cmtt cuộc thi em yêu lịch sử việt nam - Pdf 30

Họ và tên: Nguyễn Thị Kiều Trinh Lớp 10A13
CUỘC THI “EM YÊU LỊCH SỬ VIỆT NAM”
Câu 1:
- Cách mạng tháng Tám là một sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc. Là
một học sinh, một công dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
em cảm thấy vô cùng tự hào về lịch sử đánh giặc cứu nước của dân ta, đồng
thời thấy được sự gian nan, vất vả, khó khăn của quân dân ta thời đó.
Ngày 9-5-1945, phát xít Đức đầu hàng vô điều kiện, chiến tranh kết thúc ở
châu Âu. Ngày 8-8-1945, Hồng quân Liên Xô tiến công như vũ bão vào
quân đội Nhật. Ngày 14-8-1945, phát xít Nhật đầu hàng vô điều kiện, Chiến
tranh thế giới lần thứ hai kết thúc. Theo thỏa thuận của các nước Đồng minh,
sau khi phát xít Nhật đầu hàng, quân đội Anh và Tưởng sẽ vào Đông Dương
để giải giáp quân đội Nhật. Trong khi đó, thực dân Pháp lăm le dựa vào
Đồng minh hòng khôi phục địa vị thống trị của mình; đế quốc Mỹ đúng sau
các thế lực này cũng sẵn sàng can thiệp vào Đông Dương; những phần tử
phản động, ngoan cố trong chính quyền tay sai Nhật đang âm mưu thay đổi
chủ, chống lại cách mạng.
Ở trong nước, trải qua các cuộc diễn tập, đến năm 1945, phong trào cách
mạng dâng cao. Ngày 9-3-1945, phát xít Nhật làm cuộc đảo chính hất cẳng
Pháp. Ngay trong đêm đó, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương mở rộng
quyết định phát động một cao trào cách mạng làm tiền đề cho tổng khởi
nghĩa, thay đổi các hình thức tuyên truyền, cổ động, tổ chức và đấu tranh
cho thích hợp. Tháng 3-1945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn
nhau và hành động của chúng ta”. Tháng 4-1945, Trung ương triệu tập Hội
nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, quyết định nhiều vấn đề quan trọng, thống
nhất các lực lượng vũ trang thành Việt Nam giải phóng quân. Ngày 16-4-
1945, Tổng bộ Việt Minh ra Chỉ thị tổ chức các Ủy ban Dân tộc giải phóng
các cấp và chuẩn bị thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam, tức
Chính phủ lâm thời cách mạng Việt Nam.
Từ tháng 4-1945 trở đi, cao trào kháng Nhật, cứu nước diễn ra mạnh mẽ,
phong phú về nội dung và hình thức. Đầu tháng 5-1945, Bác Hồ từ Cao

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội) lịch sử, trước cuộc
mít tinh của gần một triệu đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính
phủ Lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc
dân và thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (nay là Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Từ đó, ngày 2-9 là Ngày Quốc khánh của nước
ta.
- Độc lập có ý nghĩa rất to lớn đối với mỗi quốc gia trên thế giới. Từ trong
chiều sâu lịch sử đấu tranh oai hùng để dựng nước và giữ nước của mình,
khát vọng tự do, độc lập đã nhiều lần được tuyên ngôn như là một ý chí bất
khuất của dân tộc ta. Ý chí ấy được thể hiện ngày một kiên quyết và rõ ràng,
từ Lý Thường Kiệt với “Nam quốc sơn hà ”, Nguyễn Trãi bằng “Bình Ngô
đại cáo”, đến Trần Quốc Tuấn bởi “Hịch tướng sĩ” và ở nhiều tuyên ngôn
khác nữa của các anh hùng, hào kiệt mà dân tộc ta thời nào cũng có.
Song, tự do, độc lập cũng là khát vọng chung của mọi quốc gia dân tộc và
nạn nô dịch dân tộc chưa bao giờ chấm dứt kể từ khi lịch sử thành văn. Đó là
hai mặt của một vấn đề mà bất cứ dân tộc nào, nhất là các dân tộc nhỏ, phải
tính đến trên con đường đi tới độc lập, tự do thực sự. Dân tộc có độc lập thì
nhân dân mới có thể tự mình phát triển đất nước, không có độc lập, không có
tự do sẽ khiến cho đất nước không thể đi lên, mà phải chịu áo bức, chịu khổ
sai của quân đô hộ. Điều đó quả thực trái với đạo lý thường ngày, trái với tự
tôn dân tộc. Bởi vậy, mỗi dân tộc luôn cố gắng đấu tranh giành lại độc lập
cho đất nước.
Câu 2:
Thủ Đô Hà Nội có hàng nghìn di tích lịch sử của Hà Nội, hơn 500 di tích
đã được xếp hạng. Trong đó Văn Miếu – Quốc Tử Giám là một di tích gắn
liền với sự thành lập của kinh đô Thăng Long dưới triều Lý, đã có lịch sử
gần nghìn năm, với quy mô khang trang bề thế nhất, tiêu biểu nhất cho Hà
Nội và cũng là nơi được coi là biểu tượng cho văn hóa, lịch sử Việt Nam.
Là tổ hợp gồm hai di tích chính: Văn Miếu thờ Khổng Tử, các bậc hiền triết
của Nho giáo và Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An, người thầy tiêu

