TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
BÙI HUYỀN TRANG
MSSV: 6116159
TÍNH HIỆN ĐẠI CỦA HÌNH TƢỢNG NHÂN VẬT PHỤ NỮ
TRONG HAI BỘ TIỂU THUYẾT THẦN ĐIÊU HIỆP LỮ
VÀ Ỷ THIÊN ĐỒ LONG KÝ
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Văn học
Cán bộ hƣớng dẫn: BÙI THỊ THÚY MINH
Cần Thơ, năm 2014
1
ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Mục đích nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
PHẦN NỘI DUNG
2.2.3.3. Tình yêu mù quáng, ích kỉ
2.2.4. Bản lĩnh của ngƣời phụ nữ
2.2.4.1. Vị trí xã hội
2
2.2.4.2. Mƣu trí, học vấn
2.2.4.3. Võ thuật
CHƢƠNG 3: BIỂU HIỆN SỰ HIỆN ĐẠI CỦA NHÂN VẬT NỮ TRONG TIỂU
THUYẾT KIM DUNG
3.1. Con ngƣời cá nhân
3.1.1. Nhân - Nghĩa
3.1.2. Lễ
3.1.3. Trí.
3.1.4. Tín
3.2 . Những mối quan hệ gia đình – xã hội đƣợc xử lý theo cái nhìn mới
3.2.1. Quan hệ Vua - tôi
3.2.2. Quan hệ cha - con
3.2.3. Quan hệ thầy - trò
3.2.4. Quan hệ chồng - vợ
3.3. Tâm tình của Kim Dung qua những nhân vật nữ trong tiểu thuyết kiếm hiệp
3.3.1. Tôn trọng, đề cao vai trò của ngƣời phụ nữ trong xã hội
3.3.2. Xã hội hòa bình
3.3.3. Tình yêu nhân loại, hôn nhân gia đình
PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
3
4
nói chung cho cộng đồng, có quyền đƣợc tự do trong tình yêu và đặc biệt là họ tự quyết
định cuộc đời của mình.
Các tác phẩm của Kim Dung, ra đời tuy đã lâu nhƣng sức sống rất lớn, nó đã để
lại trong lòng mọi ngƣời một xúc cảm mãnh liệt về thời đại, về sự đổi mới của văn
chƣơng. Những tác phẩm của ông là nguồn cảm hứng cho giới nghiên cứu không
ngừng khám phá và tìm tòi ra những điều mới mẽ trong sự đổi mới của tiểu thuyết
kiếm hiệp. Các tác phẩm của ông có giá trị không chỉ ở mặt tiểu thuyết kiếm hiệp mà
đặc biệt có giá trị văn chƣơng lớn, nó góp phần tạo nên sự phong phú cho nền văn học
Trung Hoa.
Sức hấp dẫn trong tiểu thuyết của Kim Dung đã thu hút sự quan tâm của đông đảo
các nhà nghiên cứu khoa học. Nhiếu khối lƣợng sách, các bài báo, chuyên luận, các
luận án đã viết nhiều về cuộc đời và sự nghiệp của Kim Dung. Các công trình này đã
tiếp cận nhiều gốc độ, xem xét và đánh giá ở nhiều bình diện, khai thác khá kĩ lƣỡng và
công phu, có hệ thống và tìm ra nhiều điều mới mẻ, những đóng góp độc đáo của Kim
Dung so với những cây bút cùng thời đầy sức thuyết phục.
2. Lịch sử vấn đề
Trải qua hơn nửa thế kỉ với những thăng trầm và đầy thử thách khó khăn, đến nay
hầu hết các nhà nghiên cứu, phê bình đều khẳng định Kim Dung là một tài năng lớn
của nền văn học Trung Quốc thế kỉ XX. Là đại diện xuất sắc ở thể loại tiểu thuyết kiếm
hiệp, các nhà nghiên cứu xem Kim Dung là một tác gia lớn, vì ông góp phần cho nền
văn học Trung Quốc một lƣợng lớn tác phẩm có giá trị. Điều này là sự chứng minh cho
vị trí xứng đáng của một bậc tài năng văn học tầm cỡ mà tầm ảnh hƣởng hết sức sâu
rộng và bền vững.
