TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2010 - 2014
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
KINH DOANH DỊCH VỤ KARAOKE - THỰC TIỄN
Ở TỈNH HẬU GIANG
Giảng viên hướng dẫn:
Nguyễn Hữu Lạc
Sinh viên thực hiện:
Mai Thị Như Khánh
MSSV: 5105869
Luật Thương mại 1 – K36
Cần Thơ, tháng 11 / 2013
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
……………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2013
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT
TTg
Thủ Tướng
BVHTTDL
Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch
BTNMT
Bộ Tài nguyên và Môi trường
1.1.1. Khái niệm về văn hóa và karaoke ............................................................... 4
1.1.1.1. Khái niệm về văn hóa ........................................................................... 4
1.1.1.2. Khái niệm về karaoke ............................................................................ 5
1.1.2. Vai trò, ý nghĩa của karaoke và tác động của nó đến xã hội .................... 5
1.1.2.1. Vai trò, ý nghĩa của karaoke.................................................................. 5
1.1.2.2. Tác động của karaoke đến xã hội .......................................................... 7
1.2. Quản lý nhà nước về kinh doanh dịch vụ karaoke ........................................ 8
1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước ...................................................................... 8
1.2.2. Nội dung quản lý nhà nước về kinh doanh dịch vụ karaoke .................... 9
1.2.3. Chính sách quản lý và phát triển karaoke ................................................. 9
1.2.4. Ý nghĩa của việc quản lý nhà nước về kinh doanh dịch vụ karaoke ..... .12
1.3. Sự ra đời và phát triển của karaoke ............................................................. 12
Chương 2. NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH DỊCH
VỤ KARAOKE ..................................................................................................... .19
2.1. Các cơ quan quản lý ........................................................................................ 19
2.1.1. Chính phủ ................................................................................................ 19
2.1.2. Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch ............................................................ 19
2.1.3. Bộ Công an .................................................................................................20
2.1.4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ............. 20
2.1.5. Cục Văn hóa cơ sở ..................................................................................... 20
2.2. Quy định về đăng ký kinh doanh karaoke................................................... 21
2.2.1. Đăng ký kinh doanh karaoke. .................................................................. 21
2.2.2. Điều kiện kinh doanh karaoke................................................................. .24
2.2.3. Thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh karaoke ................................... ..28
2.3. Các quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ
karaoke ..................................................................................................................... 29
2.3.1. Các loại vi phạm ......................................................................................... 29
2.3.2. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính về kinh doanh dịch vụ
3.2. Những thành tựu đạt được và một số hạn chế, khó khăn còn tồn tại trong
công tác quản lý nhà nước về dịch vụ karaoke. ...................................................47
3.2.1. Những thành tựu đạt được trong công tác quản lý nhà nước về dịch vụ
karaoke...................................................................................................................... 47
3.2.1.1. Thành tựu chung ...................................................................................47
3.2.1.2. Những thành tựu đạt được ở tỉnh Hậu Giang.......................................48
3.2.2. Một số hạn chế, khó khăn của công tác quản lý nhà nước về dịch vụ
karaoke...................................................................................................................... 48
3.2.2.1. Những hạn chế, khó khăn chung........................................................... 48
3.2.2.2. Một số hạn chế, khó khăn ở tỉnh Hậu Giang ........................................49
3.3. Phương hướng quản lý nhà nước về kinh doanh dịch vụ karaoke trong
thời gian tới ở địa bàn tỉnh Hậu Giang. ................................................................ 50
3.4. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh
karaoke. ....................................................................................................................51
3.4.1. Tiêu chuẩn hóa cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật và đội ngũ nhân
viên phục vụ. .............................................................................................................51
3.4.2. Thể chế hóa các văn bản pháp quy và thủ tục cấp giấy phép. .................52
3.4.3. Tăng cường và nâng cao hiệu quả trong công tác thanh, kiểm tra hoạt
động kinh doanh karaoke. ....................................................................................... 52
3.4.4 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nghiên cứu lý luận, nâng cao nhận
thức về hoạt động karaoke. ...................................................................................... 53
3.4.5. Một số giải pháp khác ................................................................................54
KẾT LUẬN ..............................................................................................................55
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Quản lý nhà nước về kinh doanh dịch vụ karaoke - Thực tiễn ở tỉnh Hậu Giang
động này.
