Bức tranh phố huyện và tâm trạng nhân vật Liên qua ngòi bút Thạch Lam trong truyện ngắn Hai đứa trẻ - Pdf 30

Thạch Lam đã hóa thân vào nhân vật và bằng lốỉ văn duy cảm,
ông đã đưa người đọc nhập vào thế giới tâm hồn nhân vật, người
đọc sẽ liên tưởng, hình dung tới điều tác giả muốn đặt ra
Bước vào những trang viết của Thạch Lam là ta bước vào một thế giới nghệ thuật riêng, một thế giới hiện
thực đẫm chất thơ. Hai đứa trẻ là một truyện ngắn bộc lộ rất rõ thế giới nghệ thuật riêng đó của Thạch
Lam. Nhà văn đã bày tỏ tấm lòng sâu kín đầy trắc ẩn yêu thương của mình qua việc miêu tả bức tranh phố
huyện và diễn biến tâm trạng nhân vật Liên.
Là một trong bảy thành viên của nhóm Tự lực văn đoàn (Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng,
Thế Lữ, Xuân Diệu, Tú Mỡ) nhưng Thạch Lam đã chọn cho mình một hướng đi riêng với một quan điểm
nghệ thuật riêng. Theo ông: “Thiên chức của nhà văn là nâng đỡ cái tốt, cái đẹp để cho cuộc đời có nhiều
công bằng và yêu thương hơn” và “văn chương không thể thoát ly, lãng quên mà phải là một thứ vũ khí
thanh cao góp phần cải tạo xã hội”.
Lúc bấy giờ, trên văn đàn, người ta đua nhau viết nhiều loại tiểu thuyết có cốt truyện hấp dẫn, tình tiết ly
kì hoặc nhiều chuyện tình ái mùi mẫn của giới thượng lưu. Lối đi của Thạch Lam tưởng sẽ dẫn tới ngõ
cụt, dẫn tới “mảnh đất chết” của nghệ thuật. Đó là một loại truyện không có cốt truyện. “Thạch Lam đến
với văn chương như mang một sứ mệnh hòa giải, hòa giải giữa thơ và văn xuôi, giữa hiện thực và lảng
mạn” (Chu Văn Sơn). Truyện của Thạch Lam chú trọng nhiều đến những biến thái tinh vi, mơ hồ trong
đời sống tâm hồn (chứ không phải phân tích tâm lí sắc lạnh như Nam Cao), và cứ thế trôi theo dòng cảm
xúc, tâm trạng khiến cho khi đọc người ta luôn có cảm giác xao xuyến rất lạ. Mỗi truyện ngắn của Thạch
Lam chính là một bài thơ trữ tình xót thương mà cũng vô cùng ấm áp và thấm thìa. Nhà nghiên cứu văn
học Vũ Ngọc Phan gọi truyện của Thạch Lam là truyện “tình cảm” và cho rằng Thạch Lam “rất tin ở chủ
nghĩa duy cảm”. Ông đứng vào một phái riêng của tiểu thuyết.
Chính vì không chú trọng đến cốt truyện nên Thạch Lam cũng không đi vào những đề tài to tát; quy mô
cuộc sống xã hội được phản ánh không rộng lớn, những vấn đề đặt ra không mang tính bức xúc như trong
nhiều sáng tác của Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng... Chất liệu tạo nên cuộc sống trong tác phẩm được
Thạch Lam chắt chiu từ những gì hết sức nhỏ bé thậm chí vụn vặt mà nếu vô tình sẽ rất dễ bỏ qua.