Tạp chí kiến thức ngày nay là nơi tiên phong trong việc đề cập đến Kim Dung,
bao gồm các bài xung quanh hiện tƣợng Kim Dung nhƣ giai thoại, phê bình, phỏng
thấy như đang sống trong thế giới ấy, cảm thấy được hưởng thụ nghệ thuật, một thứ
mỹ cảm khiến người say sưa.
Thứ ba: Sự biến hóa của tình tiết nghệ thuật trong tiểu thuyết Kim Dung như núi
mọc lên đột ngột ngoài trời, đó là chỗ người ta phải vỗ án khen tuyệt. Đang tưởng như
“sơn cùng thủy tận” bỗng gặp đường lối mở ra, tình men theo cảnh, hợp tình hợp lý.
6
Chính vì thế mà người ta không sao rời sách, cứ phải đọc cho đến hết”. (5, tr. 265266).
Có rất nhiều nhà nghiên cứu không bỏ qua mọi tình tiết có liên quan đến Kim
Dung, họ bắt đầu đi sâu vào và khám phá nhà tiểu thuyết gia bậc thầy của tiểu thuyết
kiếm hiệp Trung Quốc. Trong bài viết của Trần Lê Hoa Tranh, đã nói rằng: “Nhắc đến
việc nghiên cứu Kim Dung không thể không nói đến nhà nghiên cứu Vũ Đức Sao Biển,
người được độc giả yêu mến gọi là “nhà Kim Dung học” với bề dày nghiên cứu là bộ
Kim Dung giữa đời tôi gồm ba cuốn Thượng- Trung- Hạ xuất bản trong ba năm 19971998- 1999, tâp hợp những bài viết đăng rải rác trên các báo kiến thức ngày nay,
thanh niên, thế giới mới, pháp luật. Vũ Đức Sao Biển đã trình bày những ý kiến của
mình về các mặt trong tiểu thuyết Kim Dung từ phong cách xây dựng nhân vật, triết lí,
võ công, thơ ca nhạc họa, rược, hoa, mỹ nữ, tình dục, chất hài, chất ghen… cho đến
phân tích những nhân vật mà ông đân đắc (Tiêu Phong, A Tử, Nghi Lâm, Vi tiểu
Bảo…)”[19].
Nghiên cứu về Kim Dung mang tính khoa học thực sự phải nhắc đến sự mạnh dạn
của Tạp chí văn học nƣớc ngoài đã ra môt chuyên san về truyện kiếm hiệp của Kim
Dung (số 2.1998) cùng với việc dịch lại và đăng bộ Tuyết Sơn Phi Hồ (do các dịch giả
Ngọc Thạch, Hữu Nùng, Phạm Tú Châu) là các bài nghiên cứu phê bình có chất lƣợng
của các học giả có uy tín về văn học Trung Quốc nhƣ Phạm Tú Châu, Đỗ Lai Thúy,
Ông Văn Tùng… Phạm Tú Châu dịch rất nhiều bài về Kim Dung nhƣ: “Về hiện tượng
chênh lệch giữa bản dịch và nguyên tác tiểu thuyết Kim Dung, Số 2 – 1998”, “Kim
Dung và tiểu thuyết võ hiệp của ông, Số 2 – 1998”, Còn mãi Kim Dung, Số 2 – 1998”,
và “Hội thảo quốc tế về tiểu thuyết Kim Dung, Số 1 – 1999”. Đỗ Lai Thúy có bài:
của mình mà thực hiện được tâm nguyện cảm thông với đồng loại. Ông dẫn ta về với
một nước Trung Hoa xưa cũ, về với chốn tâm linh tĩnh lặng, lưu lại kho tàng nghệ
thuật mấy chục triệu chữ, cũng lưu lại một thế giới kỳ dị; khiến người ta phiên diêu
trong thế giới võ hiệp tĩnh mịch, cái thế giới đã mê hoặc những ai yêu mến nó.” (7, tr.
263).
3. Mục đích nghiên cứu
Trong đề tài này, mục đích nghiên cứu của tôi là đi vào tìm hiểu về tác giả, tác
phẩm nói chung và nhân vật ngƣời phụ nữ trong tác phẩm của Kim Dung nói riêng.
8
Đồng thời, tôi còn đi vào nghiên cứu tính hiện đại trong các tác phẩm của ông cũng
nhƣ khám phá những giá trị văn học đƣợc ông xây dựng trong tác phẩm của mình.