Karaoke du nhập vào Việt Nam từ lâu và đã nhanh chóng được mọi tầng lớp
nhân dân hưởng ứng và yêu thích, mang lại những phút giây thư giãn, sảng khoái
sau những giờ lao động, góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho người
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
1
SVTH: Mai Thị Như Khánh
Quản lý nhà nước về kinh doanh dịch vụ karaoke - Thực tiễn ở tỉnh Hậu Giang
dân. Tuy nhiên, karaoke được xác định là một lĩnh vực nhạy cảm nhất của dịch vụ
văn hóa công cộng, luôn tiềm ẩn nguy cơ phát sinh các hiện tượng tiêu cực. Bên
cạnh đó, hiện nay việc quản lý kinh doanh dịch vụ karaoke vẫn còn khá hình thức
và lỏng lẻo. Công tác thanh tra, kiểm tra còn nhiều hạn chế, các quy định về chế tài
chưa mang tính răn đe. Chính vì những lý do trên mà người viết chọn đề tài: “Quản
lý nhà nước về kinh doanh dịch vụ karaoke - Thực tiễn ở tỉnh Hậu Giang” làm đề tài
luận văn tốt nghiệp cử nhân luật khóa 2010 - 2014.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của người viết khi chọn đề tài “Quản lý nhà nước về
kinh doanh dịch vụ karaoke - Thực tiễn ở tỉnh Hậu Giang” là để tìm hiểu về hoạt
động kinh doanh karaoke, vận dụng các kiến thức đã học để phân tích những quy
định của pháp luật hiện hành điều chỉnh về kinh doanh karaoke. Từ đó tìm ra những
mặt còn hạn chế của pháp luật về quản lý kinh doanh và xử lý vi phạm của các cơ
quan chức năng về kinh doanh dịch vụ karaoke. Qua đó có thể góp phần đưa
karaoke trở về với mô hình văn hóa lành mạnh, ứng dụng thiết thực vào cuộc sống.
Kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả công tác quản lý nhà
nước trong hoạt động kinh doanh karaoke, góp phần hoàn thiện công tác quản lý
nhà nước về kinh doanh karaoke.
Chương 2: Những quy định của pháp luật về kinh doanh dịch vụ karaoke
Chương 3: Thực trạng, phương hướng và giải pháp hoàn thiện công tác quản
lý về kinh doanh dịch vụ karaoke trên địa bàn tỉnh Hậu Giang.
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
3
SVTH: Mai Thị Như Khánh
Quản lý nhà nước về kinh doanh dịch vụ karaoke - Thực tiễn ở tỉnh Hậu Giang
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ KARAOKE
1.1. Một số vấn đề về văn hóa và karaoke
1.1.1. Khái niệm về văn hóa và karaoke
1.1.1.1. Khái niệm về văn hóa
Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau,
liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người. Có nhiều định
nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh
giá khác nhau. Ngay từ năm 1952, hai nhà nhân loại học Mỹ là Alfred Kroeber và
Clyde Kluckhohn đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa
trong các công trình nổi tiếng thế giới. Văn hóa được đề cập đến trong nhiều lĩnh
vực nghiên cứu như dân tộc học, nhân loại học, dân gian học, địa văn hóa học, văn
hóa học, xã hội học,... Trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó định nghĩa về văn hóa
cũng khác nhau. Chính vì thế đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa ra
đời.