Cái tài của Thạch Lam là ở chỗ nhà văn đã vượt lên đề tài, chế ngự chất liệu, chiếm lĩnh phạm vi phản
ánh bằng lăng kính chủ quan và phong cách nghệ thuật tài hoa tinh tế. Và cứ tự nhiên như không, Thạch
Lam đã gieo vào lòng độc giả một thứ tình yêu ngọt ngào đối vói nhiều trang viết của mình bởi người ta
luôn tìm thấy ở văn xuôi Thạch Lam một thứ mê hương kì lạ: dìu dịu mà lan tỏa, thoang thoảng mà ngây
ngất, mơ hồ mà đầy ám ảnh. Thạch Lam “vừa sống vừa lắng nghe chung quanh cũng là lắng nghe mình

[...]. Đọc Hai đứa trẻ thấy một tấm lòng quê hương êm mát và sâu kín” (Nguyễn Tuân). Thạch Lam đã
thổi hồn mình vào bức tranh phố huyện. Đây là thành công đầu tiên, thành công cuối cùng cũng là thành
công đặc sắc nhất của truyện ngắn Thạch Lam.
Như nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan tổng kết: “Mỗi một nhân vật của Thạch Lam đều phảng phất tâm hồn
Thạch Lam”. Hai đứa trẻ thực chất là những trạng thái tâm hồn của nhân vật Liên được tắm trong một bầu
không khí trầm buồn man mác mà nhà văn đã thổi hồn mình vào đó. Những biến thái tinh vi của một tâm
trạng buồn vừa mơ hồ, vừa khắc khoải vừa hiện hữu vừa mong manh đã trở thành ám ảnh. Mở đầu mới
chỉ là những xao động được gợi lên từ một buổi chiều tàn trước cảnh chợ tàn. Rồi theo màn đêm buông
xuống, tâm hồn trẻ thơ có gì xao xác, u uất đến tội nghiệp để cuối cùng xốn sang lên đôi chút lúc đoàn tàu
chạy qua. Dòng cuối của tác phẩm là giấc ngủ yên tĩnh “tịch mịch và đầy bóng tối” của nhân vật Liên,
song đã để lại trong lòng người đọc nhiều nỗi niềm bâng khuâng. Chất thơ của Hai đứa trẻ đã được khơi
lên từ những rung động tâm hồn như thế.
Bức tranh phố huyện trong Hai đứa trẻ (và cả Nhà mẹ Lê và Gió lạnh đầu mùa) gắn với những kỉ niệm
thời thơ ấu của Thạch Lam. Theo hồi kí về gia đình Nguyễn Trường, bà Nguyễn Thị Thế, chị ruột của
Thạch Lam kể lại: “Tôi không ngờ em Sáu có trí nhớ dai đến thế, như chuyện em tôi tả hai chị em thức
đợi chuyến tàu đêm qua rồi mới ngủ. Năm đó tôi mới lên chín, em tôi lên tám mà mẹ đã giao cho hai chị
em tôi coi hàng”. Cả một thời thơ ấu của Thạch Lam đã gắn với phố huyện Cẩm Giàng, bên cạnh đường
xe lửa Hà Nội - Hải Phòng lúc đó cha vừa mất ở sầm Nưa — Lào, mẹ con bồng bế nhau về quê ngoại).
Cái không gian buồn tẻ, quạnh hiu của phố huyện như một ám ảnh để rồi sau này thường xuất hiện trong
nhiều trang viết của Nhất Linh, Hoàng Đạo và nhất là Thạch Lam. Thời gian như một chiếc bình lộc kì
diệu, nó giữ lại trong tâm hồn đa cảm và tinh tế của Thạch Lam nhiều dấu ấn không thể phai mờ. Dựng
lên nhân vật Liên, thực chất Thạch Lam đã đánh thức trong tâm khảm của cậu bé An hồi nào để trở về
phố huyện, nơi “bóng tối u uất nhẫn nại của đời thôn quê lưới mái lá nát hay những đêm sâu trong huyện”
(Thế Lữ).
