Phân tích hình tượng sóng trong bài thơ cùng tên của Xuân Quỳnh. Anh ( chị) cảm nhận được gì về tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu qua bài thơ này? - Pdf 30

Đề bài: Phân tích hình tượng sóng trong bài thơ cùng tên của Xuân Quỳnh. Anh (chị) cảm nhận được gì
về tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu qua bài thơ này?
Gợi ý:
I.Mở Bài:
Thơ tình là mảng thơ đặc sắc của Xuân Quỳnh. Ở đó tuổi trẻ có thể soi thấy những cung bậc tình cảm của
lòng người đang yêu và soi thấy mảnh tâm hồn riêng của một nhà thơ nữ.
Thơ tình Xuân Quỳnh nhiều bài hay, trong đo được yêu thích hơn cả vẫn là Thuyền và biển và Sóng. Đặc
biệt trong bài Sóng, nhà thơ đã mượn một hình tượng rất đạt để diễn tả tình yêu một cách tập trung ý nhị
vừa sáng rõ, vừa độc đáo: Hình tượng Sóng.
II.Thân bài: Phân tích
1. Khổ thơ 1 + 2: Hành trình của con sóng từ dòng sông ra biển cả - trạng thái tâm lý của người phụ nữ
đang yêu:
* Khổ thơ thứ nhất:
“Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể “
- Nhân vật trữ tình kể chuyện về sóng biển. Câu thơ có những cặp từ trái nghĩa : “ dữ dội – dịu êm”
“ồn ào – lặng lẽ”
Đây là các cặp từ gợi tả trạng thái con sóng bất ổn. Gợi âm thanh của tiếng sóng vỗ bờ, âm thanh của
sóng, của gió. Những cặp từ trái nghĩa đi liền nhau trong một câu thơ có tác dụng tả nhịp điệu con sóng
khi trào lên lúc lại lắng xuống, nhịp nhàng.
Nhịp điệu của câu thơ, của sóng biển, dễ gợi cho ta những liên tưởng về trạng thái tâm lý khác thường của
người phụ nữ khi yêu đầy biến động và phức tạp : khi thì sôi nổi tha thiết, chân thành, mãnh liệt, lúc lại
trầm tư sâu lắng. Đó là cá tính không thuần nhất. Nhưng dù có thế nào thì cuối cùng vẫn trở về với cái
riêng của phụ nữ. Đó là vẻ đẹp “dịu êm, lặng lẽ” Xuân Quỳnh đã có những phát hiện rất đặc biệt về sóng.
Sóng trong thơ Xuân Diệu là anh thì sóng trong thơ Xuân Quỳnh là em – cái tôi trữ tình của nhà thơ – trái
tim người phụ nữ đang yêu đầy biến động.
Hai câu thơ tiếp: có hình ảnh (sông – sóng– bể) gợi hành trình của sóng từ dòng sông ra biển cả. Qui luật
của tự nhiên đã được Xuân Quỳnh khám phá từ hình tượng sóng. Sóng của dòng sông không chấp nhận
không gian nhỏ hẹp. Trăm sông sẽ dồn về biển cả giống như tình yêu của con người không chấp nhận sự

Một ngôi nhà giữa vườn xanh”
(Không bao giờ là cuối)
Còn trong bài “Sóng” “Em nghĩ” về tình yêu của anh và em, về biển và sóng. Em đang suy nghĩ trước
biển bao la tự vấn lòng mình bằng những câu hỏi từ ngàn xưa về cội nguồn của sóng. Em và sóng luc này
phân đôi, em băn khoăn hỏi và tự trả lời: “sóng bắt đầu từ gió”, có gió mới có sóng.
Câu trả lời thật hồn nhiên đã giãi bày chân thật lòng mình. Sau đó “Em” lại hỏi về cội nguồn của gió,
nhưng bỏ lửng để nói chuyện tình yêu cho tự nhiên, đây là một nét bút khéo léo thường thấy trong thơ
Xuân Quỳnh.
- Cội nguồn của sóng // cội nguồn của tình yêu và bỏ lửng.
- Đến đây sóng và em sóng đôi. Gió là chuyện của vũ trụ, siêu hình, cũng giống tình yêu đầy bí mật:
“Tình yêu là điều con người không thể hiểu nổi”, là trạng thái tình cảm đặc biệt. Có lúc thi sĩ đã thú nhận:
“Em cũng không biêt nữa
Khi nào ta yêu nhau”
Câu thơ là một lời thú nhận thành thực với lòng mình, với tình yêu. Đúng! Bản chất của tình yêu là không
lý giải được (không biết bát đàu từ đâu) Xuân Quỳnh đã tự tìm lời giải đáp cho câu hỏi về cội nguồn tình
yêu bằng sự thành thật hồn nhiên hóm hỉnh và rất có duyên.
b. Khổ thơ thứ 5:
“Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức”
Đây là khổ thơ có số lượng câu thơ nhiều nhất trong bài, 6 câu thơ đứng giữa bài thơ, như một đợt sóng
lòng cồn lên cao nhất từ tâm điểm của bào thơ. 4 câu đầu cái tôi trữ tình nhập vào sóng để giãi bày tâm
sự. Hai câu sau cái tôi trữ tình tách ra để bày tỏ lòng mình, nhập vào rồi tách ra như vậy tuy hai mà vẫn là
một trong một dòng cảm xúc tuôn chảy.


