BO Y TE - Dieu duong co ban 1
Page 1 of 168
BỘ Y TẾ
ĐIỀU DƯỠNG CƠ BẢN 1
(DÙNG CHO ĐÀO TẠO CỬ NHÂN ĐIỀU DƯỠNG)
Mã số: Đ.34.Z.01
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC
HÀ NỘI 2007
Chỉ đạo biên soạn:
VỤ KHOA HỌC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
Chủ biên:
PGS. TS. PHẠM VĂN LÌNH
TS. LÊ VĂN AN
Những người biên soạn:
Bản quyền thuộc Bộ Y tế (Vụ Khoa học và Đào tạo)
874 - 2007/CXB/2 - 1918/GD
Mã số: 7G069M7 - DAI
Lời giới thiệu
Thực hiện một số điều của Luật Giáo dục, Bộ Giáo dục & Đào tạo và Bộ Y tế đã ban hành
chương trình khung đào tạo Cử nhân điều dưỡng. Bộ Y tế tổ chức biên soạn tài liệu dạy - học các
môn cơ sở và chuyên môn theo chương trình trên nhằm từng bước xây dựng bộ sách đạt chuẩn
chuyên môn trong công tác đào tạo nhân lực y tế.
Sách ĐIỀU DƯỠNG CƠ BẢN 1 được biên soạn dựa trên chương trình giáo dục của Trường
Đại học Y Dược Huế trên cơ sở chương trình khung đã được phê duyệt. Sách được các tác giả TS.
Lê Văn An, ThS. Hồ Duy Bính, BS. Lê Thị Lục Hà, ThS. Trần Đình Hậu, TS. Nguyễn Thị Kim Hoa,
ThS. Võ Thị Diệu Hiền, BS. Dương Thị Ngọc Lan, PGS. TS. Phạm Văn Lình, TS. Hoàng Văn Ngoạn,
ThS. Phan Thị Tố Như, BS. Nguyễn Thị Anh Phương, BSCKII. Đinh Văn Tâm, BSCKII. Trần Đức
Thái, ThS. Đào Nguyễn Diệu Trang biên soạn theo phương châm: Kiến thức cơ bản, hệ thống; nội
dung chính xác, khoa học; cập nhật các tiến bộ khoa học, kỹ thuật hiện đại và thực tiễn ở Việt Nam.
Sách ĐIỀU DƯỠNG CƠ BẢN 1 đã được Hội đồng chuyên môn thẩm định sách và tài liệu dạy học chuyên ngành Điều dưỡng của Bộ Y tế thẩm định vào năm 2007. Bộ Y tế quyết định ban hành là
tài liệu dạy - học đạt chuẩn chuyên môn của ngành trong giai đoạn hiện nay. Trong thời gian từ 3
đến 5 năm, sách phải được chỉnh lý, bổ sung và cập nhật.
file://C:\Windows\Temp\ffpvjdbupf\dieu_duong_co_ban.htm
04/01/2013
sử điều dưỡng trong thời điểm hiện tại. Chương trình giáo dục, nghề nghiệp và hướng dẫn thực hành
nghề điều dưỡng dựa trên sự hiểu biết điều dưỡng là gì và tổ chức nó như thế nào. Bởi vì điều dưỡng
là một phần của một xã hội luôn đổi thay.
2. ĐỊNH NGHĨA
Đã có nhiều định nghĩa đã được đưa ra, một số định nghĩa đã nêu sai về vai trò và con người của
ngành Điều dưỡng. Ví dụ theo Tạp chí The New Lexicon Wesbter’s đã định nghĩa: "Người điều
dưỡng là người phụ nữ được huấn luyện để chăm sóc những người ốm đau". Tuy nhiên, ngày nay có
nhiều nam giới đã chọn nghề Điều dưỡng. Những người điều dưỡng này được cung cấp những kỹ
năng chăm sóc bảo vệ bệnh nhân tốt qua một chương trình đào tạo.
Florence Nightingale đã đưa ra một định nghĩa về ngành Điều dưỡng cách đây hơn 100 năm:
"Điều dưỡng là một hành động thiết thực bảo vệ môi trường chung quanh bệnh nhân để giúp cho
bệnh nhân bình phục". Trong thuyết đầu tiên này, Florence Nightingale đã đề cao vai trò của công
tác điều dưỡng. Người điều dưỡng không những được huấn luyện để chăm sóc bệnh nhân ốm đau mà
còn được huấn luyện như những người nội trợ.
Virginia Henderson là một trong những người điều dưỡng đầu tiên nêu ra định nghĩa điều dưỡng
file://C:\Windows\Temp\ffpvjdbupf\dieu_duong_co_ban.htm
04/01/2013
BO Y TE - Dieu duong co ban 1
Page 4 of 168
(1960): "Chức năng của điều dưỡng là giúp đỡ các cá thể, đau ốm hoặc khoẻ mạnh, giúp họ cải
thiện chất lượng cuộc sống và bình phục nhanh chóng. Người điều dưỡng cần thiết phải có sức khoẻ,
thông minh, có kiến thức và có phong thái làm việc càng nhanh càng tốt". (Henderson, 1966, p.3).
Henderson cho rằng người điều dưỡng cần phải chăm sóc bệnh nhân không kể họ ốm đau hay khoẻ
mạnh. Bà còn đề cập đến việc giáo dục và ủng hộ vai trò của người điều dưỡng.
Khi mà những bộ lạc trở nên văn minh hơn, những đền thờ trở thành trung tâm của những chăm
sóc y tế, bởi vì người ta tin rằng, sự đau ốm được gây ra bởi những dấu hiệu không hài lòng của
Chúa. Những vị linh mục, thầy tu được xem như là những người thầy thuốc bậc cao, cuộc sống của
những người đàn ông và phụ nữ không có giá trị trong xã hội. Những người điều dưỡng như là
những nô lệ, họ thực hiện những nhiệm vụ của những người đầy tớ dựa trên những mệnh lệnh của
những thầy thuốc linh mục. Trái lại, suốt thời kỳ này, người Hebrews cổ đại đã đưa ra những luật lệ
về những mối quan hệ đạo đức của con người, về sức khỏe tâm trí và về sự điều khiển bệnh tật thông
qua 10 điều răn của Đức Chúa Trời. Người điều dưỡng chăm sóc ốm đau tại nhà và tại cộng đồng và
cũng thực hiện như vai trò của nữ hộ sinh (Dolan, 1978).
