Bài dự thi vận dụng kiến thức vào bài giảng thực tiễn rượu cần - Pdf 30

PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO CƯ KUIN
TRƯỜNG THCS EA HU
BÀI DỰ THI
VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN VÀO GIẢI QUYẾT
TÌNH HUỐNG TRONG THỰC TIỄN
TÊN ĐỀ TÀI: RƯỢU CẦN TÂY NGUYÊN – SAY ĐẮM
LÒNG NGƯỜI

Nhóm thực hiện: Lê Thị Thảo Ly (Nhóm trưởng)
Trần Thị Thu Phương
Email:
Ea Hu, năm học 2014 – 2015
PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO CƯ KUIN
TRƯỜNG THCS EA HU
Địa chỉ: Thôn 3 – Xã Ea Hu – Huyện Cư Kuin – Tỉnh ĐăkLăk
Điện thoại: 05003631742
Web: />Nhóm thực hiện:
1. Họ và tên: Lê Thị Thảo Ly (nhóm trưởng)
Lớp: 9A
Email:
2. Họ và tên: Trần Thị Thu Phương
Lớp: 9A
Email:
2
1. TÊN TÌNH HUỐNG
Bài tiểu luận tìm hiểu về nét văn hóa, bản sắc riêng của Tây Nguyên:
“RƯỢU CẦN”
2. MỤC TIÊU GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG
Vận dụng những kiến thức liên môn của các môn Tin học, Giáo dục công
dân, Ngữ văn, Hóa học, Lịch sử, Công nghệ, Âm nhạc, Mĩ thuật và
những hiểu biết về thực tế để thuyết trình cho con người Việt Nam cũng

cồng chiêng và các điệu múa truyền thống, rượu cần đã trở thành một đặc
sản văn hóa của Tây Nguyên nói riêng và các dân tộc thiểu số cao nguyên
Việt Nam nói chung. Rượu cần luôn là một phần không thể thiếu trong các
buổi tiệc, trong các lễ hội của người dân tộc. Cái hấp dẫn, độc đáo của rượu
cần không chỉ ở mùi vị say nồng của men rượu mà còn bởi bè dày truyền
thống văn hóa của nó. Mỗi ché rượu cần đều chứa đựng cái hồn của mỗi dân
tộc, là cầu nối các dân tộc với nhau, giữa những người hôm nay với cha ông
ngày xưa và con cháu mai sau. Bởi vì thế mà rượu cần luôn mang nét đặc
trưng riêng mỗi vùng từ cách làm rượu cho đến cách thưởng thức, luôn tồi
tại cùng với sự tồn tại của dân tộc đó. Ngày nay, cùng với sự phát triển của
xã hội, để có thể gìn giữ và phát huy nét văn hóa độc đáo ấy, chúng ta phải
có sự hiểu biết sâu sắc ở cả khía cạnh khoa học cũng như văn hóa. Đó cũng
là lí do lôi cuốn chúng em tìm hiểu đề tài: “Rượu Cần”.
Do sự hạn chế về thời gian, kiến thức cũng như những trãi nghiệm
thực tế, trong bài tiểu luận này chúng em chỉ xin giới thiệu phương pháp
chung cơ bản để làm rượu cần, những biến đổi sinh hóa và vài nét sơ lược
về văn hóa rượu cần, những cảm nhận riêng của mình về một sản phẩm
độc đáo này.
Rất mong nhận được những đóng góp của thầy cô và các bạn.
5
Bình uống Rượu Cần
I. Giới thiệu về rượu cần
Rượu cần là loại rượu truyền thống của các dân tộc ít người Tây
Nguyên. Đây là loại rượu không qua chưng cất nên nồng độ rượu thấp, vị
hơi ngọt, mùi thơm đặc trưng, còn mang nhiều dinh dưỡng. Rượu cần có
điểm khác biệt so với các rượu lên men không qua chưng cất khác ở nguyên
liệu và bánh men lá. Mỗi dân tộc, mỗi vùng lại có những cách lên men riêng
biệt nên có mùi vị khác nhau. Ngày nay, có nhũng cơ sở sản xuất bánh men
làm sẵn nhưng chưa phát triển bởi tính truyền thống của sản phẩm.
Trong bất

Vòng ngực nổi cồn trên miệng ché
Rượu chảy về hai bên, men say còn ở giữa.
Lửa phừng phừng bứt tượt áo nuk-kiar…
Ơi chân trời lửa bên em sao mà xa ngái thế
Đường gấp khúc trái tim sâu thăm thẳm đáy men nồng.
Uống rượu cần thể hiên sự đoàn kết, thương yêu không có chuyện
chén chú, chén anh, chén ông, chén bác… Mọi người cùng uống với nhau
chung cần, trẻ, già, trai, gái nhâm nhi thịt trâu nướng mà không sợ mất vệ
sinh.
8
Lễ hội Rượu Cần Tây Nguyên
II. Nguyên liệu và cách làm
A. Nguyên liệu:
Nguyên liệu truyền thống để làm rượu cần là loại gạo nương (gạo từ
lúa trồng trên cạn ở sườn đồi núi). Tùy theo cách làm và điều kiện lương
thực địa phương, người ta có thể bổ sung thêm các loại hoa màu khác như
khoai mì, sắn, bắp, hạt cào (một thứ cỏ mọc ở Tây Nuyên), hạt bo bo, kê…
Chính sự khác nhau về nguồn nguyên liệu đã góp phần tạo nên hương vị đặc
trưng ở mỗi vùng. Ở những vùng đồng bằng, người ta có thể dùng gạo lức
(gạo chưa qua chà xát) để làm nguyên liệu.
9
Nếp cái hoa vàng - nguyên liệu làm Rượu Cần
B. Cách làm:
Làm rượi cần rất đơn giản. Chỉ cần bỏ men vào cơm ủ trong ché (ghè)
độ bốn năm hôm là thành rượu. Lúc nào uống thì thêm nước lã vào chứ
không cất như rươu đế. Rượu để lâu ngày càng ngon. Có người đem chôn
rượu ở dưới đất hàng năm cho rượu hả hơi mới đem lên uống.
Rượu cần có nhiều loại. Rượi thóc là lúa mới xay, rửa cho sạch, ngâm
nước rồi trộn men vào ché. Lấy lá chuối bịt chặt miệng ché độ năm, sáu hôm
sau là dùng được. Rượu cơm là rượu làm bằng gạo nấu thành cơm ủ với

