn,
khuyến khích đợc mọi cá nhân tham gia đầu t làm kinh tế.
Vốn đầu t của họ có thể đến đợc những nơi, những lĩnh vực mà nhà
nớc cha đầu t đến hoặc không có đủ vốn để đầu t. Chính vì vậy, việc đa
dạng hoá nguồn vốn là một yếu tố không thể thiếu đợc trong đầu t phát
triển.
Thực trạng về tác động của đầu t đối với chuyển
dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam.
I.
Tổng quan chung về đầu t và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong những năm gần đây, thế giới đã biết Việt nam nh một nớc đang
thực hiện thành công công cuộc đổi mới. Để đạt đợc những thành công này,
Đảng và chính phủ đã có những chính sách cải cách và mở cửa hết sức đúng
đắn. Những chính sách này đã mang lại những tích cực trong việc thu hút vốn
đầu t để phát triển nền kinh tế vốn còn chậm phát triển của Việt Nam và một
trong những thành công nổi bật của đầu t trong công cuộc đổi mới là sự
chuyển dịch cơ câú kinh tế theo hớng CNH- HĐH. Điều đầu tiên mà chúng
tôi đề cập đến ở đây là sự thành công của Việt Nam trong việc từng bớc
chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế công nghiệp tiên
tiến, tức là tăng dần tỉ trọng của công nghiệp và dịch vụ trong GDP so với
nông nghiệp.Bình quân trong những năm qua, giá trị của ngành dịch vụ ở mức
39%, của ngành công nghiệp là 38% và con số này của ngành nông nghiệp là
23%.Công nghiệp việt nam đang bớc từng bớc vững chắc và đang chứng tỏ
là một ngành có thể kéo đoàn tàu kinh tế tiến lên. Giá trị của nông nghiệp tuy
có giảm nhng ngành nông nghiệp của nớc ta vẫn không chỉ đảm bảo đợc
an ninh lơng thực mà còn luôn giữ vững vị trí là một trong 3 nớc xuất khẩu
gạo lớn nhất thế giới. Bên cạnh những thành công này không thể khôg kể đến
nỗ lực của Đảng và Nhà nớc trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng-
lãnh thổ. Các vùng kinh tế: Tây bắc, Đông bắc, Đồng bằng sông hồng, Khu 4,
Duyên hải miền trung, Tây nguyên, Đông nam bộ và Đồng bằng sông cửu
long đã xây dựng đợc cho mình các thế mạnh về cây, con để đầu t sản xuất,
cải thiện đáng kể đời sống nhân dân và đã hình thành đợc các vùng kinh tế
trọng điểm làm động lực cho sự phát triển của cả nớc. Một thành tựu lớn của
Việt Nam trong công cuộc cải cách kinh tế đã đợc cả thế giới ghi nhận là đã
xoá đợc đói, giảm đợc nghèo ở những vùng kém phát triển với tỉ lệ đói
cấu kinh tế ngành.
Sau nhiều năm thực hiện mở cửa nền kinh tế. Nớc ta đã nhận đợc rất
nhiều nguồn vốn từ nớc ngoài đổ vào, cùng với lợng vốn trong nớc, tạo
thành 1 nguồn vốn đầu t lớn cho nền kinh tế. Đây là 1 điều kiện rất tốt để
chúng ta thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho phù hợp với xu hớng
phát triển chung của thế giới. Và vì vậy, cơ cấu ngành cũng không thể
không có những sự thay đổi. Sự thay đổi này đợc thể hiện ở những mặt sau.