Trong cuộc sống, mỗi con ngƣời luôn tồn tại hai măt trái ngƣợc nhau đó là tốt
xấu. Nếu ta không biết phân biệt và nhận định đƣợc cái gì là tốt cái gì là xấu thì điều đó
ngày càng phúc tạp và nguy hiểm vô cùng. Cũng chính vì điều này mà tôi đi nghiên
cứu và khám phá những tính cách độc đáo của những nhân vật nữ trong tiểu thuyết của
Kim Dung để tìm hiểu thêm về quá trình diễn biến tâm lí nó phức tạp nhƣ thế nào.
Không những vậy mà tôi còn đi vào khám phá, khai thác và nghiên cứu thêm về những
tình cảm của ngƣời phụ nữ dành cho ngƣời mình yêu nhƣ thế nào: chung thủy hay phản
bội, chân thành hay giả dối, yêu thƣơng hay đố kị… vì vấn đề tình yêu là điều đáng
phám khá nhất trong quá trình diễn biến tâm lí của nhân vật nữ.
Đồng thời nghiên cứu tiểu thuyết của Kim Dung để thấy đƣợc sự sáng tạo khá độc
đáo, đặc sắc của ông trong việc xây dựng hình tƣợng nhân vật và thấy đƣợc phong thái
của nhà tiểu thuyết gia, một bậc thầy trong giới tiểu thuyết kiếm hiệp.
4. Phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn này, đối tƣợng nghiên cứu của tôi là ở đề tài ngƣời phụ nữ.
trong hai bộ tiểu thuyết của ông.
Phƣơng pháp phân tích – chứng minh: từ bƣớc tổng hợp, tôi tiến hành phân tích
thế giới nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Kim Dung và chứng minh với nhiều dẫn
chứng cụ thể trong hai bộ tiểu thuyết chính của ông.
10
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
Không giống nhƣ nhiều nhà văn khác cùng thời hoặc sau mình, Kim Dung đã
chọn cho mình một hƣớng đi riêng hoàn toàn độc lập và độc đáo. Ông chọn cho mình
cách thể hiện tƣ tƣởng mà ít có nhà văn nào cùng thời thể hiện thành công nhƣ ông.
Sáng tác của Kim Dung về cơ bản mới về lối viết, cách xây dựng nhân vật, tình huống,
điều mới. Đặc biệt là hình tƣợng nhân vật phụ nữ trong tiểu thuyết của ông.
1.1 Khái niệm hình tƣợng nhân vật.
1.1.1. Hình tượng nghệ thuật
Nếu nhƣ khoa học sử dụng những khái niệm, định nghĩa để thể hiện mình thì
nghệ thuật lấy hình tƣợng để diễn tả, tái hiện đối tƣợng, nội dung mà nó đề cập. Khái
niệm hình tƣợng nghệ thuật từ lâu đã không còn xa lạ với những ai đã từng tiếp xúc với
bất cứ loại hình nghệ thuật nào nhƣ: văn học, hội họa, điêu khắc, ca kịch... ngƣời nghệ
sĩ dùng hình tƣợng nghệ thuậtđể nhận thức và cắt nghĩa đời sống, thể hiện tƣ tƣởng và
tình cảm của mình, nhờ những hình tƣợng đó mà sự vật hiện tƣợng đƣợc tái hiện một
cách sinh động nhƣng đồng thời cũng nhờ đó mà cái tâm, cái tái ngƣời nghệ sĩ đƣợc
thể hiện một cách tròn đầy và nguyên vẹn nhất.
Ngƣời nghệ sĩ xây dựng nên hình tƣợng nghệ thuật dựa trên cơ sở các loại tƣ
duy hình - cảm tính, hình tƣợng nghệ thuật chính là những quan niệm khái quát về
cuộc sống dƣới hình thức cụ thể, cảm tính nhƣ hình thức của bản thân đời sống. Nhƣ
vậy, hình tƣợng nghệ thuật là phƣơng tiện đặc thù của nghệ thuật nhằm phản ánh cuộc
sống một cách sáng tạo, bằng những hình thức sinh động, cảm tính, cụ thể nhƣ bản
tự sự, hình tƣợng nhân vật là nơi thể hiện, tập trung lý tƣởng đạo đức thẩm mỹ của tác
giả, là cái tác động đến ngƣời đọc trên các mặt: nội dung nghệ thuật, trình độ và hiệu
lực của sáng tác nghệ thuật ngôn từ. Điều này cho ta thấy nhân vật đóng một vai trò
quan trọng không thể thiếu trong tác phẩm văn học. Trong cuốn “Lý luận văn học” của
Hà Minh Đức chủ biên đã định nghĩa nhân vật văn học nhƣ sau: “Nhân vật trong văn
học là một hiện tượng mang tính ước lệ, đó không phải là sự sao chụp đầy đủ mọi chi
tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện con người qua những đặc điểm điển
hình về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách…” [4, tr. 126].
