TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGŨ VĂN
VŨ THỊ ĐÀO
NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN KHẢI
SAU 1975
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC
•
•
•
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
N gư òi hướng dẫn khoa học
TS. LA NGUYỆT ANH
HÀ N Ộ I-2 0 1 5
•
L Ờ I CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi có nhận được sự hướng dẫn của cô
giáo: TS. La Nguyệt Anh - giảng viên tổ Văn học Việt Nam, các thầy cô trong
tố Văn học Việt Nam cùng các thầy cô trong khoa Ngữ văn, Trường ĐHSP
Hà Nội 2.
2. Lịch sử vấn đ ề ......................................................................................................2
3. Mục đích nghiên cứ u .......................................................................................... 4
4. Nhiệm vụ nghiên c ứ u .........................................................................................4
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.....................................................................5
6. Phương pháp nghiên c ứ u ................................................................................... 5
7. Đóng góp của khóa luận.....................................................................................5
8. Cấu trúc khóa luận...............................................................................................5
N ộ ỉ DUNG....................................................................................................................6
Chương 1.GIỚI THUYẾT CHUNG VÈ NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT VÀ THỂ
LOẠI TRUYỆN NGẮN.............................................................................................. 6
1.1. Ngôn ngữ nghệ th u ậ t.......................................................................................6
1.1.1. Khải niệm ngôn ngừ nghệ thuật............................................................ 6
1.1.2. Đặc điếm ngôn ngữ nghệ thuật..............................................................7
1.2. The loại truyện ngắn........................................................................................9
1.2.1. Khải niệm truyện ngắn.............................................................................9
1.2.2. Đặc điếm cơ bản của truyện ngắn.....................................................10
1.2.3. Truyện ngắn Việt Nam sau 1975 - Vị trí và thành tự u ................. 15
1.3. Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1975........................................ 16
1.3.1. Vài nét về tác giả và quá trình sáng tá c .......................................... 16
1.3.2. Một số đặc điếm truyện ngắn Nguyên Khải sau 1 975.................. 22
Chương 2. ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN
NGẮN NGUYỄN KHẢI SAU 1975........................................................................28
2.1. Ngôn ngữ kê chuyện......................................................................................29
2. ỉ. ỉ. Ngôn ngữ kế chuyện sắc sảo, tỉnh t ế ...................................................30
2.1.2. Ngôn ngừ kế chuyên khách quan lạnh lùng,tỉnh tảo.......................32
2.1.3. Ngôn ngữ kế chuyện vừa giàu chất trữ tìnhvừa đậm chất triết lí 35
2.2. Ngôn ngữ đối thoại........................................................................................ 40
2.2.1. Ngôn ngữ đối thoại thế hiện những căng thăng, dồn n é n ...............40
thuật, Nguyễn Khải đã có những đóng góp lớn trong việc hiện đại hóa ngôn
ngừ văn học, đặc biệt trong ngôn ngữ nghệ thuật truyện ngắn Việt Nam giai
đoạn sau 1975.
Khảo sát trong chương trình học Trung học Phổ thông, Nguyễn Khải
được biết đến là một trong nhừng nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam nửa
1
sau thê kỉ XX. Cùng với tiêu thuyêt, truyện ngăn là một thê loại tiêu biêu
trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khải, đặc biệt là những sáng tác sau
1975. Sách giáo khoa Ngữ văn Trung học Phố thông có đưa vào chương trình
giảng dạy những sáng tác của Nguyễn Khải với Mùa lạc, Một người Hà Nội.
Vì vậy, nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Khải
sau 1975, người viết mong muốn kiến thức này sẽ là cơ sở góp phần vào quá
trình tiếp nhận các tác phâm của Nguyễn Khải.
Là một sinh viên Sư phạm, một giáo viên trong tương lai, thông qua đề
tài này người viết mong muốn tích lũy được những kinh nghiệm quý báu để
phục vụ tốt cho công việc giảng dạy sau này.