Thứ 1: Nhờ có nguồn vốn lớn cùng với chính sách cải cách và đổi mới
của Đảng, cơ cấu ngành đã có sự chuyển dịch tích cực theo hớng CNH
HĐH, phát huy đợc lợi thế của từng ngành, làm tăng hiệu quả và chất
lợng phát triển kinh tế. Đúc rút kinh nghiệm của các nớc đi trớc, Việt
Nam đã chú trọng vào phát triển khu vực công nghiệp và dịch vụ, 2 khu vực
có khả năng đem lại tốc độ tăng trởng nhanh cho nền kinh tế. Chính vì vậy
tỷ trọng đóng góp vào GDP của các ngành công nghiệp, nông nghiệp và
dịch vụ cũng có sự chênh lệch khác nhau. Tỷ trọng ngành nông lâm
thuỷ sản trong GDP tiếp tục có xu hớng giảm từ 27,2% năm 1995 xuống
25,4% năm 1999 và còn 23% năm 2002 trong khi tỷ trọng ngành công
nghiệp xây dựng phát triển từ 28,7% lên 34,5% và lên đến 38,6% năm
2002 (Trong đó tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến tăng từ 18% năm 1999
lên 20,4% năm 2002). Ngành dịch vụ tăng từ 38,6% năm 1990 lên 44,1%
năm 1999 và sau đó lại giảm còn 38,4% năm 2002. Sự thay đổi này phản
ánh xu hớng ngày càng phát triển của khu vực công nghiệp và dịch vụ
trong những năm gần đây, mức đóng góp vào GDP của 2 khu vực này ngày
càng tăng và chiếm tới khoảng 79%. Hiện nay vốn đầu t vào 2 khu vực này
cũng đang tăng mạnh, đặc biệt là công nghiệp. Tổng số dự án đầu t nớc
ngoài đầu năm 2002 đợc cấp giấy phép là 104 dự án, tăng 50,7% với tổng
vốn đăng ký hơn 159 triệu USD, tăng gần 50%. Có 34 dự án đầu t vào
ngành công nghiệp nặng với tổng vốn đăng ký hơn 33 triệu USD ( bình quân
gần 1 triệu USD/dự án). Điều này hứa hẹn nền công nghiệp nớc ta sẽ tiếp
tục có những chuyển biến đáng kể, góp phần hơn nữa vào quá trình đẩy
với công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Theo các nhà dự báo
chiến lợc của Việt Nam, từ nay tới năm 2020 đợc chia thành 2 chặng:
+ Từ nay tới năm 2010: Chặng đờng đẩy nhanh quá trình công nghiệp
hoá, đa đất nớc vợt qua giai đoạn trung bình của quá trình công nghiệp
hoá ( GDP bình quân đầu ngời đạt khoảng 1000 USD theo giá 1990, vào
năm 2010).
+ Từ 2010 2020: Chặng đờng đẩy nhanh hiện đại hoá.
* Việc định hớng phát triển các ngành công nghiệp, cần quán triệt các
quan điểm sau:
+ Tăng tốc độ phát triển công nghiệp và do đó nâng cao tỷ trọng công
nghiệp trong nền kinh tế.
+ Trong cơ cấu ngành của công nghiệp, cần chú ý sản phẩm và cơ cấu
sản phẩm của nó vì đây là yếu tố năng động, linh hoạt trớc những diễn
biến của thị trờng so với ngành nghề.
+ Trong phát triển công nghiệp, cơ cấu ngành cần kết hợp với cơ cấu
vùng và với cơ cấu theo thành phần để thực hiện đợc các mục tiêu.
+ Kết hợp hớng ngoại với hớng nội, trong đó hớng ngoại là chủ yếu
+ Chú ý hiệu quả kinh tế xã hội của cơ cấu. Luôn định hớng và tạo
điều kiện cho các ngành trọng điểm, mũi nhọn phát triển
Ngành trọng điểm, mũi nhọn trong sự phát triển công nghiệp đợc
xác định dựa vào các tiêu chuẩn sau:
+ Vai trò, vị trí của ngành đó đối với nền KTQD
+ Khả năng đáp ứng nhu cầu thị trờng, đặc biệt là nhu cầu thị trờng
quốc tế.