12
Tóm lại, đọc bất cứ tác phẩm văn học nào ta cũng đếu thấy đƣợc hình tƣợng nhân
vật “bởi nó là hình thức cơ bản để qua đó văn học miêu tả con người một cách hình
tượng. Bản chất văn học là một quan hệ đối với đời sống, nó chỉ tái hiện đời sống qua
những chủ thể nhất định đóng vai trò như những mô hình của thực tại”. [12, tr.115 –
116 ].
1.2. Cuộc đời và sự nghiệp
1.2.1. Tác giả Kim Dung
Kim Dung sinh ngày 6 tháng 2 năm 1924, tại tỉnh Triết Giang, tên thật là Tra
Lƣơng Dung, sinh trƣởng trong một gia đình có thể nói là “bản vàng danh giá”. Lúc
nhỏ Kim Dung đã là một đứa trẻ thông minh, hoạt bát, nghịch ngợm nhƣng không đến
nổi quậy phá. Ông yêu thiên nhiên, thích nghe kể chuyện thần thoại, truyền thuyết, nhất
là những ngọn triều trên sông Tiền Đƣờng, đặc biệt là ông rất mê đọc sách. Vì dòng họ
Kim Dung có một căn nhà để sách gọi là “Tra thị tàng thư” nổi tiếng khắp vùng Chiết
Tây, chứa rất nên sách cổ, những cuốn sách này làm bạn với ông từ khi còn nhỏ. Cũng
chính nhờ những cuốn sách này mà ông tích lũy đƣợc rất nhiều kiến thức bổ ích cho sự
nghiệp của ông sau này.
Năm lên 8 tuổi, lần đầu tiên ông đọc tiểu thuyết kiếm hiệp và dần dần ông đam
mê với thể loại văn học này. Cũng từ đó ông có thói quen sƣu tầm tiểu thuyết thể loại
ở đó.
Năm 1952, ông sang làm việc cho Tân văn báo, phụ trách mục “Bàn trà buổi
chiều”, chuyên mục này giúp ông phát huy khả năng viết văn của ông hơn, ông rất
thích, một phần vì khán giả cũng rất thích. Ông còn viết phê bình điện ảnh, từ đó dần đi
sâu vào lĩnh vực này. Từ năm 1953, rời Tân văn báo, ông bắt tay vào viết một số kịch
bản nhƣ: Lan hoa hoa, Hữu nữ Hoài xuân, Bất yếu ly khai ngã, Tam luyến… dƣới bút
danh Lâm Hoan. Những kịch bản này dựng lên và đƣợc thành công đáng kể.
Năm 1955, đƣợc sự ủng hộ và giúp đỡ của La Phù và Lƣơng Vũ Sinh, ông bắt đầu
viết tiểu thuyết võ hiệp đầu tiên Thư kiếm ân cừu lục đƣợc đăng hàng ngày trên Hƣơng
Cảng tân báo, bút danh Kim Dung cũng xuất hiện từ đó. Đƣợc sự hƣởng ứng của nhiều
độc giả, tiếp đó ông viết tiếp bộ Bích huyết kiếm đƣợc hoan nghênh nhiệt liệt, từ đó ông
chuyên tâm vào viết tiểu thuyết võ hiệp và làm báo, không hoạt động điện ảnh nữa.
14
Đến năm 1959, ông sáng lập Minh Báo. Ông vừa viết tiểu thuyết, vừa viết bài xã
luận. Qua những bài xã luận của ông, Minh Báo ngày càng đƣợc biết đến và là một
trong những tờ báo đƣợc đánh giá cao nhất. Không nhƣ một số tờ báo ông sáng lập
khác, Minh Báo theo ông đến khi kết thúc sự nghiệp.
