TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH – KTNN
-----------------------------------
BÙI VĂN CHUẨN
NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỘNG
THÀNH PHẦN LOÀI VE GIÁP THUỘC BỘ
ORIBATIDA (ACARI) TRÊN ĐẤT TRỒNG NGÔ
TẠI LÀNG LẬP TRÍ, XÃ MINH TRÍ,
HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh thái học
HÀ NỘI, 2015
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH – KTNN
-----------------------------------
BÙI VĂN CHUẨN
NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỘNG
THÀNH PHẦN LOÀI VE GIÁP THUỘC BỘ
ORIBATIDA (ACARI) TRÊN ĐẤT TRỒNG NGÔ
TẠI LÀNG LẬP TRÍ, XÃ MINH TRÍ,
HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu trong khóa luận này.
Hà Nội, ngày tháng 05 năm 2015
Sinh viên
BÙI VĂN CHUẨN
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Số lượng mẫu đất thu theo các giai đoạn phát triển của cây ngô... 7
Bảng 3.1. Thành phần loài và phân bố của Oribatida trên đất trồng ngô làng
Lập Trí, xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội ............................. 13
Bảng 3.2. Thành phần phân loại học Ve giáp trên đất trồng ngô tại làng Lập
Trí, xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội .................................... 16
Bảng 3.3: Danh sách họ, giống, loài Ve giáp phân bố theo độ sâu trên đất
trồng ngô tại làng Lập Trí, xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội 18
Bảng 3.4. Một số chỉ số định lượng của Oribatida ở các giai đoạn phát triển
của cây ngô khu vực nghiên cứu ………………………………………………..21
Bảng 3.5. Chỉ số định lượng cấu trúc quần xã Oribatida theo tầng đất trồng ngô tại
làng Lập Trí, xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội................................26
Bảng 3.6. Các loài Oribatida ưu thế ở tầng đất A1 ở ruộng ngô làng Lập Trí,
xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. ............................................ 28
Bảng 3.7. Các loài Oribatida ưu thế ở tầng đất A2ở ruộng ngô tại làng Lập
Trí, xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. ..................................... 29
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1. Các loài Oribatida ưu thế của tầng đất A1…………..30
Hình 3.1. Các loài Oribatida ưu thế của tầng đất A2…………..31
3.3. Một số chỉ số định lượng của Oribatida trên đất trồng ngô làng Lập Trí, xã
Minh Trí, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội ...........................................................25
3.3.1. Số lượng cá thể ................................................................................................25
3.3.2. Số lượng loài ...................................................................................................25
3.3.3 Chỉ số đa dạng loài H’ .....................................................................................26
3.3.4. Chỉ số đồng đều J’...........................................................................................26
3.4. Những loài Oribatida ưu thế trên đất trồng ngô làng Lập Trí, xã Minh Trí,
huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội ............................................................................27
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ...................................................................................32
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................33
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sinh vật trên thế giới hiện nay rất đa dạng và phong phú, đặc biệt là sinh
vật sống trong môi trường đất. Chúng chiếm khoảng 91% tồng số sinh vật
sống trên cạn và hơn 50% tổng số sinh vật trên trái đất ( Vũ Quang Mạnh,
2000) [4].
Loài chiếm ưu thế về số lượng trong hệ thống động vật đất phải kể đến
nhóm Chân khớp bé (Microarthropoda). Hai đại diện chính của nhóm này là
Oribatida (Acari) và Bọ nhảy (collembola). Bộ Oribatida (Acari: Oribatida)
bao gồm những nhóm Oribatida đa dạng và phong phú nhất. Ngoài tự nhiên,
chúng sống chủ yếu trong môi trường đất và các môi trường sống liên quan
với hệ sinh thái đất, như thảm lá rừng và xác vụn thực vật, trên thân hay dưới
vỏ cây gỗ, lớp thảm rêu bám trên thân cây, đất treo trên cành cây, trong tán lá
cây xanh. Oribatida tham gia tích cực trong sự phân hủy vật chất hữu cơ,
Nghiên cứu sự biến động thành phần loài Oribatida, đồng thời nghiên
cứu đặc điểm phân bố của chúng trên đất trồng ngô tại xã Minh Trí, huyện
Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
Việc nghiên cứu Oribatida ở Miền Bắc Việt Nam bước đầu đánh giá về
tác động của Oribatida đến đất trồng nông nghiệp tại xã Minh Trí, huyện Sóc
Sơn, thành phố Hà Nội.