Trong thời kỳ cổ đại, con người có rất ít kiến thức để chăm sóc trong lúc ốm đau. Suốt thời gian
này họ tin tưởng nhiều vào Chúa, Thần linh. Khi xã hội ngày càng phát triển hơn, nhiều phương
pháp điều trị bệnh ra đời và người ta đã biết rằng, việc chăm sóc lúc ốm đau là cần thiết. Đặc biệt
trong giai đoạn này vai trò của người hộ sinh là quan trọng. Họ chăm sóc cả mẹ và con suốt quá trình
file://C:\Windows\Temp\ffpvjdbupf\dieu_duong_co_ban.htm
04/01/2013
BO Y TE - Dieu duong co ban 1
Page 5 of 168
thai nghén và sinh nở. Họ hướng dẫn cho sản phụ cách chăm sóc con, cho con bú và cách tự
chăm sóc cho chính bản thân.
Ở nền văn hoá cổ đại tại Châu Phi, chức năng của người điều dưỡng là bao gồm cả vai trò người
hộ sinh, chăm sóc trẻ em và người già.
Ở Ấn Độ, có nhiều bệnh viện với đội ngũ điều dưỡng nam, những người điều dưỡng nam này
phải hội đủ 4 điều kiện:
- Có kiến thức cơ bản về thuốc.
chăm sóc gia đình mình thôi. Bối cảnh này tạo ra những quan niệm và thái độ xấu của xã hội đối với
điều dưỡng.
Giữa thế kỷ XVIII đầu thế kỷ thứ XIX, việc cải cách xã hội đã thay đổi về vai trò người điều
dưỡng. Vai trò của người phụ nữ trong xã hội nói chung cũng được cải thiện. Trong thời kỳ này, một
phụ nữ người Anh đã được thế giới tôn kính và suy tôn là người sáng lập ra ngành Điều dưỡng. Đó
là Florence Nightingale (1820 - 1910). Bà sinh ra trong một gia đình giàu có ở Anh nên được giáo
dục chu đáo. Bà biết nhiều ngoại ngữ, đọc nhiều sách triết học, tôn giáo, chính trị. Ngay từ nhỏ, bà
đã thể hiện thiên tính và hoài bão được giúp đỡ người nghèo khổ. Bà đã vượt qua sự phản kháng của
gia đình để vào học và làm việc tại bệnh viện Kaiserwerth (Đức) năm 1847. Sau đó bà học thêm ở
Paris (Pháp) vào năm 1853. Những năm 1854 - 1855, chiến tranh Crimea nổ ra, bà cùng 38 phụ nữ
file://C:\Windows\Temp\ffpvjdbupf\dieu_duong_co_ban.htm
04/01/2013
BO Y TE - Dieu duong co ban 1
Page 6 of 168
Anh khác được phái sang Thổ Nhĩ Kỳ để phục vụ các thương binh của quân đội hoàng gia Anh.
Tại đây bà đã đưa ra lý thuyết về khoa học vệ sinh trong các cơ sở y tế và sau 2 năm bà đã làm giảm
tỷ lệ nhiễm trùng từ 42% xuống còn 2%. Đêm đêm, Florence cầm ngọn đèn dầu đi thăm bệnh, chăm
sóc thương binh, đã để lại hình tượng người phụ nữ với cây đèn trong trí nhớ những người thương
binh hồi đó. Chiến tranh chưa kết thúc, Florence phải trở lại nước Anh. Cơn "sốt Crimea" và sự căng
thẳng của những ngày ở mặt trận đã làm cho bà mất khả năng làm việc. Bà được dân chúng và những
người lính Anh tặng món quà 50.000 bảng Anh để chăm sóc sức khỏe. Vì sức khỏe không cho phép
tiếp tục làm việc ở bệnh viện, Florence đã lập ra hội đồng quản lý ngân sách 50.000 bảng Anh để
thành lập trường đào tạo điều dưỡng đầu tiên trên thế giới ở nước Anh vào 1860. Trường điều dưỡng
Nightingale cùng với chương trình đào tạo một năm đã đặt nền tảng cho hệ thống đào tạo điều dưỡng
mà thôi.
Năm 1901, mở lớp nam y tá đầu tiên tại bệnh viện Chợ Quán, nơi điều trị bệnh tâm thần và bệnh
file://C:\Windows\Temp\ffpvjdbupf\dieu_duong_co_ban.htm
04/01/2013
BO Y TE - Dieu duong co ban 1
Page 7 of 168
phong.
Ngày 20-12-1906, Toàn quyền Đông Dương ban hành nghị định thành lập ngạch nhân viên điều
dưỡng bản xứ.
Năm 1910, lớp học dời về bệnh viện Chợ Rẫy để đào tạo y tá đa khoa.
Ngày 1-12-1912, Công sứ Nam Kỳ ra nghị định mở lớp nhưng mãi đến năm 1923 mới mở
Trường Y tá và ban hành ngạch bậc y tá bản xứ. Do chính sách của thực dân Pháp không tôn trọng
người bản xứ và coi y tá chỉ là người giúp việc nên về lương bổng chỉ được xếp ở ngạch hạ đẳng.
Năm 1924, Hội Y tá ái hữu và Nữ hộ sinh Đông Dương thành lập, người sáng lập là cụ Lâm
Quang Thiêm, nguyên Giám đốc bệnh viện Chợ Quán. Chánh hội trưởng là ông Nguyễn Văn Mân.
Hội đã đấu tranh với chính quyền thực dân Pháp yêu cầu đối xử công bằng với y tá bản xứ, chấp
nhận cho y tá được thi chuyển ngạch trung đẳng, nhưng không được tăng lương mà chỉ được phụ cấp
đắt đỏ.
Năm 1937, Hội Chữ thập đỏ Pháp tuyển sinh lớp nữ y tá đầu tiên ở Việt Nam. Lớp học tại 38 Tú
Xương (hiện là Trung tâm điều trị trẻ suy dinh dưỡng).