+ Khả năng và lợi thế trong nớc cho việc phát triển các ngành đó:
+ Thực trạng hiện có và có thể có cho sự phát triển sau đây:
Ngành trọng điểm, mũi nhọn chịu sự tác động của nhiều nhân tố, nên
có thể thay đổi theo từng thời ký phát triển. Với những năm tới, trong sự
phát triển công nghiệp, các ngành trọng điểm, mũi nhọn có thể là:
+ Các ngành khai thác tài nguyên khoáng sản mà ta có thế mạnh, trữ
xuất khẩu phát huy đợc lợi thế của ngành, hình thành đợc một số ngành
mũi nhọn. Một số khu công nghiệp , khu chế xuất có công nghệ cao đồng
thời phát triển một số ngành chế biến nông sản. Đến năm 2000, các ngành
công nghiệp khai thác chiếm khoảng 15% tổng giá trị ngành công nghiệp,
trong đó ngành dầu khí đã chiếm tới 12%. Đây là một ngành đầy tiềm năng
bởi nớc ta có vùng biển rộng lại là nơi có nhiều mỏ dầu khí. Vì vậy cần có
sự đầu t thích đáng vào ngành này để tận dụng đợc triệt để nguồn lợi về
nguyên thiên nhiên. Công nghiệp chế tác, bao gồm sản xuất thực phẩm, sản
phẩm phi kim loại, sản phẩm dệt, hoá chất, sản phẩm da, giả da và kim loại,
sản phẩm điện tử, công nghệ thông tin chiếm tới 79% tổng giá trị nàgnh
công nghiệp. Điều đó cho thấy ngành này ngày càng đóng một vai trò quan
trọng trong nền kinh tế. Nhu cầu cao về các sản phẩm của ngành này đã kéo
theo sự phát triển của ngành đặc biệt là các ngành nh sản xuất chế biến
thực phẩm ( chiếm 23,6% tổng giá trị ngành công nghiệp), dệt ( 5,6%), sản
phẩm phi kim loại (9,2%), hoá chất (5,4%), sản phẩm da và giả da (4,7%).
Đây cũng là những mặt hàng xuất khẩu đem lại lợi nhuận cao. Cuối cùng là
ngành điện, ga và nớc các ngành này chiếm khoảng 6% tổng giá trị ngành
công nghiệp, trong đó điện và ga là 5,6% còn nớc chỉ chiếm gần 0,4% sở
dĩ có điều này là bởi vì nhu cầu điện cho sản xuất, sinh hoạt đang tăng lên
với tốc độ rất nhanh. Đầu t vào ngành này mang lại lợi nhuận cao và hơn
nữa nớc ta lại có điều kiện thuận lợi để phát triển ngành nh có nhiều con
sông để xây dựng nhà máy thuỷ điện thuỷ điện, có nhiều mỏ than phục vụ
cho nhiệt điệncòn đầu t vào ngành nớc lại rất hạn chế do chi phí quá
cao cho việc xây dựng các nhà máy lọc và xử lý nớc, nguồn nớc sạch lại
khan hiếm, một lí do nữa là do ý thức, thói quen và tập quán sinh hoạt của
ngời dân.
- Phát triển công nghiệp 10 năm qua đã góp phần đáng kể giữ đợc
nhịp độ tăng trỏng của nền kinh tế. Trong GDP, năm 1990 công nghiệp
chiếm tỷ trọng19,1%, năm 1995 chiếm 22,5% và nm 2000 chiếm 26,9%.
Việc phân bổ lao động trong công nghiệp đã có sự chuyển dịch hợp lý hơn,
Để tạo điều kiện cho các ngành trọng điểm mũi nhọn hình thành và
phát triển nhanh chóng, vấn đề cực kỳ quan trọng là nhà nớc cần xây dựng
và ban hành các chính sách phát triển công nghiệp một cách đúng đắn và tổ
chức thực hiện chúng một cách nghiêm túc. Trong từng chính sách đó cần
xác định rõ giới hạn tác động của nhà nớc, của thị trờng và của doanh
nghiệp, hộ gia đình đến ngành, nghề, mặt hàng, ngành hàng sản xuất
kinh doanh. Nói chung, nhà nớc chỉ nên tập trung vào các ngành mũi nhọn,
ngành trọng điểm mà ở đó cần có sự tập trung vật lực, tài lực, trí lực mới có
thể phát triển đợc.
- Những thành quả trên cho thấy cơ cấu công nghiệp tiếp tục có sự
chuyển dịch đáng kể, song các ngành công nghiệp lại cha tạo đợc bớc
đột phá về chất lợng, hiệu quả và các sản phẩm công nghiệp có chất lợng
cao còn chiếm tỷ trọng nhỏ. Chính vì vậy, một sự đầu t thích đáng hơn nữa
theo chiều sâu là một điều hết sức cấp bách.