Năm 1972, sau khi viết cuốn tiểu thuyết cuối cùng là Lộc Đỉnh Ký, ông đã tuyên
bố dừng bút không viết nữa. Ông dành những năm sau đó để biên tập chỉnh sửa những
tác phẩm văn học của mình, các tác phẩm của ông đƣợc chuyển thể thành phim truyền
hình. Sau đó ông tham gia giới chính trị Hồng Kông. Ông là thành viên của Ủy ban
phác thảo Đạo luật cơ bản Hồng Kông. Ông cũng là thành viên của Ủy ban chuẩn bị
giám sát sự chuyển giao của Hồng Kông về chính phủ Trung Quốc.
Tháng 10 năm 1976, sau cái chết đột ngột của con trai trƣởng của mình, ông đã
quyết định tìm hiểu nhiều về các triết lý của tôn giáo.
Năm 1993, ông thôi làm chức chủ bút, bán tất cả các cổ phần trong Minh Báo.
Năm 2000, ông xuất bản cuốn tản văn đầu tiên.
bộ khúc), sáng tác năm 1963.
12. Hiệp khách hành sáng tác năm 1965.
13. Tiếu ngạo giang hồ sáng tác năm 1967.
14. Lộc Đỉnh Ký hay còn có tên khác Lộc Đỉnh Công sáng tác năm 1969 -1972.
15. Việt nữ kiếm sáng tác năm 1970 truyện ngắn.
Chùm truyện có thể nói là nổi tiếng nhất và cũng có nhiều chi tiết liên kết chặt nhất,
đó là bộ Xạ điêu tam bộ khúc, gồm ba tác phẩm Xạ điêu anh hùng truyện (cuối thời
Tống), Thần điêu hiệp lữ (thời Mông Cổ đánh Tống), bộ cuối là Ỷ thiên đồ long ký
(thời nhà Minh nổi lên đánh Mông Cổ).
Thiên Long bát bộ (thời Tống), lấy bối cảnh trƣớc Xạ điêu anh hùng truyện, nhƣng nội
dung câu chuyện vốn là độc lập. Khi Kim Dung sửa chữa Xạ điêu anh hùng truyện đã
sửa lại vài chi tiết để bắc cầu với Thiên Long bát bộ. Vài nhân vật của Bích huyết kiếm
(thời Minh Mạt, Mãn Châu vào đánh), xuất hiện trong Lộc Đỉnh ký (thời Khang Hy).
Vài nhân vật trong Thư kiếm ân cừu lục xuất hiện trong Phi hồ ngoại truyện tác phẩm
này kể lại lai lịch, hành trạng của Hồ Phỉ và một số nhân vật khác của Tuyết sơn phi hồ
(các truyện này lấy bối cảnh thời Càn Long).
Ngoài việc viết tiểu thuyết kiếm hiệp, Kim Dung còn đảm nhận luôn việc làm
báo, phiên dịch và phê bình điện ảnh. Sau khi sáng lập Minh Báo, ông không chỉ viết
16
tiểu thuyết mà còn viết bài xã luận cho Minh Báo của mình. Sự nghiệp của ông cũng
bắt đầu khởi sắc từ đấy.
1.3. Vị trí của Kim Dung trong nền văn học
1.3.1. Trong nghiên cứu văn học tại Trung Quốc
Kim Dung chiếm một vị trí quan trọng hàng đầu của nền văn học Trung Quốc
hiện đại, cùng với Lỗ Tấn họ là ngƣời đƣa tiểu thuyết chƣơng hồi cách tân và sáng tạo
theo một hƣớng mới, hƣớng hiện đại. Lỗ Tấn thì đổi mới theo kiểu phƣơng Tây, còn
Kim Dung đổi mới theo kiểu phƣơng Đông. Nhờ sự đổi mới này mà Kim Dung đã góp
đạo Khổng, đạo Phật và lịch sử phong kiến Trung Hoa. Các nhân vật lịch sử hòa trộn
vào các nhân vật trong truyện.
Nội dung văn hóa truyền thống của Trung Hoa đƣợc Kim Dung đƣa vào tiểu
thuyết của mình một cách rõ ràng và lành mạnh, ông đã lựa chọn và biểu hiện con
ngƣời hiện đại đối với văn hóa truyền thống. Tiểu thuyết võ hiệp của ông lấy bối cảnh
của lịch sử và những biểu hiện của nền văn hóa xƣa để đề cập đến. Trong tiểu thuyết
của Kim Dung chúng ta thấy tác giả có một vốn văn hóa truyền thống trong tác phẩm
rất phong phú, đồng thời chúng ta thấy cái nhìn thẩm định đánh giá đối với lịch sử và
văn hóa truyền thống của tác giả. Trên thực tế Kim Dung đang tìm một phƣơng pháp
và một con đƣờng để kế thừa truyền thống, tìm cách thức kết hợp truyền thống với hiện
đại.