4.3. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954)
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà vừa mới thành
lập đã phải bước ngay vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Ngành Y tế non trẻ mới ra đời,
với vài chục bác sĩ và vài trăm y tá được đào tạo thời Pháp thuộc. Lớp y tá đầu tiên được đào tạo 6
BO Y TE - Dieu duong co ban 1
Page 8 of 168
bảy phổ thông đào tạo y tá 2 năm 6 tháng. Khoá đầu tiên mở lớp y tá cạnh bệnh viện Bạch Mai,
sau đó đưa vào các trường trung học trực thuộc Bộ. Đồng thời Bộ gửi giảng viên của hệ này đi tập
huấn ở Liên Xô, Ba Lan, Cộng hoà Dân chủ Đức,...
Việc đào tạo điều dưỡng trưởng cũng đã được quan tâm. Ngay từ năm 1960, một số bệnh viện và
Trường Trung học Y tế trung ương đã mở lớp đào tạo y tá trưởng như lớp trung học y tế bệnh viện
Bạch Mai. Tuy nhiên chương trình và tài liệu giảng dạy chưa được hoàn thiện.
Ngày 21 tháng 11 năm 1963, Bộ trưởng Bộ Y tế ra quyết định về chức vụ y tá trưởng ở các cơ sở
điều trị bệnh viện, viện điều dưỡng, trại phong, bệnh xá từ 30 giường bệnh trở lên.
4.5. Công tác điều dưỡng từ năm 1975 đến nay
Năm 1975, kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, đất nước được thống nhất, Bộ Y tế đã thống nhất
chỉ đạo công tác chăm sóc và điều trị bệnh nhân ở cả 2 miền. Từ đó, nghề điều dưỡng bắt đầu có
tiếng nói chung giữa 2 miền Nam - Bắc.
Từ năm 1975, tiêu chuẩn tuyển chọn vào y tá trung học cần trình độ văn hoá cao hơn, học sinh
được tuyển chọn bắt buộc phải tốt nghiệp trung học phổ thông hay bổ túc văn hoá và chương trình
đào tạo cũng hoàn thiện hơn.
Ngày 27 tháng 11 năm 1979, Bộ Y tế ra công văn số 4839 về chế độ phụ cấp trách nhiệm đối với
y tá trưởng khoa và bệnh viện.
Năm 1982, Bộ Y tế ban hành chức danh y tá trưởng bệnh viện và y tá trưởng khoa.
Năm 1985, một số bệnh viện đã xây dựng phòng điều dưỡng, phòng này tách ra khỏi phòng y vụ.
Ngày 14 tháng 7 năm 1990, Bộ Y tế ban hành quyết định số 570/BYT-QĐ thành lập phòng điều
dưỡng trong các bệnh viện có trên 150 giường bệnh.
Khởi đầu, ông Phạm Đức Mục, trưởng phòng điều dưỡng Viện Nhi Thụy Điển làm việc 100%;
bà Lê Thị Sửu, giáo viên trường Trung học Y tế Hà Nội và bà Lê Thị Bình, giáo viên Trung học Y tế
Bạch Mai làm 50% tại phòng Điều dưỡng Bộ Y tế được đặt trong Vụ Quản lý sức khỏe, nay là Vụ
Điều trị Bộ Y tế để phát triển công tác điều dưỡng trong cả nước thời đó.
tại Bệnh viện Uông Bí - Thụy Điển. Sau đó lớp thứ hai mở tại Trường Cao đẳng Y tế Nam Định,
lớp thứ 3 tại Trường Đại học Y Dược Hồ Chí Minh.
Đến nay khoảng 50% điều dưỡng trưởng khoa, điều dưỡng trưởng bệnh viện đã được đào tạo
qua các lớp quản lý điều dưỡng trưởng.
Năm 1986, Hội Điều dưỡng khu vực thành phố Hồ Chí Minh mở đại hội. Năm 1989, Hội Điều
dưỡng thủ đô Hà Nội và Hội Điều dưỡng tỉnh Quảng Ninh ra đời. Sau đó lần lượt một số tỉnh thành
khác cũng thành lập Hội Điều dưỡng, thôi thúc sự ra đời của Hội Điều dưỡng cả nước. Ngày 26
tháng 10 năm 1990, Hội Y tá Điều dưỡng Việt Nam mở đại hội lần thứ nhất tại hội trường Ba Đình
lịch sử. Nhiệm kỳ thứ nhất của Ban Chấp hành Trung ương (BCHTW) Hội là 3 năm (1990 - 1993).
BCH có 31 ủy viên ở cả 2 miền. Bà Vi Thị Nguyệt Hồ là Chủ tịch, 3 phó Chủ tịch là: Cô Trịnh Thị
Loan, Cô Nguyễn Thị Niên, ông Nguyễn Hoa. Tổng Thư ký là ông Phạm Đức Mục. Ngày 26 tháng 3
năm 1993, đại hội đại biểu y tá - điều dưỡng toàn quốc lần thứ 2 (nhiệm kỳ 1993 - 1997) được tổ
chức tại Bộ Y tế và BCH mới gồm 45 ủy viên, Chủ tịch là Bà Vi Thị Nguyệt Hồ, 3 phó Chủ tịch là:
Ông Nguyễn Hoa, Cô Trịnh Thị Loan, Ông Phạm Đức Mục (kiêm tổng thư ký).
Ngày 13 tháng 8 năm 1997, sau nhiều cố gắng của Hội Y tá - Điều dưỡng Việt Nam, Nhà nước
đã chấp thuận đổi tên Hội Y tá - Điều dưỡng thành Hội Điều dưỡng.
Từ khi thành lập đến nay Hội đã có 19 tỉnh hội và trên 160 chi hội. Sự hoạt động của Hội đã góp
phần động viên đội ngũ điều dưỡng thêm yêu nghề nghiệp và thúc đẩy công tác chăm sóc tại các cơ
sở khám bệnh, làm chuyển đổi bộ mặt chăm sóc điều dưỡng.