nền với hai cột đá và 4 nghiên đá. Ngày nay, ngôi nhà này đã được phục
dựng theo kiến trúc cùng thời với quần thể các công trình còn lại.
Năm 1762, Lê Hiển Tông cho sửa lại là Quốc Tử Giám – cơ sở đào tạo và
giáo dục cao cấp của triều đình. Năm 1785 đổi thành nhà Thái học.
Đời nhà Nguyễn, Quốc Tử giám lập tại Huế. Năm 1802, vua Gia Long ấn
định đây là Văn Miếu – Hà Nội và cho xây thêm Khuê Văn Các. Trường
Giám cũ ở phía sau Văn Miếu lấy làm nhà Khải thánh để thờ cha mẹ Khổng
Tử. Đầu năm 1947, giặc Pháp nã đạn đại bác làm đổ sập căn nhà, chỉ còn cái
nền với hai cột đá và 4 nghiên đá. Ngày nay, ngôi nhà này đã được phục
dựng theo kiến trúc cùng thời với quần thể các công trình còn lại.
Về kiến trúc:
Quần thể kiến trúc Văn Miếu – Quốc Tử Giám được bố cục đăng đối từng
khu, từng lớp theo trục Bắc Nam, mô phỏng tổng thể quy hoạch khu Văn
Miếu thờ Khổng Tử ở quê hương ông tại Khúc Phụ, Sơn Đông, Trung Quốc.
Tuy nhiên, quy mô ở đây đơn giản hơn, kiến trúc đơn giản hơn và theo
phương thức truyền thống nghệ thuật dân tộc.
Phía trước Văn Miếu có một hồ lớn gọi là hồ Văn Chương, tên cũ xưa gọi là
Thái Hồ. Giữa hồ có gò Kim Châu, trước đây có lầu để ngắm cảnh.Ngoài
cổng chính có tứ trụ, hai bên tả hữu có bia “Hạ Mã”, xung quanh khu vực
xây tường cao bao quanh. Cổng Văn Miếu xây kiểu Tam quan, trên có 3 chữ
“Văn Miếu Môn” kiểu chữ Hán cổ xưa.
Trong Văn miếu chia làm 5 khu vực rõ rệt, mỗi khu vực đều có tường ngăn
cách và cổng đi lại liên hệ với nhau:
Khu thứ nhất: bắt đầu với cổng chính Văn Miếu Môn đi đến cổng Đại
Trung Môn, hai bên có cửa nhỏ là Thành Đức Môn và Đạt Tài Môn.
Khu thứ hai: từ Đại Trung Môn vào đến khuê Văn Các (do Đức Tiền Quân
Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành cho xây năm 1805). Khuê Văn
Các là công trình kiến trúc tuy không đồ sộ song tỷ lệ hài hòa và đẹp mắt.
Kiến trúc gồm 4 trụ gạch vuông (85 cm x 85 cm) bên dưới đỡ tầng gác phía
trên, có những kết cấu gỗ rất đẹp. Tầng trên có 4 cửa hình tròn, hàng lan can