2. Lịch sử vấn đề
Trong lịch sử Văn học Việt Nam, sáng tác của Nguyễn Khải luôn là đề
tài thách thức sự tìm hiểu, suy nghĩ, nghiên cứu đối với các nhà phê bình, các
nhà nghiên cứu văn học, trở thành đề tài nghiên cứu của nhiều luận án Tiến sĩ,
Thạc sĩ ở các Viện nghiên cứu, các trường Đại học. Nhìn chung cho đến nay,
các công trình nghiên cứu về Nguyễn Khải đi theo hai xu hướng chính:
Thứ nhât, xu hướng tìm hiêu nhừng đặc điêm cơ bản của ngòi bút
Nguyễn Khải trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của ông. Tiêu biếu cho xu
hướng này có Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ,
Nguyễn Văn Hạnh, Vương Trí Nhàn, Đoàn Trọng H uy...
Thứ hai, xu hướng nghiên cứu đặc điêm ngòi bút Nguyễn Khải qua
ngôn ngữ hiện thực
Tác giả Bích Thu cũng cho răng: “Sảng tác của Nguyên Khải từ những
năm 80 đến nay không chênh lệch khỏi quy luật tiếp noi và đứt đoạn của của
quá trình vãn học. M ột giọng điệu trân thuật chịu sức hút của chủ nghĩa tâm
lí, kêt hợp tả kê, phân tích một cách linh hoạt, thông minh và săc sảo. Lời vãn
nghệ thuật Nguyên Khải là lời nhiều giọng, được cá thế hóa mang tính đối
thoại của tự sự hiện đ ạ i” [23, tr.137].
3
Dồn khá nhiều tâm huyết vào việc nghiên cứu về con người và văn
chương Nguyền Khải là nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn. Với bài Nguyễn
Khải trong sự vận động của văn học cách mạng từ sau năm 1945
nhà nghiên cúu đã giúp người đọc nhận ra nét căn bản trong sáng tác của
Nguyễn Khải thời kỳ đôi mới là: "Cái nhìn sắc sảo von có từ sớm và khao
khát có mặt trong ngày hôm nay. Đoi thoại với chính mình và tự phát hiện trở
lại - một phong cách vừa dân dã vừa hiện đại" [19, tr. 114]. Trong bài viết,
nhà nghiên cứu cũng chỉ ra rằng: "Những truyện ngắn của Nguyễn Khải viết
từ 1988 - 1999 đến thời gian gần đây, khơi vào hai cải mạch chỉnh: M ột là
cuộc sống hôm nay của những người chung quanh, bạn bè đồng nghiệp quen
bỉêt,cùng tuôi tác và tâm sự. Hai là sô phận của những người thân trong gia
đình họ hàng nội ngoại của tác giả, những ông cậu, bà mợ mà tâm tư tình
cảm của Nguyên Khải còn nhiêu quyên luyến" [19,tr.l 16].
Có thể thấy, các bài báo, công trình nghiên cứu về Nguyễn Khải đã xoay
quanh nhiều góc độ: cảm hứng, nhân vật, tư tưởng, giọng điệu... Tuy nhiên,
chưa chia tách thành một hệ thống độc lập mà chủ yếu đi khám phá, tìm hiểu đặc
sắc trong từng tác phâm hoặc nhìn toàn bộ sáng tác của nhà văn. Trong khóa
luận này, chúng tôi đi sâu nghiên cứu yếu tố ngôn ngừ nghệ thuật để làm rồ
“ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1975
Chương 1. Những vấn đề chung về ngôn ngữ nghệ thuật và thê loại
truyện ngắn.
Chương 2. Đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn
Khải sau 1975.
5
NỘI DUNG
C hưong1
GIỚI THUYẾT CHUNG VẺ NGÔN NGỬ NGHỆ THUẬT
VÀ THẺ LOẠI TRUYỆN NGẮN
1.1. Ngôn ngữ nghệ thuật
1.1.1. Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật
Ngôn ngữ có thể hiểu là một hệ thống quy tắc cú pháp, quy tắc từ pháp,
quy tắc dụng pháp, nó có tính ốn định nhưng cả hệ thống ấy cũng đang đoi
thay theo áp lực của đời sống và lịch sử. Còn nói đến văn học, rất rõ phương
thức tồn tại trực tiếp của văn học là văn bản, trong đó thì ngôn ngữ lại là
phưong tiện khách quan để viết và hiểu được văn bản, là cái tạo nên lóp bề
mặt của văn bản. Macxim Gorki khẳng định: “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất
của văn học là công cụ, chât liệu cơ bản của vãn học nên nó được gọi là loại
hình nghệ thuật ngôn từ” [6, tr.215].
Từ đó đặt ra câu hỏi về ngôn ngữ nghệ thuật?
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: Ngôn ngữ văn học ‘7À ngôn ngữ mang
tính nghệ thuật được dùng trong văn học, thuật ngữ này có ỷ nghĩa rộng hơn
nhằm chỉ một cách bao quát các hiện tượng ngôn ngữ được dùng một cách
chuân mực trong các văn bản nhà nước, trên bảo chỉ, đài phát thanh, trong
vãn học và khoa học ” [6, tr.2 15].
dụng tổ chức trong tác phẩm để tạo ra hiệu quả và giá trị thẩm mĩ.
1.1.2. Đặc điếm ngôn ngữ nghệ thuật
1.1.2.1. Tỉnh chính xác
Đây là yêu cầu đầu tiên của việc sử dụng ngôn ngừ văn học. Muốn
miêu tả một mảng hiện thực nào đó hay biêu hiện những cảm nghĩ của bản
thân về một sự vật và hiện tượng nào đấy, nhà văn nói theo Maiacôpxki:
7
“Phải từ hàng ngàn tấn quặng từ tinh luvện chọn ra một từ đê câu thơ câu
vãn đạt hiệu quả nghệ thuật cao nh â t” hay M. Gorki cũng cho răng: “Ngôn
ngữ của tác phâm phải gây gọn, chính xác, từ ngừ phải được chọn lọc k ĩ
càng. Chính các tác giả cô điên viết bằng ngôn ngữ như vậy đã kế tục nhau
trau dồi nó từ thế kỉ này sang thế kỉ khác
Viết văn phải dùng từ chính xác mới tái hiện và tái tạo đúng sự vật hiện
tượng, miêu tả đúng cảnh vật, khắc hoạ đúng hình dáng, cá tính, tâm lí nhân
vật. Qua đó nghệ sĩ bộc lộ tư tưởng, tình cảm, thái độ và cả tài năng của mình.
1.1.2.2. Tỉnh hình tượng
Trong nhận thức luận, khái niệm “hình tượng” chỉ những kết quả của
hoạt động nhận thức của con người, độc lập với hình thức của hình tượng.
Trong tâm lí học, người ta hiếu hình tượng trước hết là sự phản ánh thực tế
một cách cụ thể cảm tính. Trong nghiên cứu văn học, từ hình tượng được xét
theo ba nghĩa: hình tượng như là một chi tiết có màu sắc, hình ảnh, một ấn dụ
hoặc một hình thức chuyên nghĩa khác gắn với nghĩa bóng; hình tượng như là
nhân vật văn học và hình tượng như là một kiểu đặc biệt của nhận thức và
phản ánh thế giới khách quan.
Còn bản thân hình tượng, ngôn từ đầu tiên có thể được xác định như là
mảnh đoạn của lời nói mang thông tin hình tượng. Chăng hạn trong câu thơ
còn có biến thành hiện thực trong sản phấm hay không thì lại phụ thuộc vào
vai trò chủ thê.
1.2. Thể loại truyện ngắn
1.2.1. Khái niệm truyện ngắn
Trong tiêng Việt thuật ngừ truyện chỉ các tác phâm văn học là một bản
kể có miêu tả nhân vật, diễn biến sự kiện thú vị, như truyện cổ tích, truyện
9
thần thoại, truyện cười, truyện truyền kì, truyện Nôm, truyện thơ, truyện dài,
truyện vừa, truyện ngắn... Trong đó truyện ngan là một thể loại có bề dày lịch
sử, vận động và phát triển qua các giai đoạn. Đặc biệt sau 1975 truyện ngắn
có nhiều đổi mới, phát triển mạnh mẽ và có xu hướng trở thành một thê lọai
chủ yếu.
Theo Từ điên thuật ngữ văn học thì truyện ngắn có thê được định nghĩa
là “tác phâm tự sự cỡ nhỏ. Nội dung của thế loại truyện ngắn bao trùm hầu
hêt các phương diện của dời sông: đời tư, thê sự hay sử thi, nhưng cái đọc
đảo của nỏ là ngắn. Truyện ngắn được viết ra đế tiếp thu liền một mạch, đọc
một hơi không n g h ỉ” [6, tr.370].
Trong Từ điên văn học truyện ngắn được hiểu như sau: “là thể loại tự
sự cỡ nhỏ... Khác với truyện vừa và truyện dài von là những thế tài mà quy
mô cho phép chiếm lĩnh đời song trong toàn bộ sự toàn vẹn, đầy đặn của nó.
Truyện ngắn thường nhằm khắc họa một hiện tượng, phát hiện một đặc tỉnh
trong quan hệ con người hay trong đời song tâm hồn con người ” [17, tr 370].
Đó là hai trong rất nhiều cách hiểu về truyện ngắn. Các định nghĩa trên
đã khái quát toàn bộ từ hình thức đên đặc trưng của thê loại này, Lucacs gọi
truyện ngắn là “nghệ thuật thuần tủy n h ấ t” [23, tr.315].
một “lát cắt đời song”. Vì thế khi sáng tác truyện ngắn, nhà văn phải tính đến
việc tìm, huy động và bố trí hợp lí chi tiết. Nhà văn Nguyên Ngọc nhấn mạnh:
“Truyện ngắn có thê có côt truyện, thậm chỉ côt truyện li kì, gay cân, kế được.
Truyện ngắn cũng có thế chăng có cổt truyện gì cả, không kế được nhưng
truyện ngắn không thế nghèo nàn chi tiết. Nỏ sẽ như nước lã ” [5, tr.33]. Do
đó việc sáng tạo truyện ngắn yêu cầu nhà văn phải tìm ra được một tình
huống truyện.
Tình huống truyện là thời điểm một sự việc, một sự kiện xảy ra đối với
nhân vậ, đưa nhân vật vào tình thế phải đối đầu, phải bộc lộ tính cách à hành
động, tức là vấn đề chính của câu truyện được mở ra. Hegel trong công trình
11
M ĩ học đã xác định: “Nói chung tình huống là một trạng thái cỏ tính chất
riêng biệt và trở thành được quy định (...). o thuộc tỉnh này của nó, tình
huống góp phần biếu lộ nội dung là cải phần cỏ được một sự tồn tại bên
ngoài bằng sự biêu hiện nghệ thuật. Theo quan điếm này, tình huống cấp cho
ta một thao trường rộng lớn đê tìm hiếu, bởi vì từ lâu nhiệm vụ quan trọng
nhất của nghệ thuật vân là tìm những tình huống nào cho phép chủng ta bộc
lộ những hứng thủ quan trọng và sâu sắc cũng như cái nội dung chân thực
của tâm hồn ” [9, tr.33].
Ke cấu truyện ngắn cũng đa dạng và phong phú như chính cuộc sống
muôn màu trong thực tế. Truyện ngắn có thê được kết cấu sâu chuỗi theo trình
tự thời gian hoặc theo hành động sự kiện, kết cấu tâm lí, kết cấu lắp ghép
hoặc kết cấu dồng hiện. Nhìn chung thì các thủ pháp kết cấu trong truyện
ngắn thể hiện cá tính sáng tạo của nhà văn và quyết định sự thành công của
truyện ngắn.
Nhân vật chiếm một vị trí đáng kể trong truyện ngắn. Do nhà văn sáng
tạo ra nhưng có một đời sống riêng trong tác phẩm văn học, “nhân vật ỉà hiện
Nói về đặc điểm ngôn ngừ thơ, bên cạnh những đặc trưng chung của
ngôn ngừ văn học là tính chính xác, tính hình tượng và tính biêu cảm thì ngôn
ngừ thơ còn là ngôn ngừ giàu nhạc tính, có tính hàm súc và tính truyền cảm.
Ngôn ngữ thơ không bao giờ chú trọng miêu tả cái khách quan như ngôn ngữ
trong tác phẩm tự sự. Neu nhà văn dùng ngôn ngừ để thuyết minh, miêu tả,
nhắn nhủ, giải thích,... thì nhà thơ dùng ngôn ngữ đê truyền cảm. Chang thế
mà khi Quang Dũng viết:
“Người đi Châu M ộc chiều sương ẩv
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Cỏ nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa ”
(Tây tiến)
13
Cảnh đẹp như tranh nhưng lại khơi gợi trong ta nỗi nhớ thương mất
mát, nuối tiếc ngậm ngùi về những ngày tháng, những kỉ niệm, những ảo ảnh
đã tan biến trong cuộc đời... Quang Dũng gợi lên một trạng thái bằng cách
hồi sinh những gì đã mất, đồng thời phản ánh tâm trạng của chính mình.
Đối với văn xuôi, do nhà văn phải xây dựng nhân vật điên hình trong
nhừng hoàn cảnh điên hình nên việc miêu tả ngoại hình, nội tâm nhân vật, bôi
cảnh xã hội... thường phải cụ thế qua nhiều tình tiết, mâu thuẫn. Ở mỗi đoạn,
mỗi chương lại có sự phát triên tâm lý nhân vật một cách trực tiếp hay gián
tiếp. Số câu chữ có thể giãn ra hay co lại theo ý đồ tác giả.
Khi xét về tiểu thuyết, đây là một thể loại có dung lượng lớn, không chỉ
viết về một người mà còn viết về cả một gia tộc, cả thế hệ, thậm chí nhiều thế
hệ. Số lượng nhân vật trong tiểu thuyết có thể đạt tới 500 - 600 người như
trong Chiến tranh và hòa bình hay Hồng lâu mộng. Ngôn ngữ trong tiểu
thuyết cũng chính là một hiện tượng rất phong phú. Lời trần thuật luôn mang
ràng truyện ngắn đem lại hiệu quả thâm mĩ cao cho người thưởng thức và cả
người sáng tác, phù họp nhất trong việc biểu hiện cuộc sống, ngày càng hấp
dẫn người đọc và thu hút người viết vì khả năng co giãn và thay đổi không
ngừng của thể loại.
1.2.3. Truyện ngan Việt Nam sau 1975 - Vị trí và thành tựu
Sau 1975, thơ ca không tạo được sự lôi cuốn, hấp dẫn như giai đoạn
trước mà phải nhường bước phát triển cho văn xuôi. Tuy nhiên, so với tiểu
thuyết, truyện ngắn đã thực sự khởi sắc, các nhà văn đã có những tìm tòi nghệ
thuật làm cho thê loại “nhỏ” có sức nén, hay nói cách khác là nó có khả năng
khái quát hóa nghệ thuật đời sống theo chiều sâu. Đáng nói hơn cả là cũng
chính giai đoạn này đã khắng định được nhiều phong cách truyện ngắn, tiêu
biểu như Nguyễn Khải, Nguyễn Kiên, Nguyễn Minh Châu, Nguyền Huy
Thiệp, Lê Minh K huê... Với phương châm nhìn thăng vào hiện thực văn xuôi
thực sự khởi sắc với những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao như: Chiếc
15
thuyền ngoài xa ,cỏ lau của Nguyễn Minh Châu, M ột người Hà Nội của
Nguyễn Khải, Tướng về hưu của Nguyễn Huy T hiệp...
Giới phê bình cùng độc giả đương thời mến mộ truyện ngắn - một thể
loại thực sự có khả năng tạo dựng không khí đời sống hiện đại, thâm nhập vào
thế giới nội tâm của con người và tạo nên những khoái cảm thẩm mĩ. Người
ta đã dành nhừiig lời ca ngợi đẹp đẽ cho truyện ngắn: có sức sống, thăng hoa,
lên ngôi... v ề hình thức, truyện ngắn sau 1975 trở nên đa dạng hơn so với giai
đoạn trước. Đã tái xuất loại “truyện ngắn kì ảo” trong đó yếu tố huyễn tưởng
đã nâng cao trí tưởng tượng của nhà văn, từ đó giúp bạn đọc khám phá sâu
hon thực tại. Thời đại của thẩn thoại, cổ tích tuy đã qua nhưng nhà văn vẫn có
thế viết loại truyện “giả cổ tích” như Nguyễn Huy Thiệp với Những ngọn giỏ
chết với hai con cho thoát khố. Mãi về sau này ông vẫn không sao quên được
cảm giác bị thương tổn và nỗi hờn giận đã gặm nhấm tâm hồn ông nhừng năm
tháng đó: “Tưởng là con ông cháu cha hóa ra không phải, chỉ là con thêm
con thừa. Bao nhiêu mộng mơ của một thủa ngây thơ, phút choc mat sạch.
Cải sự thật về thân phận qua môi thảng ngày lại tuột ra một lớp vỏ, rút lại cái
lõi của nó không đảng một xu. Chăng là cải gì ở cõi đời này. Là một thằng ăn
cắp! Lại ghẻ lở, bân thỉu, bị căm ghét còn khá, bị khỉnh rẻ mới thật n h ụ c”
[15, tr.200]. Nhưng chính hoàn cảnh cay đắng ấy đã làm bừng dậy ở ông ý
thức vê nhân phâm và ý chí sông đê khăng định mình: “Vậy thì phải sông.
Song bằng cải nhẫn nhục, cải chịu thương chịu khó, không giây phút nào
được buông lơi, không giây phút nào được tự huyễn hoặc. Song cho hết cái cỏ
thê có của mình rôi đời sẽ giúp mình sau ” [15, tr.201].
Cách mạng tháng Tám đến, ông tìm được niềm hạnh phúc lớn nhất của
đời mình, được trả lại tư cách làm người, được chọn con đường viết văn để
thực hiện một cách sống, tạo dựng uy tín, danh dự. Đây là con đường đê ông
đền đáp cách mạng và rủa sạch nỗi nhục bị chính nhũng người ruột thịt hắt
hủi, bạc đãi.
Đầu năm 1947, ông gia nhập đội tự vệ. Năm 1950 ông vào quân ngũ.
1951 làm công tác tuyên huấn ờ Phòng chính trị Liên khu III. Năm 1952 làm
17
thư kí tòa soạn tờ Chiến sĩ của Liên khu III. Bước ngoặt quan trọng nhất đối
với ông xảy ra năm 1951, ông được Trung đoàn cử đi học một lớp nghiên cứu
văn nghệ ngắn hạn mà Nguyễn Khải tùng nói: “đây là cái mốc quan trọng trên
chặng đường dẫn dến nghề văn của tôi” và cuối khóa học ông cho ra đời
truyện ngắn Ra ngoài được đăng báo.
Năm 1955, ông về Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Nhiều năm ông tham
gia Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam, từng được bầu là đại biểu Quốc hội
phát hiện vấn đề, phân tích tâm lí sắc sảo.
'p- Giai đoạn trước 1978
Nguyễn Khải từ viết báo, sau đó viết văn, qua quãng thời gian khá dài
loay hoay thử bút, năm 1957 tên tuối Nguyễn Khải thực sự được công chúng
biết tới qua phần đầu của tiểu thuyết Xung đột. Tác giả thừa nhận: “Với Xung
đột, tôi bắt đầu ý thức về chức năng người cầm bút và thực sự bước vào con
đường viết truyện”. Mối quan tâm chung của nghệ thuật thời điêm này là các
vấn đề thời sự - chính trị. Và Nguyễn Khải đã hăm hở nhập cuộc trong tư
cách nhà văn - nhà hoạt động xã hội, dùng sáng tác đê tham dự vào cuộc đấu
tranh xã hội. Các trang viết ông tập trung vào hai mảng đề tài: đề tài nông
thôn và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đề tài chiến tranh cách mạng.
-
Thứ nhất, mảng đề tài nông thôn và công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở miền Bắc
Ngay từ buôi đầu cầm bút, Nguyễn Khải đã thê hiện rõ một bản lĩnh
nghệ thuật với một tinh thần chiến đấu bằng một tiếng nói sắc sảo. Điều này
thể hiện ngay từ Xung đột ra mắt lần đầu tiên trên Văn nghệ quân đội. Tác
phẩm là cuộc đấu tranh khẳng định con đường xã hội chủ nghĩa ở một vùng
nông thôn, các thế lực phản động đội lốt tôn giáo, lợi dụng lòng tin thơ ngây
của nhiều giáo dân, lôi kéo, kích động họ chống lại chính quyền cách mạng
bằng nhiều thủ đoạn. Nhan đề tác phâm cũng là chủ đề chính: xung đột giữa
hai hệ tư tưởng “cách mạng - phản cách mạng”. Xung đột giàu tính chiến đấu,
là tiếng nói sắc sảo phê phán những mưu đồ phản cách mạng, cảnh tỉnh sự mê
muội của con người.
Năm 1960 với sự ra đời của tập truyện ngắn Mùa lạc, đây là sản phẩm
của chuyến đi thực tế ở nông trường Điện Biên, Nguyễn Khải nồng nhiệt
19
liệt của các số phận làm nên chiều sâu hiện thực đời sống. Chính yếu tố này
tạo cho nhân vật một vẻ đẹp sắc sảo, hấp dẫn vì nó giúp soi chiếu chân thực
20