Theo nghĩa Hán – Việt thì: Văn là văn chương, văn vần và văn xuôi. Văn còn
có nghĩa là đẹp. Hóa là cảm hóa, giáo dưỡng. Văn hóa là rèn giũa, giáo dục, cảm
người đã sản sinh nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh
tồn.”2
Theo chủ nghĩa Mác – Lênin thì: “Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và
tinh thần do con người sáng tạo ra bằng lao động và hoạt động thực tiễn trong quá
trình lịch sử của mình; biểu hiện trình độ phát triển xã hội trong từng thời kì lịch sử
nhất định.”3
1.1.1.2. Khái niệm về karaoke
Karaoke từ có nguồn gốc ở Nhật Bản, từ karaoke là sự kết hợp của từ kara, có
nghĩa là không (giống như trong môn võ karate – từ kara có nghĩa là tay không) với
từ oke (viết tắt của từ okesutora) có nghĩa là dàn nhạc.
Như vậy, ta có thể nêu khái niệm của karaoke như sau: Karaoke là một loại
hình giải trí, qua đó, thay bằng việc có cả âm nhạc và xướng âm thì chỉ có các đĩa
karaoke mà trong đó chỉ chứa phần âm nhạc, phần xướng âm sẽ dành cho người
trực tiếp biểu diễn (và người này không phải là ca sĩ chuyên nghiệp), người sẽ cầm
microphone và hát theo lời bài hát hiện trên màn hình.
1.1.2. Vai trò, ý nghĩa của karaoke và tác động của nó đến xã hội
1.1.2.1. Vai trò, ý nghĩa của karaoke
Karaoke là một loại hình sinh hoạt ca hát quần chúng lành mạnh. Trong hơn
một thập kỉ qua nó đã có một vai trò tích cực trong đời sống văn hoá tinh thần của
nhân dân. Karaoke phù hợp với mọi lứa tuổi, mọi vùng miền, chính vì thế karaoke
ngày càng trở nên phổ biến ở Việt Nam. Hầu như tất cả mọi người, từ già đến trẻ, ai
cũng đều biết đến loại hình karaoke.
Karaoke là một hình thức văn hóa hiện đại, là một công cụ tiện ích. Nó là sự
kết hợp tuyệt vời giữa âm nhạc và hình ảnh, giữa giải trí và niềm đam mê. Karaoke
mang đến cho những người thích ca hát cơ hội thể hiện tài năng, bộc lộ niềm đam
mê và là nơi để “khoe” giọng hát hay của mình. Đồng thời, nó cũng tạo cho những
2
Bộ Giáo dục và Đào tạo: Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr. 98
năng nhận biết của người già, giúp cải thiện khả năng ghi nhớ và tư duy. Hát
karaoke còn giúp những bệnh nhân bị liệt khôi phục lại giọng nói, khả năng cầm
nắm và xóa đi mặc cảm, tự ti trước đám đông.4
Với cuộc sống vội vã, mọi người bị cuốn vào vòng xoay của công việc, thời
gian dành cho giải trí và giao lưu tình cảm hầu như không có thì karaoke là một
phương tiện giải trí hiệu quả, ngoài chức năng thư giản, nó còn giúp mọi người có
cơ hội gần lại với nhau hơn, giao lưu tình cảm, qua đó có thể kết thêm được nhiều
bạn bè. Tạo được bầu không khí gần gũi, thân thiện, thoải mái giữa mọi người với
nhau. Tạo ra mối quan hệ thân thiết hơn giữa những đồng nghiệp, bạn bè; giúp nâng
cao đời sống tinh thần, đồng thời giúp mọi người thêm xích lại gần nhau hơn.
Đến với karaoke trong thời gian rãnh rỗi, không những là một phương tiện
giải trí hữu hiệu, mà còn là một kênh giao lưu tình cảm của mọi người. Tổ chức
Cao Phong: Karaoke cải thiện khả năng nhận biết của người già,
http://www.vietnamplus.vn/Home/Karaoke-cai-thien-kha-nang-nhan-biet-cua-nguoigia/201011/68391.vnplus , [truy cập ngày 13-08-2013].