Trong quá trình phát triển của ngành Điều dưỡng Việt Nam từ khi đất nước được thống nhất đến
nay, chúng ta đã được nhiều tổ chức điều dưỡng quốc tế giúp đỡ cả về tinh thần, vật chất và kiến
thức. Trong các tổ chức đó phải kể đến đội ngũ điều dưỡng của Thụy Điển đã liên tục đầu tư cho
việc đào tạo hệ thống điều dưỡng. Nhiều chuyên gia điều dưỡng Thụy Điển đã để lại những kỷ niệm
tốt đẹp cho anh chị em điều dưỡng Việt Nam như Eva Johansson, Lola Carison, Ann Mari Nilsson,
Marian Advison, Emma Sunberg,... Tổ chức Y tế thế giới cũng đã cử những chuyên gia điều dưỡng
giúp chúng ta như Chieko Sakamoto, Margret Truax, Miller Therese,... cùng nhiều chuyên gia điều
dưỡng khác của tổ chức Care International, tổ chức khoa học Mỹ - Việt,... Các bạn đã giúp chúng ta
cả về kinh phí, kiến thức và tài liệu. Chúng ta không thể quên được sự giúp đỡ quý báu của các bạn
điều dưỡng quốc tế. Chính các bạn đã giúp đỡ chúng ta hiểu rõ nghề nghiệp của mình và phấn đấu
C. Hiện nay ở Việt Nam vẫn chưa đào tạo điều dưỡng trình độ sau đại học.
D. Hiện nay ngành Điều dưỡng của thế giới là một ngành, nghề riêng biệt, ngang hàng với các
ngành, nghề khác.
4. Trong thời kỳ văn minh cổ đại, các điều dưỡng nam ở Ấn Độ phải hội đủ 4 điều kiện:
A. Có kiến thức cơ bản về thuốc.
B. Thông minh.
C. .................................................................................................................................
D. .................................................................................................................................
5. (A) Florence Nightingale đã có rất nhiều cống hiến cho ngành Điều dưỡng thế giới vì vậy (B)
Hội đồng Điều dưỡng thế giới đã quyết định lấy ngày 12-5, là ngày sinh của bà làm ngày điều
dưỡng quốc tế.
a. (A) đúng, (B) đúng; A và B có quan hệ nhân quả.
b. (A) đúng, (B) đúng; A và B không có quan hệ nhân quả.
c. (A) đúng, (B) sai.
d. (A) sai, (B) đúng.
e. (A) sai, (B) sai.
Bài 2
QUY TRÌNH ĐIỀU DƯỠNG
MỤC TIÊU
1. Mô tả được 5 bước của quy trình điều dưỡng.
2. Trình bày được nội dung các bước của quy trình điều dưỡng.
3. Áp dụng được quy trình điều dưỡng để lập kế hoạch chăm sóc.
1. ĐỊNH NGHĨA
Quy trình điều dưỡng là một loạt các hoạt động theo một kế hoạch đã được định trước, trực tiếp
hướng tới một kết quả chăm sóc riêng biệt, hay quy trình điều dưỡng là một hệ thống và phương
pháp tổ chức của kế hoạch chăm sóc.
Quy trình điều dưỡng gồm các bước sau: nhận định, chẩn đoán điều dưỡng, lập kế hoạch chăm
sóc, thực hiện kế hoạch chăm sóc và đánh giá kết quả chăm sóc.
2.1. Bước một: Nhận định (đánh giá ban đầu)
2.1.1. Mục đích
- Thiết lập các thông tin cơ bản trên bệnh nhân.
- Xác định các chức năng bình thường của bệnh nhân.
- Xác định các rối loạn bất thường trên người bệnh.
- Đánh giá tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.
- Cung cấp các dữ liệu cho giai đoạn chẩn đoán.
2.1.2. Những hoạt động trong giai đoạn nhận định
- Thu thập dữ liệu: hỏi bệnh sử.
- Xác định tính đúng đắn của dữ liệu: thăm khám, tham khảo các xét nghiệm.
- Sắp xếp dữ liệu, tập hợp các dữ liệu và nhận biết các nhu cầu cần thiết về chăm sóc sức khỏe
cho bệnh nhân như:
+ Gặp gỡ tiếp xúc với bệnh nhân và thân nhân của bệnh nhân.
+ Quan sát theo dõi chung.
+ Khám bệnh nhân (các triệu chứng).
+ Hỏi các nhân viên y tế khác.
+ Khai thác dựa vào bệnh án.
Muốn làm được công việc này yêu cầu người điều dưỡng phải sử dụng các phương pháp sau đây
để thu thập các dữ kiện:
* Kỹ năng giao tiếp.
* Kỹ năng phỏng vấn.
* Kỹ năng quan sát.
file://C:\Windows\Temp\ffpvjdbupf\dieu_duong_co_ban.htm
04/01/2013
BO Y TE - Dieu duong co ban 1
và kiến thức mới làm được.
Khám bệnh nhân: người điều dưỡng phải biết tiến hành thăm khám cơ bản cho bệnh nhân bao
gồm:
- Nhìn (quan sát bệnh nhân): đây là bước quan trọng đầu tiên trong thăm khám thực thể. Màu
sắc, hình dạng, hoạt động, đối xứng, điệu bộ của các bộ phận của cơ thể.
Bước này được thực hiện trong quá trình phỏng vấn bệnh nhân và trong quá trình thăm khám
thực thể. Ví dụ, tuyến giáp lớn có thể phát hiện được trong quá trình thăm khám thực thể cũng như
trong lúc phỏng vấn bệnh nhân.
- Sờ: Sờ bằng đầu ngón tay và lòng bàn tay, điều dưỡng có thể xác định được kích thước, hình
dạng và mật độ của các cơ quan bên dưới. Bắt mạch, sờ được hình dạng bên ngoài của các cơ quan
như tuyến giáp, lách, hay gan; kích thước, hình dạng, và tính di động của một khối; nhiệt độ của da;
độ cứng mềm hay tính nhạy cảm của một số bộ phận của cơ thể,...
- Gõ: Được sử dụng để đánh giá vị trí và mức của các cơ quan trong cơ thể, xác định bản chất
của các cấu trúc cơ thể (đầy dịch, đầy khí, đặc), xác định các khối u.
file://C:\Windows\Temp\ffpvjdbupf\dieu_duong_co_ban.htm
04/01/2013
BO Y TE - Dieu duong co ban 1
Page 13 of 168
- Nghe: Kỹ thuật nghe các âm của cơ thể bằng ống nghe. Nó cung cấp các thông tin về sự di
chuyển của khí hay dịch trong cơ thể. Ống nghe được đặt lên trên bề mặt của cơ thể để khuếch đại
các âm bình thường và không bình thường. Kết quả của thính chẩn nằm trong sự diễn giải của điều
dưỡng. Tham khảo với các điều dưỡng khác khi nghi ngờ. Nhiều hệ thống của cơ thể cần nghe là hô
hấp, tim, mạch, dạ dày và ruột.