Bức tranh phố huyện trong con mắt của hai đứa trẻ cũng đầy đủ màu, âm thanh, đường nét và sự phối hợp
giữa cảnh và người. Tất cả đều đượm vẻ u buồn: một con đường vào làng, ra sông, một phố chợ, một ga
xép, một lũy tre... Những đường nét đơn sơ, giản dị, mộc mạc. Gam màu chủ đạo của bức tranh phố
huyện là màu xám đen của bóng tối hòa lẫn với những quầng sáng mờ nhạt nhỏ nhoi. Đúng hơn là có cả
“màu đỏ rực như lửa cháy” của mặt trời sắp tàn và màu “hồng nhạt” của những đám mây nhưng cái màu
sắc tưởng như rực rỡ kia chỉ tồn tại trong tích tắc để rồi “đen lại”, lụi tàn đi nhường chỗ cho bóng tối bao

phố huyện được Thạch Lam nói đến đây không phải là một đêm do mất điện hoặc không trăng mà “đêm
tối đối với Liên đã quen lắm” quen đến nỗi trong cái tối của đêm Liên nhìn xuyên qua nó để thấy được
“con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà” mặc dù cứ mỗi lúc “càng sẫm đen hơn
trước”. Ngay cả tiếng trống cầm canh cũng bị cái tối của đêm làm cho quánh lại “khô khan không vang
động ra xa” mà “chìm ngay vào bóng tối”. Đoàn tàu đêm đi qua, cả phố huyện bừng sáng lên chốc lát rồi
lại bị bóng tối vây bọc. Kết thúc tác phẩm, ngọn đèn hạt đỗ trong gian hàng tồi tàn của chị em Liên được
vặn nhỏ hơn nữa và Liên sau khi “nhìn quanh đêm tối” đã chìm trong giấc ngủ “tịch mịch và đầy bóng
tối”.
Có thể nói, hình tượng đêm tối không chỉ tạo nên một bầu không khí riêng cho câu chuyện mà hình tượng
ấy đã tạo nên một sức ám ảnh mạnh mẽ, gây nên cảm giác phập phồng, lo lâu, hồi hộp, mong đợi, hi vọng
để rồi thờ dài ở người đọc. Bóng tối trở thành một thế lực thống trị phố huyện, nó len lỏi, thâm nhập vào
mọi sự vật. Nó như một C011 quái vật khổng lồ nuốt chừng cả cảnh và người phố huyện. Bóng tối không
chỉ là cái nền của bức tranh phố huyện mà còn là không gian xã hội, không gian nghệ thuật của tác phẩm.
Bóng tối chính là biểu tượng cho cuộc sống nghèo nàn, tăm tối, bế tắc không lối thoát của nhừng kiếp
người nơi phố huyện. Bóng tối cứ đè nặng lên số phận khiến cho họ đã nhỏ bé lại càng nhỏ bé, đã tội
nghiệp, hầm hiu càng hẩm hiu tội nghiệp.
Đối lập với bóng tối là ánh sáng. Thực chất nhà văn đã sử dụng thành công một cách xuất, sắc nghệ thuật
tương phản. Sự tồn tại của những chấm sáng sẽ trở nên vô nghĩa nếu không có bóng tối, ngược lại, tả
bóng tối cũng là đã chứng minh sự tồn tại của những chấm sáng, những chấm sáng lắt lay mà bóng tối có
thể nuốt chưng bất cứ lúc nào. Nhưng như một quy luật của sự sinh tồn, ánh sáng dù lắt lay vẫn cứ tồn tại.
Dường như suốt thiên truyện là sự giao tranh gay gắt. mà lặng lẽ giữa bóng tối và ánh sáng.
Ánh sáng tự nhiên không chỉ có ánh mặt trời “đỏ rực” mà còn có ánh sáng lấp lánh” của vòm trời bởi
những vì sao đêm. Dưới mặt đất còn có ánh sáng của “những con đom đóm bay là là”.
Ánh sáng nhân tạo gồm ngọn đèn chị Tí; ngọn đèn dầu vặn nhỏ của chị em Liên mà “từng hột ánh sáng
lọt qua phên nứa”; bếp lửa của bác phở Siêu chỉ chiếu sáng một vùng đất cát: ánh sáng của “cái thau sắt
trắng” mà gia đình bác Xẩm mù để trước mặt được ánh sáng của xung quanh hắt vào; ánh sáng của tàn
rhan rụng xuống đường ray; ánh sáng cùa “hai ba người cầm đèn lồng lung lay cái bóng dài”. Ngoại trừ
ánh sáng mà đoàn tàu mang đến và ánh sáng hiện lên trong tâm tướng của Liên về Hà Nội còn lại tất cả
đều ở thế lụi tàn, leo lét, rơi rụng, mờ dần.