4
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
6
SVTH: Mai Thị Như Khánh
Quản lý nhà nước về kinh doanh dịch vụ karaoke - Thực tiễn ở tỉnh Hậu Giang
quản lý và phát triển sinh hoạt karaoke là tạo ra phong trào khắp nơi ca hát, góp
phần không nhỏ vào sự nghiệp xây dựng đời sống văn hóa ở các khu dân cư.
1.1.2.2. Tác động của karaoke đến xã hội
Bên cạnh những lợi ích mà karaoke mang lại thì chúng ta cũng không thể phủ
nhận những tác động tiêu cực của nó đến với xã hội. Mặc dù karaoke là một loại
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
7
SVTH: Mai Thị Như Khánh
Quản lý nhà nước về kinh doanh dịch vụ karaoke - Thực tiễn ở tỉnh Hậu Giang
hợp. Thời gian gần đây, hiện tượng thanh thiếu niên dùng thuốc lắc rồi vào các quán
karaoke lắc thâu đêm suốt sáng đã trở thành thực trạng báo động. Điều đáng nói là
những thanh thiếu niên đa số là những học sinh - sinh viên, những người có học
thức và là “mùa xuân của đất nước”. Thế nhưng họ đã và đang lao chân vào một
“thú tiêu khiển” nguy hiểm. Họ xem sử dụng thuốc lắc, shisha là hơn người và bản
thân trở thành một dân chơi thứ thiệt. Hơn nữa ngoài tiếng nhạc ầm ĩ trong phòng
karaoke, thì các chủ quán thường cung cấp thêm các loại rượu, những thứ đó gần
như là chất xúc tác mạnh mẽ để cho những dân chơi thuốc lắc “thăng hoa”. Thế là
sau những cuộc vui thâu đêm suốt sáng, sức khỏe sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng,
thành tích học tập cũng “rơi tự do” theo những điệu nhảy điên cuồng kia. Điều đáng
lo ngại là những thanh niên này chưa có kinh nghiêm “trải đời” nhiều. Vì vậy, họ rất
dễ bị lôi kéo, dụ dỗ để trở thành những “quân cờ” cho những ông trùm ma túy sau
lưng.
1.2. Quản lý nhà nước về kinh doanh dịch vụ Karaoke
1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước
Trong lĩnh vực hành chính, theo một cách tổng quát nhất, quản lý được xem
là quá trình “tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”, đó
là sự kết hợp giữ tri thức và lao động trên phương diện điều hành.
Dưới những góc độ khác nhau thì quản lý cũng được hiểu theo những cách
khác nhau. Ví dụ dưới góc độ chính trị thì quản lý được hiểu là hành chính, là cai trị
nhưng dưới gốc độ xã hội thì quản lý lại là điều hành, điều khiển, chỉ huy.
Tóm lại, quản lý là sự điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình,
hóa công cộng, luôn tiềm ẩn nguy cơ phát sinh các hiện tượng tiêu cực. Chính vì
vậy, công tác quản lý, cấp phép, thanh tra, kiểm tra của các cơ quan chức năng đòi
hỏi phải được tăng cường chặt chẽ.
Nội dung quản lý nhà nước về karaoke bao gồm: Quản lý việc cấp giấy phép
trong hoạt động karaoke và quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke.
1.2.3. Chính sách quản lý và phát triển karaoke
Giai đoạn trước năm 2005:
Đẩy mạnh bài trừ các loại văn hoá độc hại, trước hết là các văn hoá phẩm có
nội dung đồi truy, khiêu dâm, kích động bạo lực, thể hiện dưới các hình thức phim
ảnh, băng đĩa hình, băng đĩa nhạc, sách, báo, lịch, tranh, ảnh, quảng cáo, trong hoạt
động của các cơ sở, tụ điểm karaoke.