Sự đánh giá ban đầu là tập hợp các nguồn thông tin và những nhu cầu cần thiết về tình trạng của
2.2.3. Cách hình thành các chẩn đoán điều dưỡng
Một chẩn đoán điều dưỡng được đưa ra dựa trên việc xác định nhu cầu của bệnh nhân. Một khi
các dữ liệu trong phần nhận định đã biểu lộ được vấn đề về sức khỏe thì người điều dưỡng hướng
trực tiếp đến việc lựa chọn các chẩn đoán điều dưỡng phù hợp. Phần chính của chẩn đoán dựa vào
việc xác định các nhu cầu hiện diện trong phần nhận định. Phần chính là một vấn đề, ví dụ: "nguy cơ
tổn thương" và yếu tố liên quan với nó, ví dụ: "do lú lẫn". Vấn đề là một khả năng tiềm tàng hay một
file://C:\Windows\Temp\ffpvjdbupf\dieu_duong_co_ban.htm
04/01/2013
BO Y TE - Dieu duong co ban 1
Page 14 of 168
tình trạng hiện tại về sức khỏe của bệnh nhân. Các vấn đề liên quan là các nguyên nhân hay các
yếu tố đóng góp làm ảnh hưởng đến nhu cầu của bệnh nhân.
Cụm từ "liên quan đến" hay "do" đã xác định nguyên nhân của vấn đề. Chẩn đoán điều dưỡng
không phải là một câu phát biểu nhân quả nhưng nó cũng chỉ ra nguyên nhân có thể đóng góp vào
hay có liên quan đến vấn đề.
Nguyên nhân của vấn đề trong chẩn đoán điều dưỡng phải nằm trong khả năng thực hành của
điều dưỡng và là một tình trạng mà điều dưỡng có thể áp dụng các can thiệp điều dưỡng. Trong một
số đơn vị, chẩn đoán y khoa được viết như là nguyên nhân của chẩn đoán điều dưỡng, điều này là
không đúng. Các can thiệp điều dưỡng không thể làm thay đổi các chẩn đoán y khoa. Ví dụ: chẩn
đoán điều dưỡng là: "đau do ung thư vú" là không đúng. Các can thiệp điều dưỡng không thể tác
động lên chẩn đoán y khoa của ung thư vú. Có thể phát biểu lại bằng cách khác: "đau do tổn thương
da thứ phát sau mổ khối u vú". Các can thiệp điều dưỡng là: làm tăng sự thoải mái, kiểm soát đau và
chăm sóc vết mổ.
Vì tình trạng sức khoẻ của bệnh nhân thay đổi, chẩn đoán điều dưỡng sẽ được thay đổi. Ví dụ:
ốm.
- Thay đổi khi phản ứng của bệnh nhân thay
đổi.
- Bổ sung cho chẩn đoán điều dưỡng.
- Bổ sung cho các chẩn đoán điều trị.
- Diễn giải liên quan đến cơ quan bị bệnh.
- Diễn giải các nhu cầu (phản ứng của bệnh)
và lý do của các nhu cầu cần chăm sóc.
Người điều dưỡng phải có nghĩa vụ thiết lập chẩn đoán điều dưỡng. Lời tuyên bố phải được viết
rõ ràng những giới hạn súc tích, bao gồm hai thành phần:
- Bày tỏ sự phản ứng của bệnh nhân đối với bệnh tật hoặc nhu cầu cần thiết mà người bệnh yêu
cầu.
- Những yếu tố hướng đến nguyên nhân hay những phản ứng có thể xảy ra.
file://C:\Windows\Temp\ffpvjdbupf\dieu_duong_co_ban.htm
04/01/2013
BO Y TE - Dieu duong co ban 1
Page 15 of 168
Hai phần này được nối liền với nhau bằng sử dụng những từ ngữ liên quan hoặc liên kết với
+ Thiết lập những mục đích của bệnh nhân và kết quả mong chờ.
+ Lập kế hoạch các hoạt động chăm sóc.
+ Viết một kế hoạch chăm sóc.
2.3.2.1. Đề xuất những vấn đề ưu tiên
Là để sắp xếp và quyết định những vấn đề ưu tiên, công việc này đòi hỏi rất nhiều vào kiến thức,
file://C:\Windows\Temp\ffpvjdbupf\dieu_duong_co_ban.htm
04/01/2013
BO Y TE - Dieu duong co ban 1
Page 16 of 168
sự hiểu biết và những kinh nghiệm của người điều dưỡng trưởng. Đầu tiên phải quyết định
những khó khăn nào của bệnh nhân cần phải được giải quyết ngay trong số các khó khăn đã nhận
định được ở bệnh nhân. Những vấn đề ưu tiên cho bệnh nhân bao gồm:
- Những vấn đề đe doạ cuộc sống của bệnh nhân (khó thở, xuất huyết).
- Những tình trạng cần phải chú ý ngay tức khắc.
- Những tình trạng rất quan trọng đối với bệnh nhân (ví dụ như đau hay lo lắng).
Chẩn đoán vấn đề ưu tiên là những chẩn đoán có khả năng đe doạ cuộc sống của bệnh nhân và
cần phải hành động ngay. Để làm được vấn đề này, điều dưỡng cần phải đặt ra các câu hỏi:
+ Khó khăn đó có đe doạ cuộc sống nghiêm trọng không?
+ Vấn đề này có ảnh hưởng đến sự an toàn của bệnh nhân không?
+ Đây có phải là những nhu cầu thực tại mà bệnh nhân cần không?
+ Vấn đề đó có phải gia đình bệnh nhân và bệnh nhân không biết không?
Khi xếp đặt những vấn đề ưu tiên, phải sử dụng một mẫu hoặc một sườn như bảng bậc thang nhu
cầu của MASLOW về những nhu cầu cơ bản.
Những vấn đề ưu tiên đã được xác định có thể không tồn tại cố định, vì vậy người điều dưỡng
04/01/2013
BO Y TE - Dieu duong co ban 1
Page 17 of 168
- Với một kế hoạch chăm sóc thì tập trung vào chăm sóc cá nhân bệnh nhân hơn là vào nhiệm vụ
như: tiêm, lấy máu xét nghiệm,...
- Cung cấp về thông tin thuận lợi cho tất cả các nhân viên tham gia vào công tác chăm sóc bệnh
nhân.
- Cung cấp những chỉ số để đánh giá về chất lượng chăm sóc.
- Cách viết mệnh lệnh chăm sóc:
Các mệnh lệnh được viết bằng những từ đơn giản và phải được tất cả các nhân viên y tế hiểu
được. Mệnh lệnh chăm sóc bao gồm 5 thành phần:
+ Các mệnh lệnh bắt đầu bằng động từ hành động và có nội dung rõ ràng. Ví dụ: đo và ghi chép
lại số lượng nước tiểu 24 giờ, thay băng 6 giờ/lần, thay đổi tư thế 2 giờ/lần,...
+ Nội dung của viết các mệnh lệnh chăm sóc là: ở đâu, cái gì sẽ được làm và cái gì là cần thiết để
thực hiện hoạt động này, nó phải được làm như thế nào? Ví dụ: chườm lạnh ở đâu, bao giờ làm, ai
làm, làm khi nào...
+ Thời gian: trong khoảng thời gian nào? quy định thời gian như thế nào? Ví dụ: cứ 2 giờ bắt
mạch 1 lần, đo nhiệt độ 1 lần.
+ Ký tên: người điều dưỡng trưởng viết ra mệnh lệnh phải ký tên.
+ Người điều dưỡng thực hiện chăm sóc cũng phải ghi kết quả, nhận xét và ký tên mình sau khi
đã làm xong.
Vì vậy kế hoạch chăm sóc là một loạt các hoạt động chăm sóc người bệnh. Điều dưỡng trưởng
có trách nhiệm chính về việc thiết lập các kế hoạch hoạt động chăm sóc trong khoa mình. Khi mới
bắt đầu làm sẽ gặp một số khó khăn. Nhưng qua một thời gian, điều dưỡng trưởng sẽ có kinh nghiệm
và trở nên thành thạo trong việc lập kế hoạch chăm sóc.
2.4. Bước bốn: Thực hiện kế hoạch chăm sóc
phàn nàn của bệnh nhân như: "Tôi cảm thấy đau hơn ngày hôm qua" hoặc một số dữ kiện khác
mà người điều dưỡng đánh giá qua thăm khám thực thể như: đánh giá mức độ mất nước so với trước
khi tiến hành các can thiệp điều dưỡng. Những dữ liệu này cần phải ghi lại chính xác để phán đoán
xem các kết quả mong muốn có đạt được hay không.
Nội dung lượng giá bao gồm:
+ Hành động chăm sóc có được thực hiện theo kế hoạch không?
+ Thông tin phản hồi của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân được chăm sóc như thế nào?
+ Các y lệnh điều trị (dùng thuốc, chăm sóc đặc biệt) có được thực hiện không?
+ Tình trạng bệnh tật của bệnh nhân tiến triển ra sao? (qua hỏi bệnh, thăm khám và theo dõi).
- Phán đoán việc đạt được kết quả mong muốn: nếu hai phần trên đã được thực hiện một cách có
đầy đủ và chính xác thì việc xác định xem những kết quả mong muốn trên có đạt được hay không rất
dễ dàng. Cả bệnh nhân và điều dưỡng đều đóng một vai trò rất tích cực trong việc đánh giá các đáp
ứng thực sự của bệnh nhân với các kết quả mong muốn.
- Khi xác định các mục tiêu có đạt được hay không thì người điều dưỡng có thể có được 1 trong
3 kết luận:
+ Mục tiêu đã đạt được, nghĩa là đáp ứng của bệnh nhân giống như kết quả mong muốn.
+ Mục tiêu chỉ đạt được một phần, nghĩa là mục tiêu trước mắt là đạt được nhưng mục tiêu lâu
dài là không đạt được hoặc là kết quả mong muốn chỉ đạt được một phần.
+ Mục tiêu hoàn toàn không đạt được.
Sau khi quyết định mục tiêu có đạt được hay không thì người điều dưỡng phải ghi lại câu kết
luận với hai phần: phần kết luận và phần các dữ kiện chứng minh.
Trong đó phần lượng giá là một câu phát biểu xem kế hoạch chăm sóc có đạt được hay không,
còn phần các dữ kiện chứng minh là một loạt các đáp ứng của bệnh nhân để chứng minh cho kết luận
đó. Ví dụ: Đạt được kết quả mong muốn: lượng dịch đưa vào nhiều hơn lượng dịch thải ra là 300ml,
niêm mạc ẩm, sức căng da tốt.
- Trên cơ sở đó, nếu những kế hoạch chăm sóc nào chưa thực hiện được thì người điều dưỡng
phải xem xét lại những đánh giá trong phần nhận định của mình đã đúng chưa? và những kế hoạch
chăm sóc có đúng không? để có thể điều chỉnh kế hoạch chăm sóc cho ngày hôm sau nhằm chăm sóc
tốt hơn các nhu cầu người bệnh.
b. Thay đổi khi phản ứng của bệnh nhân thay đổi.
c. Bổ sung cho chẩn đoán điều trị.
d. Là chỉ dẫn điều trị bệnh mà điều dưỡng có thể thực hiện.
e. Tồn tại không thay đổi trong suốt quá trình điều trị.
4.2. Hãy chọn câu trả lời đúng nhất
(A) Những vấn đề ưu tiên trên bệnh nhân đã được xác định khi chăm sóc có thể không còn
tồn tại, vì vậy (B) người điều dưỡng phải thay đổi vấn đề ưu tiên ngay khi tình trạng của
bệnh nhân tiến triển hoặc khi có y lệnh điều trị mới.
a. A đúng, B đúng; A và B có quan hệ nhân quả.
b. A đúng, B đúng; A và B không có quan hệ nhân quả.
c. A đúng, B sai.
d. A sai, B đúng.
e. A sai, B sai.