3. Nội dung nghiên cứu
Đa dạng thành phần loài ve giáp (Acari: Oribatida) ở đất trồng ngô.
Đặc điểm phân bố, biến động số lượng của Oribatida theo độ sâu tầng
đất trồng ngô.
Phân tích chỉ số định lượng của Ve giáp, sự tương đồng thành phần loài
Ve giáp ở đất trồng ngô.
Xác định các loài Ve giáp ưu thế trên đất trồng ngô.
2
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu ve giáp thuộc bộ Oribatida (Acari) trên thế
giới
Trên thế giới, các nhóm động vật không xương sống nói chung và
Oribatida nói riêng đã được nghiên cứu từ rất lâu, cách đây hàng trăm năm. Ở
Đức, với công trình của Hermann J.F năm 1804; ở Ý là công trình của
Canestrini G. & Fanzago F. năm 1876, 1877,… Tuy nhiên, các công trình
nghiên cứu về Oribatida chỉ phát triển mạnh trong thời gian gần đây.
Trong các công trình nghiên cứu về Acari trước đây, các công trình của
Berlese đóng một vai trò quan trọng và có một vị trí đặc biệt. Ông là một
trong những người quan tâm đến Ve giáp ở Châu Âu sớm nhất. Chỉ từ năm
1881 đến 1923, ông đứng tên một mình, hoặc là đồng tác giả của 73 công
loài Oribatida ở đất treo có thể thấp hơn so với khu hệ Oribatida ở đất rừng
(Karasawa, 2004) [12].
Nghiên cứu về sinh học và sinh thái học của Oribatida trên thế giới hiện
nghiên cứu về: vai trò của Oribatida trong sự phân hủy và chu trình dinh
dưỡng, về quy luật và các yếu tố phát tán Oribatida, nghiên cứu về môi
trường sống, về sự đa dạng và phân bố của Oribatida trên toàn cầu…
Cũng như các động vật đất khác, nhóm Chân khớp bé (Microarthropoda) với
đại diện chủ yếu là Acari đã được biết đến cách đây hàng trăm năm. Tuy nhiên,
những công trình nghiên cứu về chúng vẫn còn ít và chỉ phát triển mạnh trong vài
chục năm gần đây. Khu hệ Oribatida trên thế giới hiện đã được mô tả khoảng
10.000 loài và số loài Oribatida thực tế có thể vào khoảng 50.000 loài. Như
vậy, số lượng Oribatida hiện được biết đến chỉ vào khoảng 20% tổng số loài
thực tế đang tồn tại .
Ngày nay, các chuyên gia nghiên cứu vẫn chưa có một cách sắp xếp
thống nhất vị trí của nhóm Oribatida nói chung trong hệ thống phân loại.
4
Thông thường, Oribatida thuộc bộ Ve giáp (Acarina) bao gồm tất cả nhóm
Oribatida khác nhau nằm trong nhóm Chân khớp hình nhện (Arachnida).
Nhờ khoa học kĩ thuật tiến bộ, nhiều nhà nghiên cứu đã nhờ sự trợ giúp
của các kĩ thuật phân tích sinh học hiện đại như phương pháp phân tích ADN
để tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, tiến hóa của Oribatida ở mức độ loài.
Trong những năm gần đây, các nghiên cứu về Oribatida diễn ra mạnh
mẽ tại nhiều vùng ở các nước trên khắp các châu lục và đã thu được nhiều kết
quả to lớn. Trong thời gian này, theo Balogh, số lượng giống Oribatida được
phát hiện trên thế giới đã tăng từ 700 lên đến hơn 1.000 giống [9].
Có thể thấy lịch sử nghiên cứu của Oribatida đã có từ rất lâu trên thế
giới, đươ ̣c nghiên cứu mô ̣t cách hê ̣ thố ng về cả khu hê ̣ , sinh ho ̣c, sinh thái và
. Tuy đã đa ̣t đươ ̣c những kế t quả
đáng chú ý , nhưng đây mới chỉ là những kế t quả bước đầ u mang tiń h chấ t
thăm dò đinh
̣ hướng, vẫn còn nhiề u ha ̣n chế và nhiề u điề u chưa biế t đế n . Vì
vâ ̣y, cần thực sự hiể u rõ vai trò quan tro ̣ng của Chân khớp bé , từ đó ứng du ̣ng
vào thực tiễn, phục vụ cho con người thì cần phải nghiên cứu nhiều hơn.
6
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG, ĐỊA ĐIỂM,
THỜI GIAN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Oribatida (Acari) thuộc ngành Chân khớp (Arthropoda), phân ngành
Chân khớp có kìm (Chelicerata), lớp Hình nhện (Arachnida), phân lớp Ve
giáp (Acari).
2.2. Địa điểm nghiên cứu
Tại đất trồng ngô làng Lập Trí, xã Minh Trí , huyện Sóc Sơn, thành phố
Hà Nội.
2.3. Thời gian nghiên cứu: từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 5 năm 2015
Bảng 2.1 trình bày số liệu về số lượng mẫu đất thu theo các giai đoạn phát
triển của cây ngô
Bảng 2.1. Số lượng mẫu đất thu theo các giai đoạn phát triển của cây ngô ở
khu vực nghiên cứu
STT
Giai đoạn phát triển của cây
65 ngày sau gieo, cây đóng bắp
5
5
5
80 ngày sau gieo, trước thu hoạch
5
5
25
25
Tổng
50
Ghi chú: A1: tầng đất có độ sâu từ 0 - 10(cm); A2: tầng đất có độ sâu từ 10 20(cm)
7
2.4. Dụng cụ nghiên cứu
- Dụng cụ thu mẫu ngoài thực địa: hộp cắt kim loại hình khối hộp chữ
nhật, túi nilon đựng mẫu, dây chun, giấy ghi nhãn, bút bi, sổ ghi chép, thùng
đựng mẫu, máy ảnh…
vòi phễu gắn với ống thu chứa dung dịch định hình formol 4% để hứng động
vật nhỏ có trong mẫu. Sử dụng phễu Berlese - Tullgren, phễu bằng thủy tinh,
có chiều cao 30 cm, đường kính miệng 25cm, đường kính vòi 1,5cm. Giá gỗ
gồm 3 tầng, mỗi tầng đặt mẫu của một sinh cảnh, mỗi tầng chia làm 2 hàng,
mỗi hàng đặt 5 mẫu, lưu ý đặt 5 mẫu ở tầng (0 – 10)cm ở 1 hàng, 5 mẫu ở
tầng (10 – 20)cm ở 1 hàng để quá trình thu và phân tích mẫu thuận tiện,
nhanh chóng và tránh sai sót hơn. Ống thu là một ống nghiệm bằng thủy tinh,
có chứa dung dịch formol 4%, nhãn ghi đầy đủ ngày, tháng, địa điểm lấy mẫu
cho vào trong ống. Mẫu đất cần được bẻ nhỏ. Đặt mẫu ở chỗ thoáng gió, tận
dụng được ánh sáng mặt trời, tránh bị động chạm, tránh mưa gió mạnh và
chuột bọ trèo vào [1].
Thu mẫu: Các mẫu đất bị khô dần từ lớp mặt và Oribatida chui dần
xuống lớp sâu hơn, chui qua lưới lọc, rơi vào phễu và trượt theo thành phễu,
rồi xuống ống thu. Sau khi đặt mẫu 7 ngày đêm liên tục, cần nhẹ nhàng nhấc
rây lọc ra. Để nguyên phễu một thời gian cho thành trong của phễu khô hết,
rồi lắc nhẹ phễu để một số mẫu vật dính vào thành rơi vào ống thu. Tiến hành
thu các ống thu, nút bông, dùng dây chun bó 5 ống thu ở cùng tầng đất trong
cùng sinh cảnh vào một bó, rồi cho vào bình miệng rộng có chứa formol 4%
để bảo quản khi chưa phân tích [1].
Phân tích và định hình bước đầu Oribatida: Các ống thu trong đó có cả
mẫu và dung dịch định hình được đổ ra giấy thấm tròn, lọc trên phễu lọc,
9
tráng ống nghiệm vài lần để không bị sót mẫu. Giấy thấm đã lọc hết nước
cùng mẫu đọng lại được lấy ra, đặt vào đĩa petri. Quan sát dưới kính lúp, chọn
và nhặt mẫu bằng kim mũi mác, cho vào các ống nghiệm có chứa dung dịch
formol 4%, thêm vài giọt axit lactic và glyxerin làm cho mẫu không bị khô
giòn và giúp làm trong mẫu [1].
- Độ đa dạng loài (H’):
Trong đó: s: Số lượng loài
ni: Số lượng cá thể của loài thứ i
N: Tổng số lượng cá thể trong sinh cảnh nghiên cứu.
Giá trị H‟ dao động trong khoảng 0 đến ∞. Chỉ số đa dạng của quần xã phụ
thuộc vào 2 yếu tố là số lượng loài và tính đồng đều về sự phong phú của các
loài trong quần xã. Một khu vực có số lượng loài hoặc số cá thể nhiều chưa
hẳn nơi đó có tính đa dạng cao. Chỉ số đa dạng, ở một khía cạnh nào đó cho
biết tính đa dạng của một quần xã và là một chỉ tiêu có thể đánh giá được tính
đa dạng về khu hệ động, thực vật của một khu vực [1].
- Chỉ số đồng đều (J’) – Chỉ số Pielou
Trong đó: H‟: Chỉ số đa dạng loài
S: Số loài có trong sinh cảnh.
11
Giá trị J‟ dao động trong khoảng từ 0 đến 1 [1].
- Chỉ số tương đồng thành phần loài J (Jaccard)
Trong đó: a: Số lươ ̣ng loài ở dạng sinh cảnh 1
b: Số lươ ̣ng loài ở dạng sinh cảnh 2
c: Số lương
̣ loài chung cho dạng sinh cảnh1 và dạng sinh cảnh 2
J: Chỉ số Jaccard, chỉ sự gần gũi thành phần loài giữa 2 quầ n
xã sinh vật ở hai sinh cảnh sống nghiên cứu.
12
II
x
OPPIIDAE GRANDJEAN, 1954
Karenella Hammer, 1962
2 Karenella acuta (Csiszar, 1961)
x
Ramusella Hammer, 1962
3 Ramusella clavipectinata (Michael, 1885)
x
Insculptoppia Subias, 1980
4 Insculptoppia insculpta (Paoli, 1908)
III
XYLOBATIDAE J. BALOGHET P. BALOGH, 1984
Brasilobates Perez-Inigo et Baggio, 1980
13
x
5 Brasilobates maximus Mahunka, 1988
x
Cordiozetes Mahunka, 1983
11 Cordiozetes olahi (Mahunka, 1987)
V
x
HAPLOZETIDAE GRANDJEAN, 1936
Rostrozetes Sellnick, 1925
12 Rostrozetes trimorphus Balogh et Mahunka, 1979
VI
x
SCHELORIBATIDAE GRANDJEAN, 1953
Euscheloribates Kunst, 1958
13 Euscheloribates samsinaki Kunst, 1958
x
Scheloribates Berlese, 1908
VII
14 Scheloribates laevigatus (C. L. Koch, 1836)
x
15 Scheloribates praeincisus (Berlese, 1916)
IX
x
AUSTRACHIPTERIIDAE LUXTON, 1985
Lamellobates Hammer, 1958
20 Lamellobates palustris Hammer, 1958
X
x
ORIBATELLIDEA JACOT, 1925
Oribatella Bank, 1895
21 Oribatella sculpturata Mahunka, 1987
XI
x
GALUMNIDAE JACOT, 1925
Pergalumna Grandjean, 1936
22
Pergalumna granulatus Balogh et Mahunka, 1967
x
17
Tổng
Bảng 3.2. Thành phần phân loại học Ve giáp trên đất trồng ngô tại làng Lập
Trí, xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
Tỷ lệ (%) trong tổng số
TT
Họ
Số giống
Số loài
Loài
Giống
1
Otocepheidae
1
1
4,55
5,26
2
Oppiidae
5,26
5
Haplozetidae
1
1
4,55
5,26
6
Scheloribatidae
2
3
13,64
15,79
7
Oripodidae
5,26
10
Oribatellidea
1
1
4,55
5,26
11
Galumnidae
1
1
4,55
5,26
19
22
Hai họ còn lại có 2 loài /họ chiếm 9,09% tổng số loài.
Có 2 họ có số giống nhiều nhất 3giống/họ (Oppiidae Grandjean, 1954;
Xylobatidae J. Balogh et P. Balogh, 1984).
Có 2 họ có 2 giống /loài (Oripodidae Jacot, 1925; Ceratozetidae Jacot,
1925)
Các họ còn lại chỉ có 1 giống /họ (Otocepheidae Balogh, 1961;
Oribatulidae Thor, 1929; Haplozetidae Grandjean, 1936; Austrachipteriidae
LLuxton, 1985; Oribatellidea Jacot, 1925; Galumnidae Jacot, 1925).
17