bốc, mạnh hơn các loại bia gọi là "lẩu phủ trai" (rượu đàn ông). Rượu cần
uống bằng nước lạnh đun sôi để nguội (hoặc để trong tủ lạnh càng tốt). Nếu
dùng nước nóng (kể cả hơi ấm) uống sẽ không ra gì, rượu coi như bị hỏng.
Khi uống ta bật bỏ nắp bịt ra, đổ nước ngâm một phút cho ngấm, cắm cần
vào và đổ nước uống liên tục đến lúc nhạt thì thôi (hoặc hút ra chai uống qua
cốc, chén như bia và rượu)
12
Bình uống Rượu Cần
III. Thức Uống Tâm Linh
Không phải ngẫu nhiên mà rượu cần trở thành một thức uống tâm linh
của đồng bào dân tộc ít người ở vùng Nam Tây Nguyên. Bởi rượu cần được
làm từ men của rừng, uống ở rừng, “tắm” trong không gian văn hoá của lễ
hội của rừng… Rượu chỉ dùng trong một không gian văn hoá tâm linh, văn
hoá lễ hội xung quanh bếp lửa, nhà dài…với những nghi thức mời rượu
huyền ảo trong tiếng cồng, chiêng mênh mang, vang vọng ở chốn đại ngàn.
13
Lễ hội Rượu Cần Tây Nguyên
Mặc dù chưa có một tài liệu nào chính thức nói về nguồn gốc ra
đời của rượu cần, nhưng theo các già làng cho biết, thuở xưa xuất phát từ
việc cúng bái thần linh, một số người dùng “men” được chế biến từ cây
rừng trộn với cơm hèm, ủ vào trong những quả bầu khô để dâng cho thần
linh. Sau lễ, mọi người đập bầu và chia nhau phần cơm để “mút” (từ của
dân tộc bản địa Đà Lạt), và cụ Nhím (cách gọi trân trọng của đồng bào ở
đây dành cho con vật thiêng: Nhím rừng) thấy được mới bày cho cách ủ
rượu cần, và cách dùng cần để uống, cũng vì vậy mà người dân tộc có
thói quen trước khi uống rượu cần đều mời thần linh và cụ Nhím uống
trước. Hiện nay, một số bôn làng ở Di Linh, Đơn Dương vẫn còn giữ thói
quen mỗi khi uống rượu cần thường buộc một sợi lông Nhím vào cần để
14
ghi nhớ công lao của Cụ Nhím.

phải uống cạn ống nước đầu tiên, theo truyền thống, uống tình cảm là
xoay vòng; uống thân thiện, tri kỷ thì cùng uống, còn uống hoà giải - phải
có kèm theo con gà, hoặc vòng cườm để làm chứng, người chịu lỗi uống
trước, gà sẽ được làm thịt và lấy giò để cho già làng xem người có lỗi
16
thành thật hay không. Riêng trong lễ đâm trâu, thì mọi người thi nhau
uống, mỗi làng sẽ đại diện một người, ai uống nhiều hơn thì làng đó
thắng.
V. Văn Hóa Uống Rượu Cần
Ở Tây Nguyên đâu đâu cũng uống rượu cần. Rượu cần thơm,
ngon, mát, bổ, kích thích tiêu hoá, lợi tiểu. Chum nhỏ là một chum một
cần, chồng rót vợ uống và ngược lại. Chum nhỡ là đôi bạn,đôi cần, theo
số chẵn là bốn, sáu, tám. Chum to sẽ là mười, mười hai,mười bốn bạn bè
anh em đến là "lảu khay cáy khả" (rượu mở, thịt gà).
Thứ tự uống cũng khác, khi thầy cúng cúng xong, mọi người vít
cần uống rượu theo thứ tự nữ uống trước, nam uống sau: Chủ nhà, thầy
cúng, anh hoặc em bà chủ nhà, người già,… nếu có khách quý thì chủ nhà
uống xong cầm cần mời khách. Đều hết sức đặc biệt là cần rượu duy nhất đó
không bao giờ rời khỏi bàn tay con người, ai đó mà thả cần rượu ra khỏi tay
là thất lễ với chủ nhà. Tại sao sau khi chúng ta uống phải lấy tay bịt đầu cần
rồi truyền cho người khác.
17
Văn hóa uống Rượu Cần
Rượu cần là một nét sinh hoạt văn hóa đẹp – văn hoá rượu cần. Từ
"đặc sản" ở đây, ngoài ý nghĩa là sản phẩm đặc biệt về nội dung, chất lượng
mà còn bao hàm cả sự độc đáo có một không hai về cách tiêu dùng. Trong
hàng chục, hàng trăm loại rượu, có lẽ đây là loại duy nhất không uống bằng
ly, bằng chén mà uống bằng một dụng cụ đặc biệt được gọi là cần. Bởi thế,
việc sử dụng thứ đặc sản này có thêm "công đoạn" hút, trước khi uống
chúng vào người. Hơn nữa, đối với rượu cần, người ta không uống một


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status