- Nông nghiệp vẫn là ngành chiếm vị trí hàng đầu trong cơ cấu kinh tế
quốc dân ở nớc ta. Tuy không thể làm giàu bằng nông nghiệp nhng
những chuyển biến tích cực của nông nghiệp đã góp phần không nhỏ vào
việc giải quyết những vấn đề kinh tế xã hội cấp thiết, đa đất nớc thoát
khỏi khủng hoảng và tạo tiền đề cho những bớc phát triển mạnh hơn trong
tơng lai.
+ Nền nông nghiệp Việt Nam đang vận động theo những xu hớng
Tích cực, đang chuyển dần từ thế độc canh, tự cấp tự túc sang kinh tế thị
trờng phát huy lợi thế của từng vùng sinh thái để hình thành các vùng
chuyên canh.
+ So với yêu cầu của quá trình CNH HĐH nền nông nghiệp Việt
Nam về cơ bản cha thoát khỏi tình trạng sản xuất nhỏ, thị trờng nông
thôn còn ở giai đoạn đầu của sự hình thành.
+ Khả năng sinh thái đa dạng cha đợc khai thác đầy đủ và có hiệu
quả. Tỷ suất hàng hóa thấp. Trồng trọt, đặc biệt là trồng cây lơng thực, vẫn
chiếm vị trí hàng đầu, chăn nuôi theo kiểu sản xuất hàng hóa cha phát
- Dịch vụ nông nghiệp 3,0 2,7
Qua biểu trên, ta thấy tỷ trọng giữa các ngành trong toàn ngành nông
nghiệp có sự thay đổi nhng sự thay đổi naỳ diễn ra khá chậm chạp. Tỷ
trọng ngành trồng trọt có xu hớng giảm dần , trong khi đó ngành chăn nuôi
tăng lên. Tuy nhiên mức tăng của ngành chăn nuôi tăng nhanh hơn mức
giảm của ngành trồng trọt (0,7% so với 0,4%). Điều này cho thấy chăn nuôi
ngày càng đợc chú trọng hơn và đang chứng tỏ là một ngành có khả năng
đem lại lợi nhuận cao.
- Dịch vụ là một lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế quốc dân bao hàm
tất cả những hoạt động phục vụ sản xuất và đời sống dân c. Theo nghĩa đó,
hoạt động dịch vụ bao hàm cả hoạt động thơng mại. Nhng thông thờng,
do vị trí đặc biệt quan trọng và những đặc thù riêng, hoạt động thơng mại
thờng đợc tách riêng khỏi phạm trù dịch vụ và đợc coi là một vế ngang
bằng với hoạt động dịch vụ. Trong chuyên đề này thơng mại dịch vụ
đợc xem xét với t cách một ngành kinh tế thực hiện qua trình lu thông
trao đổi hàng hoá và thực hiện các công việc phục vụ tiêu dùng của sản xuất
và của dân c trên các thị trờng.
Các ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng trong GDP từ 38,6% năm 1990 tăng
lên 40,5% năm 2000, vừa đáp ứng đợc nhu cầu phát triển tổng kinh tế, vừa
phục tốt đời sống, từng bớc nâng cao chất lợng phục vụ. Cơ cấu các
ngành dịch vụ trong tổng giá trị dịch vụ đã có sự chuyển dịch bớc đầu:
+ Ngành thơng mại trong nhiều năm gần đây luôn phát triển và dẫn
đầu về tỷ trọng đóng góp trong tổng giá trị ngành dịch vụ, từ 37,2% năm
1995 đến 37,3 năm 2000
+ Ngành giao thông, bu điện cũng đang chứng tỏ mình là một ngành
có thế mạnh và đang trên đà phát triển đóng góp vào tổng giá trị của ngành
tăng từ 7,6% năm 1990 lên 9,0% năm1995 vào năm 2000 là 9,4%. Các
ngành nh giao thông, y tế, quản lý nhà nớc cũng tăng từ 20% năm1995
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN