Phân tích bài thơ chí anh hùng của nguyễn công trứ - Pdf 30

Phân tích bài thơ Chí anh hùng của Nguyễn Công
Trứ
November 12, 2014 - Chuyên mục: Văn mẫu THCS - Tác giả: Thu Huyền
Đề bài: Phân tích bài thơ “Chí anh hùng” của Nguyễn
Công Trứ. Cảm nghĩ của em về quan niệm anh hùng ấy
của nhà thơ.
Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858), là một trong những nhà thờ tiêu biểu của nước ta trong nửa đầu thế kỉ
XIX. Ông là một nhà nho, văn võ song toàn, có tài kinh bang tế thế. Về mặt thơ văn, những bài thơ viết
theo thể hát nói của ông cho ta thấy một tâm hồn khoáng đạt, một cốt cách mạnh mẽ hào hùng, rất độc
đáo. Bài “Chí anh hùng” là một trong những bài hát nói xuất sắc nhất của nhà thơ viết trong thời trai
trẻ. Bài thơ biểu lộ chí khí hãm hở lập công danh, để lại công danh sự nghiệp cho đời. Nhạc điệu âm
vang, dồn dập của bài thơ gợi lên trong lòng chúng ta nhiều ấn tượng sâu sắc, tuyệt đẹp:
“Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc,
Nợ tang bồng vay giả giả vay…
…Thảnh thơi thơ túi rượu bầu”
Khổ thơ đầu nói về chí làm trai. Theo quan niệm của người xưa, người con trai sinh ra ở đời, đầu đội
trời, chân đạp đất là phải mang nợ tang bồng. Tang là cây dâu, bồng là cỏ bồng, nghĩa đen là cung tên.
Nợ tang bồng là nợ lớn của đấng nam nhi: phải có chí lớn à bốn phương, tung hoành giữa trời đất, ra
sức giúp nước, trả ơn vua, trả nợ đời. Không thể sống ru rú trong xó nhà. Không thể quẩn quanh, mang
thói nữ nhi thường tình. Phải đem tài trí đua tranh với đời.
Người có chí nam nhi, có chí anh hùng thì trường đua tranh vô cùng rộng lớn mang tầm vóc vũ trụ:
“vòng trời đất”, “nam, bắc, đông, tây” “trong bốn bể”. Mang “nợ tang bồng” thì phải hết sức sòng
phẳng, nghĩa là có “vay” thì phải có “trả”.
“Ngang dọc dọc ngang” chỉ sự tung hoành đó đây; ngoài ra còn phải “vẫy vùng” đè sóng cưỡi gió, đem
tài năng thi thố với thiên hạ.
Cái hay của khổ đầu bài hát nói là ở giọng điệu hào hùng. Thơ đầy nhạc, lôi cuốn, hấp dẫn. Nghệ thuật
láy âm, điệp từ, luyến láy rất tài tình: “dọc ngang ngang dọc”, “vay giả già vay”. Nhà thơ làm hiện lên
trước mắt người đọc, người nghe hình ảnh một đấng nam nhi đang tung hoành, vùng vẫy trong “vòng
trời đất”:
“Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc
Nợ tang bồng vay giả giả vay

cái chí khí kẻ sĩ của mình.
Khổ thơ cuối trong bài hát nói, theo thi pháp cổ gọi là khổ xếp, chỉ có 3 câu, câu cuối cùng gọi là câu
keo, chỉ có sáu từ:
“Đường mây rộng thênh thênh cử bộ
Nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo
Thảnh thơi thơ túi rượu bầu.”
“Đường mây” là hình ảnh ẩn dụ, lấy từ câu chữ “thanh vân chí thượng” (lên đến tận mây xanh) ý nói
thi đỗ, có địa vị cao sang, lập được công danh. “Thênh thênh cử bộ'“ nghĩa là bước đi thênh thênh, ung
dung trên con đường công danh. Ở khổ đầu, nhà thơ đã viết: “Nợ tang bồng vay giả giả vay”, ở khổ xếp
lại viết: “Nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo”, qua đó ta thấy dưới ngòi bót của Nguyên Công Trứ,
ngôn ngữ thơ vừa hình tượng”, biểu cảm vừa mang tính hệ thống chặt chẽ. “v tay reo”, “thành thơi' chỉ
niềm vui hân hoan, toại nguyện, thảnh thơi ung dung với “thơ túi rượu bầu”, sống tại cuộc đời của
những tao nhân mặc khách. “
Giọng thơ trở nên nhẹ nhàng, thư thái diễn tả niềm vui sướng và tự hào của kẻ sĩ sau khi đã làm tròn
nghĩa vụ với đời, đã trang trải hết nợ tang bồng. Và lúc ấy, có quyền được thảnh thơi vui sướng “thơ túi
rượu bầu”, thưởng thức trăng thanh gió mát. có người cho đó là hưởng lạc. Chưa hẳn thế!
Cảm nghĩ về quan niệm anh hùng của Nguyễn Công Trứ:
Bài “Chí anh hùng” của Nguyễn Công Trứ đã nói lên một cách sâu sắc, hào hùng chí nam nhi, nợ tang
bồng của kẻ sĩ trong xã hội phong kiến. Là đấng nam nhi thì phải có chí anh hùng: khao khát đua tranh,
vẫy vùng lập công danh, làm nên sự nghiệp lớn “lưu đắc đan tâm chiếu hãn thanh”. Đành rằng chí anh
hùng ấy mang màu sắc phong kiến, nhưng tích cực. Nguyễn Công Trứ đã sống và hành động như một
đấng trượng phu. Ông nhà nghèo, học giỏi, hào hoa, có chí lớn, từng đem tài năng thi thố với đời:
“Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng
Lúc bình Tây, cờ đại tướng
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên…”
(Bài ca ngất ngưởng)
Đoạn thơ trên đã nói lên một cách đầy đủ, sáng tỏ nhất nhân cách kẻ sĩ của Nguyễn Công Trứ. Đặc biệt
ông có công lớn trong việc di dân, lập ấp, khai khẩn đất hoang, lấn biển lập ra hai huyện Tiền Hải (tỉnh
Thái Bình) và Kim Sơn (tỉnh Ninh Bình). Đến nay, nhân dân những vùng ấy còn lập đền thờ, ghi nhớ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status