THỀ NON NƯỚC
1 - Nước non nặng một lời thề,
Nước đi đi mãi, không về cùng con,
Nhớ lời nguyện nước thề non,
Nước đi chưa lại, non còn đứng không
2 – Non cao những ngóng cùng trông
Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày.
Xương mai một nắng hao gầy,
Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương.
Trời tây ngả bóng tà dương.
Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha.
Non cao tuổi vẫn chưa già,
Non còn nhớ nước, nước mà quên non.
Dù cho sông cạn đá mòn,
Còn non, còn nước hãy còn thề xưa.
3 – Non cao đã biết hay chưa?
Nước đi ra biển lại mưa về nguồn.
Nước non hội ngộ còn luôn,
Bảo cho non chớ có buồn làm chi
Nước kia dù hãy còn đi
Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui.
4 – Nghìn năm giao ước kết đôi,
Non non nước nước chưa nguôi lời thề.
Tác giả :
Tản Đà (1889 – 1939) có câu thơ tuyệt bút:
“Tài cao, phận thấp, chí khí uất,
Giang hồ mê chơi quên quên hương”
(Thăm mả cũ bên đường)
không”. Khóc than thảm thiết, bao nhiêu nước mắt đã khô cạn: “Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày”.
Thân hình tiều tuỵ đáng thương như một gốc mai già trụi lá trơ cành: “Xương mai một nắm hoa gầy”.
Mái tóc xanh, mềm mại như mây ngày nào, nay đã bạc trắng: “Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương”.
Tình lang đi mãi chưa về, giai nhân tuổi mỗi năm một cao, đã chiều tà ngả bóng, nhan sắc phai tàn. Còn
đâu nữa “vẻ ngọc” và “nét vàng” thời con gái xa xưa: “Trời tây ngả bóng tà dương – Càng phơi vẻ ngọc,
nét vàng phôi pha”.
Tản Đà đã sáng tạo nên những hình ảnh ẩn dụ để đặc tả nỗi buồn cô đơn, tương tự của giai nhân. Có
không ít câu thơ trong bài “Thề non nước” vừa đẹp vừa hay không thua kém những câu Kiều của Nguyễn
Du. “Tóc mây”, “Xương mai”, “nét vàng”, “vẻ ngọc”, đặc biệt “Suối khô dòng lệ”… là những hình ảnh
mĩ lệ nói về sắc tài và bi kịch trong tình yêu của giai nhân. Còn nước mắt đâu nữa mà “tuôn”. Chữ “khô”
thể hiện cách chọn từ, dùng từ của Tản Đà rất tình luyện, chính xác.
Chẳng cần xem bức hoạ mà chỉ đọc vài câu thơ cũng thấy như vẽ ra một cái “núi tương tư” vậy:
“Non cao những ngóng cùng trông,
Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày.
Xương mai một nắm hao gầy
Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương.
Trời tây ngả bóng tà dương,
Càng phơi vẻ ngọc, nét vàng phôi pha”.
Càng tương tư càng tủi hờn: “Non còn nhớ nước, nước mà quên non”. Nhưng nàng cô phụ vẫn đinh ninh
lời thề:
“Dù cho sông cạn đá mòn
Còn non còn nước hãy còn thề xưa”.
“Dù… hãy…” niềm tin được khẳng định. “Sông cạn đá mòn” là một thành ngữ, nêu lên một giả định
không bao giờ có thể xảy ra. Và cho dù có xảy ra trong muôn một, thì giai nhân vẫn son sắt thuỷ chung
“hãy còn thề xưa”. Ba chữ “còn” được láy lại trong vần thơ dã thể hiện sâu sắc cảm động mối tình sắt
son, thuỷ chung, bền đẹp của nàng cô phụ.
Nước đã đi xa, tình lang đã đi xa, chỉ còn lại tiếng đồng vọng trong không gian và thời gian ly biệt. Hẹn
ngày trở lại. Hẹn ngày tái ngộ, hội ngộ của lứa đôi. Chia sẻ nỗi buồn, an ủi tình nhân:
(...) Cái bước đêm khuya thân gái ngại ngùng
Nước non gánh nặng, cái đức ông chồng hay hỡi có hay!”
(“Gánh nước đêm” - Trần Tuấn Khải)
“Nọ bức dư đồ thử đứng coi
Sông sông núi núi khéo bia cười
Biết bao lúc mới công vờn vẽ
Sao đến bây giờ rách tả tơi…”
(“Vịnh bức địa đồ rách” - Tản Đà)
Trong bài thơ “Thề non nước”, hai chữ “non” và “nước” xuất hiện ở tần số rất cao: 27 lần, lúc thì nước
nhớ non, lúc thì non nhắn nước, lúc thì non non nước nước… Một giọng thơ thiết tha, có không ít câu thơ
để lại nhiều ám ảnh:
“Nước đi đi mãi, không về cùng non,”
“Nước đi chưa lại, non còn đứng trông,
Non cao những ngóng cùng trông,
Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày”…
“Non còn nhớ nước, nươc mà quên non…”
Có đặt bài thơ “Thề non nước” bên cạnh các bài thơ “Chim hoạ mi trong lồng”, “Vịnh bức địa đồ rách”,
v.v… ta mới thấy tình yêu nước được nhà thơ kín đáo gởi gắm vào các ngữ “nhớ nươc”, “quên non”.
Tình yêu nước dào dạt cả bài thơ. Dưới ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp, trên thi đàn công khai,
Tản Đà đã có một cách nói thật hay, thật xúc động về tấm lòng gắn bó thiết tha với giang sơn Tổ Quốc.
Trong thời Pháp thuộc, bài thơ “Thề non nước” như một vach nối dẫn dắt người đọc, nhất là thế hệ thanh
niên cảm nhận sâu hơn những vần thơ của Phan Bội Châu, của Phạm Tất Đắc, v.v…
“Bâng khuâng đỉnh núi chân ngàn
Khói tuôn khí uất, sóng cuồn trận đau”.
(“Hải ngoại huyết thư” – Phan Bội Châu)
“Nghĩ thân thế héo hon tấc dạ
Trông non sông lã chã dòng châu…”
(“Chiêu hồn nước” - Phạm Tất Đắc)