Với tinh thần hăng say và đầy nhiệt huyết của mình, Kim Dung không ngừng
sáng tạo để tìm ra những cái mới mẽ, cái gì đƣợc gọi là cách tân tốt nhất để đƣa nền
tiểu thuyết của nƣớc nhà vƣơn xa vƣợt bậc. Không chỉ ông thành công trong lĩnh vực
viết tiểu thuyết võ hiệp mà ông còn thành công trong nhiều lĩnh vực khác, ông là nhà
bình luận về chính trị xã hội, thời sự xuất sắc, không những vậy ông còn là ông chủ lớn
của Minh Báo. Ở cƣơng vị là nhà bình luận về xã hội, chính trị, thời sự, ông đƣợc giới
chính trị Trung Quốc và nƣớc ngoài coi trọng. Những bài xã luận của ông không những
trở thành tài liệu tham khảo của các vị lãnh đạo ở đại lục (Trung Quốc), Đài Loan,
Hồng Kông không những thế mà nó còn trở thành đối tƣợng nghiên cứu của văn phòng
chính phủ của Anh, Mỹ.
Kim Dung là một cột mốc lớn bậc nhất trong lịch sử tiểu thuyết võ hiệp của Trung
Quốc, vì ông là ngƣời có công nâng tiểu thuyết võ hiệp lên, làm cho tiểu thuyết từng bị
18
coi là dòng văn học thông tục thì giờ đàng hoàng trở thành dòng văn học chính thống.
Ông đã thể hiện điều đó thông qua các tác phẩm của mình, những tác phẩm của ông đã
đƣợc đƣa vào giảng dạy trong sách giáo khoa, ngang hàng với những tác phẩm văn học
học. Nhƣng dù sau đi nữa, những nhà văn khác cũng đã học tập đƣợc từ Kim Dung
nhiều kinh nghiệm về tiểu thuyết. Ông xứng đáng là nhà văn bậc thầy của những bậc
thầy trong trong thế kỷ của chúng ta.
Trƣớc năm 1975, truyện Kim Dung vào Sài Gòn đƣợc đón nhận nhiệt tình, vì
chính trị - xã hội ở đây đang làm cho dân tình chán ngán (trƣớc chiến tranh thế giới thứ
hai, truyện võ hiệp cũng bị đẩy lùi khi tình hình chính trị đƣợc cải thiện), nhƣng tiểu
thuyết của Kim Dung lại thu hút rất nhiều. Truyện Kim Dung đã giúp cho ngƣời đọc
Việt Nam thoát ra khỏi không khí căng thẳng của tình hình chính trị, áp lực của Mỹ đối
với chính quyền Việt Nam… Lý Chánh Trung nhắc đi nhắc lại rằng: “tôi đọc liên tiếp
Cô Gái đồ long, Anh hùng xạ điêu, Thần điêu đại hiệp của Kim Dung” là do “tình hình
ngày càng bê bối, buồn bã bực bội không biết làm gì… đọc kiếm hiệp bây giờ là thoát
khỏi cuộc đời chó má”, “là tìm cách trốn chạy”. Chẳng phải là một cách thoát ly hiện
thực đó sao?
Hệ thống xuất bản, in ấn thời bấy giờ đã đẩy hiện tƣợng này lên đỉnh điểm để
kiếm lợi nhuận. Nền văn hóa tiêu thụ Sài Gòn đã tìm thấy miếng mồi ngon là truyện
Kim Dung và tung nó ra cho bạn đọc Việt Nam. Tất cả những công đoạn nhƣ dịch
thuật, chạy đua đăng chƣởng, các cuộc đàm luận, phân tích, phê bình sách chƣởng…
đã đƣợc tiến hành cùng với một bộ máy quảng cáo, câu khách ồ ạt, một mạng lớn bán
sách, thuê sách khổng lồ. Có ngƣời lúc đầu bàng quan nhƣng rồi khi việc đọc chƣởng,
phê bình chƣởng trở thành phong trào thì họ cũng dần dần ảnh hƣởng rồi mê lúc nào
không hay. Nhờ vậy nên truyện của Kim Dung phát triển rộng khắp Việt Nam, nó đã
cuốn hút mọi ngƣời vào thế giới chƣởng của truyện.