lụi héo úa.
Bắt đầu cho sự chuyển giao giữa chiều và tối là cảnh mấy đứa trẻ lom khom... đi lại... nhặt nhanh., tìm
tòi.. Và để tô thêm những bóng dáng xiêu vẹo đó, tác giả tả tỉ mỉ những thứ “rác thải” của một phiên chợ
nghèo và cái mùi ẩm mốc bốc lên cùng vài người về muộn còn nói rốn với nhau thêm vài câu chuyện rời
rạc.
Mẹ con chị Tí có lẽ là nhân vật điển hình nhất cho cuộc sông lay lắt, ngoi ngóp của hố huyện này. Gánh
hàng của mẹ con chị là tâm điểm trong bức tranh sinh hoạt nơi phố huyện khi đêm xuống. Ngày thì mò
cua bắt tép, cứ đêm đến lại đội cái chõng tre ra ga bày bán hàng nước. Đã biết, là không bán được gì mà
vẫn cứ đi, đi vì biết đâu kiếm thêm được vài xu ít ỏi. Đó đâu phải là sống, đó chẳng qua là sự cầm cự,
cầm chừng trong vô vọng, không phải ngẫu nhiên mà tác giả trở đi trở lại với ngọn đèn chị Tí tới 7 lần.
Ngọn đèn lắt lay cố chống chọi với bóng tối cũng giống như cuộc đời của chị lay lắt chống chọi với đói
nghèo, ảm đạm và buồn tẻ. Đây là hình ảnh không chỉ có sức ám ảnh đôi với Liên mà đôi với cả tác giả
và người đọc. Thạch Lam đã dồn không biết bao nhiêu thương mến xót xa vào đấy để rồi đọc những trang
viết của ông, hình ảnh ngọn đèn cùng số phận chị Tí cứ len lỏi cả vào giấc ngủ.
Bác phở Siêu có vẻ khá hơn bởi ở cái đất nghèo này phở là một thứ xa xỉ. Tiếng đòn gánh kĩu kịt cùng
với mùi thơm ngầy ngậy và chấm lửa vàng lơ lửng vừa đem lại cho phố huyện một chút sinh khí chưa đủ
ấm đã lại rơi vào một tiếng thở dài cho sự ế ẩm.
Gia đình bác xẩm ngồi đấy tự lúc nào bởi đối với bác ta ngày và đêm đều có nghĩa gì đâu. Cả nhà sinh
sống, chơi đùa, “làm ăn” trên một manh chiếu rách với một chiếc thau sắt dùng để đựng của bố thí. Bác
xẩm góp chuvện bằng mấy tiếng đàn bần bật trong yên lặng và thằng con phụ họa bằng cách bò ra đất


nhặt những rác bẩn để nghịch.
Tưởng như thế đã là thê thảm và đáng sợ nhưng có một con người còn đáng sợ hơn, đấy là bà cụ Thi điên.
Bà xuất hiện như một cái bóng nhưng ám ảnh mãi bởi tiếng cười nửa điên nửa dại và hình ảnh người đàa
bà cầm một cút rượu to dốc một hơi cạn sạch khiến người ta cảm thấy đắng chát cho kiếp người tím tạ,
héo mòn, lay lắt. Ai? Cái gì khiến bà cụ Thi ra nông nổi ấy? Thạch Lam không luận bàn mà lặng lẽ đặt
vào lòng trắc ẩn của người đời cái câu hỏi ấy. Cuộc sống cứ tiếp diễn theo cái đà này thì có lẽ tất cả cũng
sẽ nửa điên nửa dại mất thôi. Thật thê thảm khi một người đàn bà uống rượu để tìm quên trong men đắng,
càng thê thảm khi người đàn bà ấy không đủ tiền mua hẳn một chai rượu để uống cho đủ say mà quên.