Xử lý nghiêm các đối tượng lợi dụng việc kinh doanh karaoke để kinh doanh
bất chính.
Để thực hiện những mục tiêu trên cần làm tốt các việc sau đây:
+ Vận động rộng rãi các tầng lớp nhân dân tự giác bài trừ, tiêu huỷ các văn hoá
phẩm độc hại, chấp hành các quy định của pháp luật, lên án và phát hiện các hành vi
sai trái, không phù hợp với truyền thống đạo đức của dân tộc.
TS. Phan Trung Hiền, Giáo trình “Luật Hành chính I: Những vấn đề chung của Luật Hành chính, năm 2009,
tr. 7.
6
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
9
SVTH: Mai Thị Như Khánh
Quản lý nhà nước về kinh doanh dịch vụ karaoke - Thực tiễn ở tỉnh Hậu Giang
báo cáo Chính phủ.
+ Rà soát lại các quy định trong Luật Doanh nghiệp và các văn bản quy phạm
pháp luật chuyên ngành liên quan, đề xuất điều chỉnh những nội dung không phù
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
10
SVTH: Mai Thị Như Khánh
Quản lý nhà nước về kinh doanh dịch vụ karaoke - Thực tiễn ở tỉnh Hậu Giang
hợp; khẩn trương trình Chính phủ trong quý II năm 2005 Nghị định của Chính phủ
ban hành Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng,
Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa thông tin.
+ Tổ chức lực lượng điều tra, thanh tra để kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các
chủ kinh doanh vi phạm. Đối với những trường hợp vi phạm nghiêm trọng hoặc tái
phạm thì phải kiên quyết tước quyền sử dụng Giấy phép kinh doanh, thu hồi Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh; trường hợp có dấu hiệu phạm tội, phải chuyển hồ
sơ cho cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự.
+ Chỉ đạo và tăng cường phân cấp quản lý theo hướng tăng quyền hạn và trách
nhiệm cho cơ sở trong việc quy định chế độ kiểm tra, kiểm soát của cơ quan quản lý
cấp trên đối với cấp dưới, xác định trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan quản lý để
xảy ra các vi phạm pháp luật trên địa bàn, xử lý nghiêm cán bộ, công chức thoái
hóa, biến chất, ăn chơi sa đọa hoặc bao che, tiếp tay cho các sai phạm.
+ Chỉ đạo các cơ quan báo chí phát hiện và công bố công khai các hành vi vi
phạm pháp luật; thường xuyên tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức chấp hành
pháp luật của người kinh doanh; khuyến khích, động viên nhân dân phát giác, lên án
và đấu tranh với các vi phạm.
Giai đoạn sau năm 2009:
Tiếp tục cấp mới giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và giấy phép kinh
“Hộp” karaoke đầu tiên xuất hiện vào những năm 1984 trên cánh đồng lúa tại
miền quê Okayama phía Tây Kansai. Nó được làm từ những toa xe chở hành khách
đã được cải tiến lại. Từ đó các hộp karaoke được xây dựng trên những vùng đất
trống khắp nơi trên đất Nhật. Trong khu vực thành thị, phòng hát karaoke được chia
làm nhiều ngăn (phòng) và hiệu quả cách âm ngày càng được nâng cao.
Nền công nghệ tiên tiến, hiện đại cùng với tốc độ đô thị hóa cao đã làm cho
môi trường bị ô nhiễm; không gian nghỉ ngơi ngoài trời bị hạn chế, chính vì vậy sự
phát triển các hoạt động giải trí trong nhà như các quán bar, vũ trường, phòng hát
karaoke… là cần thiết. Sự vượt trội của video âm nhạc như một hình thái kinh
doanh của ngành công nghiệp âm nhạc mang phong cách dân gian - hiện đại là điều
kiện tiên phong cho sự phát triển của karaoke.