Bài 3
NHU CẦU CƠ BẢN CỦA CON NGƯỜI
MỤC TIÊU
1. Trình bày được nhu cầu cơ bản của con người theo phân loại của Maslow.
2. Giải thích được sự liên quan giữa nhu cầu và nguyên tắc điều dưỡng.
3. Kể được các nhu cầu cơ bản của người bệnh và cách chăm sóc.
1. KHÁI NIỆM VỀ NHU CẦU
Nhu cầu là những đòi hỏi của con người về điều kiện vật chất, tinh thần để sống, tồn tại và phát
triển. Trong cuộc sống hằng ngày của con người, nhu cầu, xu hướng biểu hiện ra bên ngoài thể hiện,
những hứng thú, niềm tin, thế giới quan,... Vai trò của nhu cầu là biểu hiện đầu tiên tính tích cực của
họ, chính nhu cầu kích thích họ hoạt động. Không có nhu cầu, không có hoạt động. Toàn bộ cuộc
sống, tâm lý của con người đặc biệt về mặt đạo đức chịu ảnh hưởng rất lớn của nhu cầu. Người ta
thường chia ra các nhu cầu sau:
1.1. Nhu cầu của động vật
minh làm nên lực lượng bản chất con người. Chẳng hạn về nghệ thuật (văn học, âm nhạc, điêu khắc,
kiến trúc,...); về khoa học,... Sẽ là sai lầm nếu nói tách bạch một cách máy móc và tuyệt đối giữa nhu
cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Dù là nhu cầu vật chất hay nhu cầu tinh thần đều là nhu cầu mang
bản chất con người, được quy định bởi những điều kiện xã hội - lịch sử.
2. MỘT SỐ NHU CẦU VỀ CON NGƯỜI
2.1. Nhu cầu về sinh lý
Là những nhu cầu sống còn như: oxy, nước uống, thức ăn, chất thải cặn bã, hoạt động, nghỉ, tình
dục,...
2.2. Nhu cầu về sự an toàn
Sự ổn định về kinh tế, việc làm, sự ổn định về tâm thần, an toàn cá nhân,...
2.3. Nhu cầu về tình cảm và sự tự trọng
Thể hiện trong sự cư xử để gây thiện cảm, cảm tình của người khác. Nhu cầu được người khác
kính nể và tôn trọng mình.
2.4. Nhu cầu về tự giải quyết hay tự thể hiện (lãnh đạo)
Cá nhân muốn được hoạt động độc lập, sáng tạo, muốn làm chủ trong công việc của mình vì
cuộc sống hằng ngày.
file://C:\Windows\Temp\ffpvjdbupf\dieu_duong_co_ban.htm
04/01/2013
BO Y TE - Dieu duong co ban 1
Page 21 of 168
2.5. Nhu cầu được đánh giá
Cá nhân nào cũng có nhu cầu được đánh giá. Sự khen chê đúng mức, chân thực, chính xác khiến
cá nhân hoạt động tích cực hơn và ngược lại.
Bảng phân loại nhu cầu của Maslow: đối tượng của điều dưỡng là con người bao gồm người
bệnh khi vào bệnh viện có sự đòi hỏi rất cao về nhu cầu an toàn và bảo vệ vì cuộc sống, tính mạng
của họ phụ thuộc vào cán bộ y tế.
Để giúp bảo vệ người bệnh khỏi bị nguy hiểm, người điều dưỡng phải biết rõ tính chất, đặc điểm
của bệnh nhân và nhận biết rõ bất kỳ những tai biến nào có thể xảy đến cho bệnh nhân, và nếu có
biến chứng xảy ra, người điều dưỡng có thể xử trí một cách đúng đắn.
3.3. Nhu cầu tình cảm và quan hệ
Mọi người đều có nhu cầu tình cảm quan hệ bạn bè, hàng xóm, gia đình và xã hội. Các nhu cầu
này được xếp vào nhu cầu ở mức cao. Nó bao hàm sự trao - nhận tình cảm. Người không được đáp
ứng về tình cảm, không có mối quan hệ bạn bè, xã hội có cảm giác buồn tẻ và cô lập. Người điều
file://C:\Windows\Temp\ffpvjdbupf\dieu_duong_co_ban.htm
04/01/2013
BO Y TE - Dieu duong co ban 1
Page 22 of 168
dưỡng cần xem xét nhu cầu này của bệnh nhân khi lập kế hoạch chăm sóc.
3.4. Nhu cầu được tôn trọng
Sự tôn trọng tạo cho con người lòng tự tin và tính độc lập. Khi sự tôn trọng không được đáp ứng,
người ta tin rằng họ không được người khác chấp nhận nên sinh ra cảm giác cô độc và tự ty. Điều
dưỡng đáp ứng nhu cầu hằng ngày của người bệnh bằng thái độ thân mật, niềm nở và chú ý lắng
nghe ý kiến của người bệnh.
3.5. Nhu cầu tự hoàn thiện
Nhu cầu tự hoàn thiện là mức cao nhất trong hệ thống phân loại nhu cầu của Maslow và Maslow
đánh giá rằng chỉ 1% dân số trưởng thành đã từng đạt đến mức độ tự hoàn thiện. Nhu cầu tự hoàn
thiện diễn ra trong suốt cuộc đời, nó chỉ xuất hiện khi các nhu cầu dưới nó được đáp ứng trong
chừng mực nhất định. Các nhu cầu cơ bản càng được đáp ứng thì càng tạo ra động lực sáng tạo và tự
04/01/2013
BO Y TE - Dieu duong co ban 1
Page 23 of 168
Do bệnh tật mà một loạt các nhu cầu của người bệnh không được thoả mãn, người điều dưỡng,
người thầy thuốc phải đón trước và đáp ứng các nhu cầu ấy của người bệnh, nghĩa là cần sự giúp đỡ,
chăm sóc họ, hoặc cung cấp các điều kiện, để người bệnh thoả mãn các nhu cầu cơ bản của mình.
Theo Virgiria Henderson, chuyên gia điều dưỡng người Mỹ, các nhu cầu cơ bản của người bệnh là:
- Đáp ứng các nhu cầu về hô hấp và tim mạch:
+ Cho bệnh nhân nằm ở những tư thế thích hợp (tư thế đầu cao), ở phòng thông thoáng để đảm
bảo hô hấp tốt.
+ Hút các dịch, đờm dãi cho bệnh nhân để bệnh nhân dễ thở.
+ Trấn an tinh thần cho bệnh nhân.
- Giúp đỡ bệnh nhân về ăn, uống và dinh dưỡng:
+ Khuyến khích bệnh nhân ăn những thức ăn phù hợp với tình trạng bệnh tật và uống đầy đủ
lượng nước theo y lệnh.
+ Giáo dục cho bệnh nhân biết được tầm quan trọng việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng
và thành phần của một số loại thức ăn giàu dinh dưỡng.