và hi vọng khiến cho những con người nơi đây không ngẩng đầu lên được. Ngay cả cái khả năng tự lừa
dối mình để bám trụ cuộc sống dường như họ cũng không còn được là bao. Có thể nói, tấm lòng yêu
thương của Thạch Lam đã nghiêng xuống những kiếp người nhỏ bé ấy đã mà lắng nghe, để mà chia sẻ, để
mà an ủi. Cứ như thế, nhà văn trân trọng từng hột ánh sáng bằng những lời lẽ tâm tình nhỏ nhẹ mà đầy
sâu sắc thấm thìa. Phố huyện và những con người phố huyện đã được bao bọc bởi một trái tim dung dị mà
ấm áp của một nhà văn suốt đời mong muốn cho cuộc đời “có nhiều công bằng và yêu thương hơn”.
/>Trên cái nền của bức tranh phố huyện hiện lên hình ảnh hai đứa trẻ, đặc biệt là Liên. Phố huyện luôn
được đặt trong tầm mắt của Liên, cô bé ngây thơ mà vô cùng nhạy cảm. Thạch Lam đã mượn cái nhìn,
diễn biến tâm trạng của Liên để thể hiện cảm nhận của mình trong kí ức cũng như hiện tại đối với thế giới


xung quanh, từ đó tư tưởng của tác phẩm được phát biểu một cách nhẹ nhàng, kín đáo mà sâu sắc, thấm
thía.
Bát đầu là nỗi buồn của Liên trước một buổi chiều tàn. Liên đã “ngồi yên lặng” để cho tất cả buổi chiều
lặng trầm và u uất thấm thía vào tận tâm hồn để rồi “đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần. Liên không hiểu
sao, nhưng chị thấy lòng buồn man mác”. Đoạn văn giống như một câu thơ trữ tình mang âm hưởng trầm
buồn ngọt ngào thấm thía và man mác bâng khuâng. Trong tâm hồn Liên có một chút, ngày thơ của trẻ
con và một chút già dặn của người lớn cộng với một chút cái tôi lãng mạn khó cắt nghĩa. Liên chính là
hiện thân của tâm hồn nhạy cảm, tinh tế của Thạch Lam.
Liên không chỉ buồn trước cảnh chiều tàn, Liên còn buồn trước những kiếp người tàn và cuộc sống cứ
như một tiếng thở dài, nhẹ mà sâu. Nhìn những đứa trẻ nhà nghèo bới rác “Liên trông thấy động lòng
thương nhưng chính chị cũng không có tiền đế mà cho chúng nó”. Một niềm thương cảm vừa bùi ngùi,
vừa xót xa cứ dâng lên trong hồn Liên giống như cái cậu bé Sơn hồi nào trong Gió lạnh đầu mùa lặng
nhìn những đứa trẻ nghèo tím tái vì rét.
“Bóng tối cứ ngập đầy dần” trong đôi mắt Liên và cũng ở khang cửa sổ tâm hồn ấy, những chấm sáng
cùng với những con người hiện ra trong tình thương mến. Tình thương mến ấy được thể hiện qua những
câu chào hỏi ân cần với chị Tí, qua cái cử chỉ “lẳng lặng rót rượu” cho cụ Thi rồi tuy có hơi run sợ vẫn
“đứng sững nhìn theo cụ đi lẫn vào bóng tối”. Tình thương ấy không chỉ tụ lại nơi ngọn đèn chị Tí, chiếc
thau sắt của gia đình bác xẩm, đóm lửa nhỏ của gánh phở bác Siêu, mà dường như trùm phủ lên toàn cảnh
phố huyện, thậm chi đến cả những hòn đá nhỏ “một bên sáng, một bên tốì” khi mà đêm buông xuống,

Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status