- Âm điệu cùng nghệ thuật điệp từ, điệp câu đã miêu tả con sóng ở những tầng bậc khác nhau trong không

- Xuân Quỳnh diễn tả thêm tình yêu của mình cho trọn vẹn. Hình như thể hiện tình yêu bằng nỗi nhớ vẫn
chưa yên tâm, mà phải diễn đạt sao đây cho đủ, cho đến tận cùng nỗi nhớ vì thế hai khổ thơ này xuất hiện.
- Khổ thơ có những cặp từ trái nghĩa: “dẫu xuôi, dẫu ngược” để diễn tả cảnh ngộ của người phụ nữ.
Nhưng đọc lên nghe có vẻ không xuôi chiều. Dân gian hay nói: “xuôi nam ngược bắc”, Xuân Quỳnh đã
diễn đạt ngược lại để khẳng định: dù cuộc đời, trời đất có thay đổi, có quay cuồng, đảo lộn, thay phương
đổi hướng thì tình yêu của em cũng chỉ dành cho một người là anh mà thôi. Đến đây trong lời thơ không
còn em và sóng, chỉ còn em và anh – với tình yêu:
“Chỉ còn em và anh
Cùng tình yêu ở lại”
( Thơ tình cuối mùa thu)
Câu thơ giống như một lời thề. Thề rằng dù em phải ngược xuôi vất vả gian truân, lên thác xuống ghềnh


cũng chỉ có anh là người duy nhất. Câu thơ giản dị mà sâu sắc hơn tất cả mọi lời vàng đá. Không gian thì
có bốn phương tám hướng, nhưng tình yêu chỉ chấp nhận một phương. Có lẽ đây cũng là quan niệm về
tình yêu của nữ sĩ Xuân Quỳnh: tình yêu phải gắn với lòng chung thủy. Tình yêu không đơn thuần là tình
yêu mà tình yêu đi liền với cái tốt, cái đẹp, cái cao cả là nỗi nhớ mãnh liệt, lòng thủy chung tuyệt đối.
Khổ thơ toát lên vẻ đẹp của tình yêu đầy nữ tính kín đáo, dịu dàng, táo bạo, mãnh liệt bởi nhiều khát khao
và đam mê nhưng vẫn giữ được nét đẹp truyền thống của người phụ nữ phương Đông và người phụ nữ
Việt Nam yêu tha thiết, chân thành và luôn hướng tới hôn nhân. Những câu thơ như được vắt ra từ chính
cuộc đời Xuân Quỳnh đầy đau thương, mất mát, hụt hẫng về tình cảm.
- Khổ thơ 5 và 6 hình tượng sóng và em sóng đôi hòa làm một soi chiếu vào nhau cộng hưởng. Sóng
chính là nỗi lòng của em và em là hiện thân của sóng. Sóng và em đồng hiện. Khổ thơ thứ 7 nhà thơ lại
quay trở về với hình tượng sóng. Dù gió xô bão dạt tới phương nào đi nữa cuối cùng sóng vẫn về với bờ.
Đó là hiện thực, là qui luật:
“Ở ngoài kia đại dương
Trăm nghìn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở”
Hình như khẳng định tình yêu chung thủy e chưa đủ, nên cảm xúc thơ lúc này như lắng xuống, nhập vào

tháng.
Xuân Quỳnh lo âu vì cuộc đời còn ở phía trước, đời người là hữu hạn. Hơn nữa qua nhiều năm tháng đầy
biến động của cuộc đời, đã nếm trải ngọt ngào và cay đắng của hạnh phúc thì ở Xuân Quỳnh lo âu về tình
yêu đã thành nỗi ám ảnh xót xa:
“Lời yêu mỏng manh như màu khói
Ai biết tình anh có đổi thay”
- Khổ thơ kết của bài thơ:
“Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ”
Tự hỏi “làm sao”, tự vấn lòng mình thể hiện một ước muốn, một khát vọng về tình yêu vô cùng táo bạo
và mãnh liệt. Vì sao Xuân Quỳnh lại khát vọng ? Phải chăng bà yêu tha thiết nồng nàn và lo âu? nhân vật
trữ tình muốn được “tan ra” thành sóng. Động từ tan ra diễn tả một trạng thái mạnh. Sự hóa thân, quên
mình trong tình yêu vào thiên nhiên vĩnh cửu để tồn tại mãi mãi, muốn thành trăm con sóng nhỏ để được
sống mãi, yêu mãi. Đó cũng là khát vọng được hiến dâng, được hi sinh vì tình yêu mà chỉ có những người
yêu thực sự mới làm được như vậy. ta hãy chú ý đến từ chỉ thời gian là “ngàn năm” và “biển lớn tình
yêu”.
Chuyện tình yêu và hạnh phúc ở đời thường là chuyện trăm năm “trăm năm giàu nỗi hẹn hò”, “trăm năm
bến nước tình tình- trăm năm là nghĩa là tình mình ta”, với Xuân Quỳnh chuyện tình yêu phải là chuyện
của “ngàn năm”, biển phải là “biển lớn tình yêu” vĩnh hằng và bất tử. Động từ “tan ra” trong khổ thơ là
đỉnh điểm của cảm xúc, của nỗi nhớ, của lòng chung thủy và đức hi sinh một cách trọn vẹn.
- Trước biển Xuân Quỳnh còn khơi dậy được những khát khao mới mẻ, được còn mãi một tình yêu lớn.
Khát vọng tình yêu cũng là khát vọng sống mãnh liệt đủ đầy da diết:
“Em trở về đúng nghĩa trái tim em
Là máu thịt đời thường ai chẳng có
Vẫn ngừng đập khi cuộc đời không còn nữa
Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi”
( Tự hát)
III. Kết Luận:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status