Một điều đáng lƣu ý nữa là về hình tƣợng nhân vật trong tiểu thuyết của ông cũng
rất giống với con ngƣời Việt Nam không những trong thời phong kiến và thời hiện đại.
Nhân vật của ông bộc lộ những phẩm chất của ngƣời phụ nữ phong kiến ở Việt Nam,
họ cũng bị ảnh hƣởng về quan niệm Nho giáo, những thành kiến khắc nghiệt của đạo lý
truyền thống. Và mọi ngƣời thích cách cải tân mới mẽ về ngƣời phụ nữ, họ ao ƣớc và
muốn đƣợc nhƣ thế, họ muốn đƣợc khẳng định mình và muốn làm chủ bản thân mình,
20
21
mạch tự sự trong các truyện Nôm khuyết danh và hữu danh đƣơng đại nhƣ: Nhị độ mai,
Phạm Công Cúc Hoa, Tải Ngọc Hoa và Truyện Kiều cũng ít nhiều góp phần thúc đẩy
sự phát triển của thể loại.
Tuy nhiên, phải đến những năm 30 của thế kỷ XX, Văn học Việt Nam mới xuất
hiện tiểu thuyết với đầy đủ tính chất của thể loại hiện đại. Cùng phong trào thơ mới,
tiểu thuyết hiện đại Việt nam giai đoạn 1930 – 1945 có những biến tiến vƣợt bậc và
thành tựu lớn với hai khuynh hƣớng sáng tác: những cây bút nổi tiếng của Tự Lực văn
đoàn, những ngƣời đã thúc đẩy sự hình thành thể loại nhƣ Nhất Linh, Khái Hƣng,
Thạch Lam; và những nhà hiện thực phê phán nhƣ Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam
Cao, Nguyễn công Hoa. Đến sau năm 1986, lịch sử tiểu thuyết Việt Nam sang trang
mới với những sáng tác của Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, có
nội dung sâu sắc hơn về số phận con ngƣời, về sự hiện đại của văn chƣơng trong giai
đoạn mới.
Tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung là loại tiểu thuyết chƣơng hồi, tiểu thuyết
chƣơng hồi là những tiểu thuyết trƣờng thiên bao gồm nhiều hồi, đầu mỗi hồi có “hồi
mục” là một hoặc hai câu thất ngôn dự báo tình tiết chính của hồi, mỗi hồi viết về một
sự kiện chủ yếu và kết thúc hồi có lời dẫn dắt đến hồi tiếp. Căn cứ theo dung lƣợng có
thể chia tiểu thuyết trƣơng hồi thành loại lớn (trên 100 hồi) và loại nhỏ (khoảng 2 – 3
chục hồi trở lại). Loại nhỏ thƣờng bao gồm tiểu thuyết diễn nghĩa lịch sử nhƣ Tam
quốc diễn nghĩa, Đông chu liệt quốc, tiểu thuyết truyền kì anh hùng nhƣ Thủy hử, tiểu
thuyết thần ma nhƣ Tây du ký, tiểu thuyết tình đời nhƣ Kim Bình Mai, Hồng Lâu Mộng,
tiểu thuyết võ hiệp nhƣ truyện kiếm hiệp, tiền thân của những tác phẩm tiểu thuyết
Kim Dung sau này. Tiểu thuyết chƣơng hồi loại nhỏ bao gồm tiểu thuyết tài tử giai
nhân kể những mối tình của trai gái, thể hiện ƣớc mơ hạnh phúc lứa đôi; tiểu thuyết
khiển trách vạch trần những ung nhọt xã hội nhƣ tác phẩm Quan trường hiện hình kỳ.
Nhƣng đến với Kim Dung thì tiểu thuyết chƣơng hồi không còn đi theo lối cũ
trong mối tƣơng giao thật lạ lùng nhƣng cũng thật hợp logic.