Karaoke thật sự bùng phát khi công nghệ đĩa laser và đĩa compact cho phép
những bài hát thể hiện trên màn hình tivi, trong khi âm nhạc nổi lên và xác định vị
trí của từng bài hát. Vì quyền lợi của các công ty âm nhạc, việc thương mại hóa
kinh doanh karaoke là trung gian tuyệt vời cho sự quảng cáo các bài hát âm nhạc
pop và các ngôi sao mới.
Karaoke trong tiến trình phát triển đã có sự tiến hóa nhất định. Từ những ngày
đầu ghi trên băng đĩa, karaoke được chuyển sang đĩa CD (Compact disc), cuối cùng
kết hợp với video, đồ họa nhạc với lời bài hát hiện trên màn hình nhắc cho những
người không nhớ lời nhạc. Một ngành công nghiệp đã được mở ra xung quanh
karaoke và các sản phẩm kỹ thuật đã được sử dụng để nâng cao trình diễn. Những
dàn máy tại gia đình, các thư viện phần mềm được hoàn thiện, các micro cho khách
và những chiếc hộp có sẵn, chúng đang sẵn sàng “vào cuộc hát karaoke”. Các
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
12
SVTH: Mai Thị Như Khánh
+ Nghị định số 56/2006/NĐ-CP ngày 06/06/2006 của Chính phủ về xử phạt vi
phạm hành chính trong hoạt động văn hoá - thông tin;
+ Thông tư số 54/2006/TT-BVHTT ngày 24/5/2006 hướng dẫn quy hoạch nhà
hàng karaoke, vũ trường;
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
13
SVTH: Mai Thị Như Khánh
Quản lý nhà nước về kinh doanh dịch vụ karaoke - Thực tiễn ở tỉnh Hậu Giang
+ Thông tư số 69/2006/TT-BVHTT ngày 28/8/2006 của Bộ Văn hóa thông tin,
hướng dẫn thực hiện một số quy định về kinh doanh vũ trường, karaoke, trò chơi
điện tử quy định tại Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công
cộng ban hành kèm theo Nghị định 11/2006/NĐ-CP.
+ Thông tư số 12/2007/TT-BVHTT ngày 29/5/2007 hướng dẫn thực hiện Nghị
định 56/2006/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa –
thông tin.
+ Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06/11/2009 của Chính phủ về việc ban
hành kèm theo Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công
cộng;
+ Thông tư số 04/2009/TT-BVHTTDL ngày 16/12/2009 của Bộ Văn hóa – Thể
thao và Du lịch quy định chi tiết thi hành một số quy định tại Quy chế hoạt động
văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng;
+ Thông tư số 05/2012/TT-BVHTTDL ngày 02/05/2012 về việc sửa đổi bổ sung
một số điều của Thông tư 04/2009/TT-BVHTTDL;
+ Nghị định số 01/2012/NĐ-CP ngày 24/01/2012 của Chính phủ về việc sửa đổi,
bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ, hủy bỏ các quy định có liên quan đến thủ tục hành
chính thuộc phạm vi chức năng quản lý một số điều của Bộ Văn hóa – Thể thao và
Tại khoản 7 Điều 40 Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh được ban hành kèm
theo Nghị định 11/2006/NĐ-CP có quy định “Không được hoạt động sau 12 giờ
đêm đến 8 giờ sáng”. Quy định này được áp dụng cho tất cả các cơ sở kinh doanh
karaoke mà không có ngoại lệ. Tuy nhiên, theo khoản 7 Điều 32 Quy chế hoạt động
văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng ban hành kèm theo Nghị định số
103/2009/NĐ-CP thì không được hoạt động sau 12 giờ đêm đến 8 giờ sáng, trừ
trường hợp quy định tai khoản 2 Điều 37 Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh
dịch vụ văn hóa công cộng. Theo quy định trên thì phòng karaoke trong các cơ sở
lưu trú du lịch được xếp hạn từ bốn sao trở lên hoặc hạng cao cấp được hoạt động
sau 12 giờ đêm nhưng không quá 2 giờ sáng.