nam. Hình ảnh hạc chầu trên lưng rùa trong nhiều ngôi chùa, miếu…, hạc
đứng trên lưng rùa biểu hiện của sự hài hòa giữa trời và đất, giữa hai thái
cực âm – dương. Hạc là con vật tượng trưng cho sự tinh tuý và thanh cao.
Theo truyền thuyết rùa và hạc là đôi bạn rất thân nhau. Rùa tượng trưng cho
con vật sống dưới nước, biết bò, hạc tượng trưng cho con vật sống trên cạn,
biết bay. Khi trời làm mưa lũ, ngập úng cả một vùng rộng lớn, hạc không thể
sống dưới nước nên rùa đã giúp hạc vượt vùng nước ngập úng đến nơi khô
ráo. Ngược lại, khi trời hạn hán, rùa đã được hạc giúp đưa đến vùng có
nước. Điều này nói lên lòng chung thuỷ và sự tương trợ giúp đỡ nhau trong
lúc khó khăn, hoạn nạn giữa những người bạn tốt.
Trải qua bao thăng trầm và những biến cố của lịch sử, Văn Miếu – Quốc Tử
Giám không còn nguyên vẹn như xưa. Những công trình thời Lý, thời Lê
hầu như không còn nữa. Song Văn Miếu – Quốc Tử Giám vẫn giữ nguyên
được những nét tôn nghiêm cổ kính của một trường đại học có từ gần 1000
năm trước của Hà Nội, xứng đáng là khu di tích vǎn hoá hàng đầu và mãi là
niềm tự hào của người dân Thủ đô khi nhắc đến truyền thống ngàn năm văn
hiến của Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội. Và Khuê Văn Các ở Văn Miếu-
Quốc Tử Giám đã được công nhận là biểu tượng của thành phố Hà Nội.
- Giá trị văn hóa lịch sử của khu di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám: Bia
Tiến Sĩ
Nội dung các Văn bia hết sức phong phú. Qua những tấm bia này, người đọc
có thể hình dung được không khí của xã hội đương thời. Nhiều tấm bia ghi
rõ cả số người dự thi, cả đề bài ra của kỳ thi năm ấy. Tất cả các bia đều có
tên tuổi của người đỗ khoa thi ấy được xếp từ cao xuống thấp. Người đọc có
thể tìm thấy ở những tấm bia này tên tuổi của những người nổi tiếng trong
lịch sử, như: các nhà sử học Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh; nhà toán học Lương
Thế Vinh; các nhà văn hóa: Tể tướng Nguyễn Quý Đức, Bùi Huy Bích; nhà
bác học Lê Quý Đôn; nhà chính trị, ngoại giao lỗi lạc Ngô Thì Nhậm

Xuyên suốt nội dung của các văn bia là những tuyên ngôn về sử dụng và đãi

Nguyên biên soạn. Trung tâm hoạt động văn hóa - khoa học Văn miếu -
Quốc Tử Giám ấn hành.
Câu 3:
- Trong các nhân vật lịch sử Thăng Long – Hà Nội em thích nhất nhân vật
Lý Thường Kiệt. Vì ông ây chính là một vị anh hùng kiệt suất của dân tộc.
- Hiểu biết về Lý Thường Kiệt của em :
Lý Thường Kiệt vị anh hùng dân tộc, một nhà ngoại giao, nhà quân sự kiệt
xuất trong lịch sử Việt Nam. Tên tuổi của ông cũng gắn liền với chiến thắng
tại phòng tuyến sông Như Nguyệt cùng với bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên
của nước ta.
Vị quan phò tá ba đời vua triều Lý
Theo “Phả hệ họ Ngô Việt Nam” Lý Thường Kiệt tên thật là Ngô Tuấn, tự
là Thường Kiệt. Sau này, ông được ban cho quốc tính (họ của vua) và lấy tên
là Lý Thường Kiệt. Ông là của con của Sùng Tiết tướng quân Ngô An Ngữ,
cháu của Ngô Ích Vệ, chắt của Sứ quân Ngô Xương Xí và là cháu đời thứ 5
của Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập – hoàng tử trưởng của Ngô Quyền
(Tuy nhiên điều này còn có rất nhiều người không đồng tình và phản biện).

Tuy bản thân là một thái giám, nhưng nhờ tài năng và đức độ của mình mà
trong cả ba đời vua nhà Lý là Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông và Lý Nhân
Tông tin tưởng và giao cho ông nắm giữ nhiều chức quan. Đây cũng là một
điều hiếm thấy trong lịch sử nước ta khi một hoạn quan lại có thể nắm quyền
lực và tham gia vào việc triều chính quốc gia.

Năm ông 21 tuổi dưới thời vua Lý Thái Tông ông được bổ nhiệm giữ chức
Kỵ mã hiệu úy (một chức quan nhỏ trong kỵ binh). Đến năm 23 tuổi (1041)
ông được sung vào ngạch thị vệ để hầu vua, giữ chức Hoàng môn chi hậu,
và được thăng dần lên chức Đô tri, trông coi mọi việc trong cung.

Triều Lý Thái Tông, ông được phong chức Bổng hành quân hiệu úy (một

Lý Thường Kiệt đã viết bài hịch Phạt Tống lộ bố văn nhằm nói rõ lý do
đánh Tống rồi niêm yết tại nhiều nơi. Nhờ đó, cuộc chiến với quân Tống đã
được nhân dân ta hết lòng ủng hộ.