1.4.2. Tóm tắt nội dung của hai bộ tiểu thuyết Thần điêu hiệp lữ và Ỷ thiên đồ
long ký
Bộ tiểu thuyết Thần điêu hiệp lữ, sáng tác năm 1959, đây là một kiệt tác của Kim
Dung. Thần điêu hiệp lữ là tác phẩm nói về tình yêu hoạn nạn của Dƣơng Quá và Tiểu
Long Nữ, mối tình thê thảm ai oán của Lý Mạc Sầu và Lục Triển Nguyên, những mối
23
tình si đơn phƣơng của Trình Anh, Lục Vô Song, Quách Tƣờng, Công Tôn Lục Ngạc
dành cho Dƣơng Qua. Dƣơng Quá là con của Dƣơng Khang và Mục Niệm Từ, chƣa ra
đời thì cha chết thảm, khi ra đời thì mẹ mất, Dƣơng Quá côi cút nhƣng đƣợc Quách
Tĩnh và Hoàng Dung đem về nuôi. Quách Tĩnh thì hết lòng thƣơng mến có lúc khiến
Dƣơng Quá cảm thấy ấm áp, nhƣng ngƣợc lại sự đa nghi và lạnh lùng của Hoàng Dung
lại làm cho Dƣơng Quá cảm thấy tủi thân. Quách Tĩnh đƣa Dƣơng Quá đến núi Chung
Nam, theo học võ với Toàn Chân Giáo với hy vọng cậu bé học đƣợc võ công chính
phái. Nhƣng ở đó Dƣơng Quá chống lại sƣ môn, trốn đi chàng lạc vào Cổ Mộ, bái Tiểu
Long Nữ làm thầy và chàng học đƣợc võ công thƣợng thừa của phái Cổ Mộ. Trong
những tháng ngày hai ngƣời gần gũi nhau nên đã nảy sinh tình cảm, nhƣng Tiểu Long
Nữ là sƣ phụ, là “cô cô” của Dƣơng Quá, tình yêu của họ là một sự vi phạm lễ giáo nên
không đƣợc mọi ngƣời tán thành. Từ đó vận mệnh hai ngƣời bắt đầu trở nên lận đận và
gặp nhiều thử thách. Vì yêu mà Dƣơng Quá cam tâm chờ đợi Tiểu Long Nữ mƣời sáu
năm, Dƣơng Quá khổ đau chán nản lao xuống vực sâu nhƣng chàng không chết.
Nhƣng vì tình yêu đích thực và chung thủy nên cuối cùng đôi tình Dƣơng Quá và Tiểu
Long Nữ đã đƣợc đoàn tụ với nhau.
Tiếp theo là bộ Ỷ thiên đồ long ký, sáng tác năm 1961, là bộ viết tiếp của Thần
điêu hiệp lữ, cũng nhƣ Thần điêu hiệp lữ là bộ viết tiếp của Xạ điêu anh hùng truyện.
Đây là bộ ba tiểu thuyết kết hợp lại với nhau nên đƣợc mọi ngƣời gọi là Xạ điêu tam bộ
khúc. Trong bộ tiểu thuyết này nói về tình nghĩa thầy trò Tạ Tốn với Thành Côn,
Trong bộ Ỷ thiên đồ long ký, nhân vật Triệu Mẫn trông rất đanh đá, lém lĩnh, kiêu
ngạo lại độc ác thì trong phim nàng cũng chua ngoa, đanh đá, kiêu ngạo, lém lĩnh, độc
ác hơn nhiều so với trong truyện và không kém phần hấp dẫn, nàng là cô gái thông
minh, nàng nhận ra đƣợc mƣu mô gian trá của Trần Hữu Lƣợng ở Linh Xà Đảo khi
giao đấu với Tạ Tốn “Gã Trần Hữu Lượng ấy hiển nhiên đánh lừa đại hiệp, công tử
chứng kiến rõ, tại sao lại nhìn không ra?”, “Khi Tạ đại hiệp vung đao một cái, bốn
cao thủ chết tươi, một tên bị thương, gã Trần Hữu Lượng cao mấy cũng khó thoát một
nhát kiếm của thamh đao Đồ Long. Ở tình cảnh đó, nếu không xông tới đánh thí
mạng… Nhưng công tử thử nghĩ coi, nếu Tạ đại hiệp không muốn cho người ta biết
hành tung của mình, thì dù Trần Hữu Lượng có rập đầu ba trăm cái van xinh, cũng
chẳng thể làm cho Tạ đại hiệp mềm lòng. Trừ việc giả vờ nhân hiệp trọng nghĩa, làm
25