Theo Nghị định số 01/2012/NĐ-CP ngày 24/01/2012 của Chính phủ về việc
sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ, hủy bỏ các quy định có liên quan đến thủ tục
hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý một số điều của Bộ Văn hóa – Thể
thao và Du lịch đã sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 103/2009/NĐ-CP
ngày 06/11/2009 của Chính phủ. Tại Điều 2 của Nghị định 01/2012/NĐ-CP có quy
định về việc sửa đổi hồ sơ và thủ tục cấp giấy phép kinh doanh karaoke. Qua đó rút
ngắn thời gian cấp giấy phép và thủ tục đăng kí có phần đơn giản hơn. Theo Nghị
định 103/2009/NĐ-CP thì “Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ
sơ hợp lệ, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch hoặc cơ quan cấp huyện được phân cấp
có trách nhiệm cấp giấy phép kinh doanh; trường hợp không cấp giấy phép phải trả
lời bằng văn bản, nêu rõ lý do.” Nhưng trong Nghị định 01/2012/NĐ-CP thì thời
hạn này chỉ là 07 ngày làm việc. Thời gian cấp giấy phép đã được rút ngắn. Đây là
một tiến bộ trong nổ lực cải cách hành chính, tạo thuận lợi cho người dân.
Một điểm mới trong Nghị định số 01/2012/NĐ-CP là cả Quy chế hoạt động
văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng được ban hành kèm theo Nghị
định 11/2006/NĐ-CP và Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa
công cộng ban hành kèm theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP đều có quy định “Địa
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
15
với mỗi hành vi vi phạm hành chính, ngoài hình thức cảnh cáo, phạt tiền, tổ chức,
cá nhân vi phạm còn có thể bị tước quyền sử dụng giấy phép kinh doanh, tịch thu
tang vật, phương tiện sử dụng. Ngoài ra, Nghị định còn quy định chi tiết về việc xử
phạt đối với các quy phạm về giấy phép, điều kiện tổ chức hoạt động, các quy định
cấm đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke…
So với Nghị định 56/2006/NĐ-CP ngày 06/06/2006 của Chính phủ về Xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa-thông tin thì mức phạt tiền của
Nghị định 75/2010/NĐ-CP có phần răng đe hơn. Cụ thể là các hành vi vi phạm các
quy định về nếp sống văn hóa như cho người say rượu bia vào phòng karaoke; say
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
16
SVTH: Mai Thị Như Khánh
Quản lý nhà nước về kinh doanh dịch vụ karaoke - Thực tiễn ở tỉnh Hậu Giang
rượu bia ở phòng karaoke trong Nghị định 56/2006/NĐ-CP chỉ bị phạt cảnh cáo
hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng trong khi trong Nghị định
75/2010/NĐ-CP mức phạt này là từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Trong Nghị
định 56/2006/NĐ-CP, trường hợp đặt các thiết bị báo động tại nhà hàng karaoke để
đối phó với hoạt động kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mức phạt tiền
chỉ là từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trong khi đối với vi phạm này trong
Nghị định 75/2010/NĐ-CP thì mức phạt này là từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000
đồng cao gấp đôi Nghị định 56/2006/NĐ-CP.
Nhìn chung, các mức phạt tiền về vi phạm hành chính trong lĩnh vực
karaoke trong Nghị định 75/2010/NĐ-CP đều cao hơn mức phạt tiền trong Nghị
định 56/2006/NĐ-CP, điều này thể hiện sự quyết tâm của Nhà nước ta trong công
tác quản lý kinh doanh trong lĩnh vực karaoke, đưa hoạt động karaoke vào nề nếp.
Từ đó phát huy mặt tích cực và xóa bỏ những tiêu cực còn tồn tại trong một loại