- Giúp bệnh nhân trong sự bài tiết: thải trừ qua mọi đường bài tiết.
- Giúp đỡ bệnh nhân về tư thế, vận động và tập luyện: hoạt động và duy trì tư thế đứng, nằm,
ngồi, đi lại, di chuyển tư thế,...
+ Nếu bệnh nhân có thể đi lại được, khuyến khích bệnh nhân nên vận động.
+ Nếu bệnh nhân không đi lại được, người điều dưỡng trực tiếp giúp bệnh nhân vận động, tập
luyện hoặc yêu cầu người nhà giúp.
- Đáp ứng nhu cầu ngủ và nghỉ ngơi:
+ Không nên thực hiện các can thiệp điều dưỡng khi bệnh nhân đang ngủ nếu không cần thiết.
+ Tránh tiếng ồn không cần thiết của môi trường, như tiếng nói chuyện quá lớn của các nhân
- Giúp bệnh nhân trong sự giao tiếp:
+ Một số tình trạng bệnh làm bệnh nhân không thể giao tiếp tốt như trước kia nên người điều
dưỡng phải cố gắng tỏ ra lắng nghe và khuyến khích bệnh nhân giao tiếp.
+ Tập nói cho các bệnh nhân có rối loạn về phát âm.
- Giúp bệnh nhân thoải mái về tinh thần, tự do tín ngưỡng: trong quá trình chăm sóc bệnh nhân,
người điều dưỡng không được áp đặt các tín ngưỡng, tôn giáo của mình cho bệnh nhân và phải hết
sức tôn trọng tự do tín ngưỡng của bệnh nhân.
- Giúp bệnh nhân lao động, làm một việc để tránh mặc cảm là người vô dụng. Người bệnh sẽ
cảm thấy mình là người vô dụng vì không thể làm được các công việc như trước kia, một số bệnh
nhân thậm chí không thể làm các công việc vệ sinh cá nhân, họ sẽ rất chán nản. Vì vậy, người điều
dưỡng phải giúp bệnh nhân tập luyện để bệnh nhân có thể tự phục vụ bản thân và thảo luận với
người nhà để có các biện pháp hỗ trợ.
- Giúp bệnh nhân trong các hoạt động vui chơi, giải trí: liệu pháp tâm lý đóng một vai trò hết sức
quan trọng trong quá trình điều trị nên người điều dưỡng khuyến khích và tạo điều kiện cho bệnh
nhân tham gia vào các hoạt động vui chơi giải trí như nghe nhạc, xem ti vi, đi dạo,...
- Giúp bệnh nhân có kiến thức về y học: người điều dưỡng phải giáo dục cho bệnh nhân hiểu về
tình trạng bệnh của mình cũng như những kiến thức liên quan đến bệnh tật để bệnh nhân có thể phát
hiện sớm bệnh tật và hợp tác tốt trong việc điều trị.
Nhu cầu cơ bản của bệnh nhân và các nguyên tắc cơ bản của việc chăm sóc là cơ bản giống
nhau, nhưng không bao giờ có hai bệnh nhân có nhu cầu hoàn toàn giống nhau cả. Do đó, kế hoạch
chăm sóc được xây dựng riêng biệt tuỳ theo tuổi tác, giới tính, cá tính, hoàn cảnh văn hoá xã hội và
khả năng thể chất và tinh thần của người bệnh. Kế hoạch này còn bị ảnh hưởng bởi tình trạng bệnh lý
mà người bệnh đang mắc phải.
LƯỢNG GIÁ
1. Kể một số nhu cầu về con người:
A. Nhu cầu về sinh lý.
B. Nhu cầu về sự an toàn.
C. Nhu cầu về tình cảm và sự tự trọng.
D. .................................................................................................................................
MỤC TIÊU
1. Nêu được mục đích, nguyên tắc của việc ghi chép hồ sơ.
2. Trình bày được cách ghi chép và bảo quản hồ sơ bệnh nhân.
Hồ sơ bệnh nhân là các giấy tờ có liên quan đến quá trình điều trị của người bệnh tại một cơ sở y
tế trong một thời gian, mỗi loại có nội dung và tầm quan trọng riêng của nó. Hồ sơ được ghi chép
đầy đủ, chính xác, có hệ thống sẽ giúp cho công tác chẩn đoán, điều trị, phòng bệnh, nghiên cứu
khoa học và đào tạo đạt kết quả cao, nó cũng giúp cho việc đánh giá chất lượng về điều trị, tinh thần
trách nhiệm và khả năng của cán bộ. Vì vậy mỗi cán bộ y tế cần phải hiểu và thực hiện tốt việc sử
dụng và ghi chép hồ sơ.
1. MỤC ĐÍCH VÀ NGUYÊN TẮC CHUNG
1.1. Mục đích
- Phục vụ chẩn đoán: xác định, nguyên nhân, phân biệt.
- Theo dõi diễn biến của bệnh nhân và dự đoán các biến chứng.
- Theo dõi quá trình điều trị được liên tục nhằm rút kinh nghiệm bổ sung điều chỉnh về phương
pháp điều trị và phòng bệnh.
- Giúp việc thống kê, nghiên cứu khoa học và công tác huấn luyện.
- Đánh giá chất lượng điều trị, tinh thần trách nhiệm, khả năng của cán bộ.
- Theo dõi về hành chính và pháp lý.
1.2. Nguyên tắc chung
Tất cả hồ sơ cần ghi rõ ràng, chữ viết dễ đọc, dễ xem. Mỗi bệnh viện có thể có những quy định
riêng nhưng đều phải tuân theo những nguyên tắc chung:
1.2.1. Nguyên tắc sử dụng và ghi chép hồ sơ
- Tất cả các tiêu đề trong hồ sơ bệnh nhân phải được ghi chép chính xác, hoàn chỉnh (họ tên bệnh
nhân, địa chỉ, khoa điều trị,...).
- Chỉ ghi vào hồ sơ những công việc điều trị chăm sóc thuốc men do chính mình thực hiện. Chỉ
sao chép những chỉ định dùng thuốc và điều trị của bác sĩ khi đã được ghi vào hồ sơ bệnh nhân.
- Tất cả các thông số theo dõi phải được ghi vào phiếu theo dõi bệnh nhân hằng ngày, mô tả tình
file://C:\Windows\Temp\ffpvjdbupf\dieu_duong_co_ban.htm