Ngày 27 tháng 10 năm 1075 quân ta bắt đầu tiến công vào đất Tống. Thoạt
tiên, quân Việt phá hủy một loạt các đồn trại biên giới, rồi lần lượt đổ bộ lên
cảng và đánh chiếm các thành Khâm, Liêm.
Sau đó, đại quân tiếp tục tiến sâu vào đất địch. Ngày 18 tháng 1 năm 1076
áp sát thành Ung. Đây được coi là căn cứ quan trọng nhất trong những căn
cứ địch dùng cho cuộc viễn chinh xâm lược vào Đại Việt. Sau 42 ngày vây
hãm và tấn công quyết liệt ta hạ được thành, tiêu diệt và bắt sống nhiều quân
địch.

Theo chủ trương đã định, quân ta được lệnh san bằng các thành lũy lớn nhỏ,
tiêu hủy các kho dự trữ lương thực, vũ khí, giáng đòn sấm sét làm tổn thất
nghiêm trọng các cơ sở vật chất và phương tiện chiến tranh của địch, làm
nhụt nhuệ khí của bọn cầm quyền phương Bắc trong việc chuẩn bị chiến
tranh xâm lược.

Sau khi đã đạt mục tiêu của cuộc tiến công đánh sang đất Tống, Lý Thường
Kiệt quyết định rút nhanh quân về nước. Cuộc rút quân rất đúng lúc, vừa bảo
toàn được lực lượng, vừa phá được kế hiểm của giặc: chúng định điều quân
lẻn sang đánh úp Đại Việt nhân lúc đại quân ta còn đang ở bên nước chúng.

Trong Việt sử tiêu án, nhà viết sử Ngô Thì Sĩ đã ca ngợi Lý Thường Kiệt:
"Bày trận đường đường, kéo cờ chính chính, mười vạn thẳng sâu vào đất
khách, phá quân ba châu như chẻ trúc, lúc tới còn không ai dám địch, lúc
rút quân còn không ai dám đuổi, dụng binh như thế, chẳng phải nước ta
chưa từng có bao giờ".


sử lược thì quân Tống đại bại, bị tiêu diệt đến năm, sáu phần mười. Số còn
lại cũng lo sợ, nao núng tìm cách rút chạy về nước Tống.

Sau chiến thắng trên, Lý Thườnsg Kiệt còn chủ động cho người sang cầu
hòa. Thực chất, đó chỉ là một đòn tấn công đặc biệt, mở đường cho quân
Tống rút lui về nước nhằm chuẩn bị cho việc tái lập mối quan hệ “bang giao
hữu hảo”, tránh họa binh đao lâu dài cho cả hai dân tộc.

Cuộc chiến này đã khiến đại Tống tổn thất nặng nề về người và của. Nếu
tính cả quân số của nhà Tống bị tiêu diệt ở Châu Ung, Châu Khâm và Châu
Liêm, tổng số quân Tống bị giết lên tới khoảng ba chục vạn. Chi phí cho
cuộc chiến tranh nếu quy ra vàng thì tổng chi phí lên tới 5.190.000 lạng.

Thất bại này đã khiến giặc phương Bắc từ bỏ ý định xâm lược và đô hộ Giao
Chỉ (tên hiệu của nước ta lúc bấy giờ) và trong khoảng 200 năm sau đó, triều
đại Trung Quốc không dám đụng đến đất nước ta.
Lịch sử mãi ghi nhớ công ơn người anh hùng dân tộc, nhà quân sự kiệt xuất,
nhà chính trị và ngoại giao tài ba Lý Thường Kiệt, người lãnh đạo quân dân
Đại Việt thời Lý, phá Tống bình Chiêm thắng lợi. Với công lao hiển hách
của mình, Lý Thường Kiệt từng được cả triều đình nhà Lý quý trọng. Ngay
lúc ông còn sống, Lý Nhân Tông đã cho làm bài hát để tán dương công
trạng. Ông được lịch sử ghi nhận là anh hùng kiệt xuất, một con người hiến
dâng cả tâm hồn sức lực cho sự nghiệp độc lập của Tổ quốc ở buổi đầu thời
tự chủ. Tài năng quân sự kiệt xuất của ông làm kẻ thù khiếp phục.

Lý Thường Kiệt mất tháng sáu năm Ất Dậu (tức trong khoảng từ 13/7 đến
11/8/1105), thọ 86 tuổi, được truy tặng Kiểm hiệu Thái úy bình chương quân
quốc trọng sự, tước Việt Quốc Công. Nhiều nơi đã lập đền thờ, dựng bia ghi
công lao của ông, tiêu biểu nhất là bài văn bia chùa Linh Xứng ở huyện Hà
Trung, tỉnh Thanh Hoá.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status