Vận dụng các phạm trù liên hệ và liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật vào phân tích quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của việt nam - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

Tiểu luận Triết Học

Vận dụng các phạm trù ‘liên hệ’ và ‘liên hệ phổ biến’ của
phép biện chứng duy vật vào phân tích quá trình toàn cầu
hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam .
Nhóm 24
Lớp đêm 2-4-6
Khóa 24 thực hiện
Nhóm trưởng :Nguyễn Hoàng Phương
Giảng viên phụ trách: TS. Bùi Văn Mưa

TP.Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2014


MỤC LỤC


3

LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế toàn cầu hoá quốc tế hoá hiện nay, các quốc gia trên thế giới ở mức
độ này hay mức độ khác đều tuỳ thuộc lẫn nhau, có quan hệ qua lại với nhau. Vì
thế nước nào đóng cửa với thế giới là đi ngược lại xu thế của thời đại và khó
tránh khỏi bị rơi vào lạc hậu, trái lại mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế tuy có phải
trả giá nhất định song đó là yêu cầu tất yếu hướng tới sự phát triển của mỗi nước,
mỗi quốc gia. Đứng trước yêu cầu ngày càng cấp bách đó, Đại hội Đảng IX đã
đưa ra văn kiện về vấn đề xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh
tế quốc tế.Trong bối cảnh toàn cầu hóa ồ ạt như hiện nay đặt vấn đề chủ động hội

Giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới vừa tồn tại những mối liên hệ đặc thù,
vừa tồn tại những mối liên hệ phổ biến trong phạm vi nhất định hoặc mối liên hệ
phổ biến nhất, trong đó mối liên hệ đặc thù là sự thể hiện những mối liên hệ phổ
biến trong những điều kiện nhất định.
2.Tính chất của các mối liên hệ
a) Tính khách quan của các mối liên hệ

Theo quan điểm biện chứng duy vật, các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng
của thế giới là có tính khách quan. Sự quy định lẫn nhau, tác động và chuyển hóa
lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng hoặc trong bản thân chúng là cái vốn có của


5

nó, tồn tại không phụ thuộc vào ý chí con người; con người chỉ có khả năng nhận
thức được những mối liên hệ đó.
Tính phổ biến của mối liên hệ Phép biện chứng duy vật khẳng định: Không có
bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình nào tồn tại một cách riêng lẻ, cô lập tuyệt
đối với các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác mà trái lại chúng tồn tại trong
sự liên hệ, ràng buộc, phụ thuộc, tác động, chuyển hóa lẫn nhau. Không có bất cứ
sự vật, hiện tượng nào không phải là một cấu trúc hệ thống, bao gồm các yếu tố
cấu thành với những mối liên hệ bên trong của nó, tức là bất cứ một tồn tại nào
cũng là một hệ thống mở tồn tại trong mối liên hệ với hệ thống khác, tương tác
và làm biến đổi lẫn nhau.
Ph.Ăngghen chỉ rõ, tất cả thế giới tự nhiên mà chúng ta có thể nghiên cứu được
là một hệ thống, một tập hợp các vật thể khăng khít với nhau....
Việc các vật thể ấy đều có liên hệ qua lại với nhau đã có nghĩa là các vật thể này
tác động lẫn nhau, và sự tác động qua lại ấy chính là sự vận động”.
b) Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ


thiết phải xem xét tất cả các mặt sẽ đề phòng cho chúng ta khỏi phạm sai lầm và
sự cứng nhắc”(V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1976, t.42,
tr.384)
Đối lập với quan điểm biện chứng toàn diện thì quan điểm siêu hình xemxét sự
vật, hiện tượng một cách phiến diện. Nó không xem xét tất cả các mặt, các mối
liên hệ của sự vật, hiện tượng; hoặc xem mặt này tách rời mặt kia, sự vật này tách
rời sự vật khác.
Quan điểm toàn diện cũng khác với chủ nghĩa chiết trung và thuật nguỵ biện.Chủ
nghĩa chiết trung thì kết hợp các mặt một cách vô nguyên tắc, kết hợp những mặt
vốn không có mối liên hệ với nhau hoặc không thể dung hợp được với
nhau.Thuật nguỵ biện cường điệu một mặt, một mối liên hệ; hoặc lấy mặt thứ


7

yếu làm mặt chủ yếu.Từ tính chất đa dạng, phong phú của các mối liên hệ cho
thấy trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần phải kết hợp quan điểm toàn
diện với quan điểm lịch sử - cụ thể.
Quan điểm lịch sử - cụ thể yêu cầu việc nhận thức các tình huống trong hoạt
động thực tiễn cần xét đến tính chất đặc thù của đối tượng nhận thức và tác động;
xác định rõ vị trí vai trò khác nhau của mối liên hệ cụ thể trong những tình huống
cụ thể để đưa ra các biện pháp đúng đắn phù hợp với đặc điểm cụ thể của đối
tượng cần tác động nhằm tránh quan điểm phiến diện, siêu hình, máy móc.
PHẦN 2: VẬN DỤNG CẶP PHẠM TRÙ LIÊN HỆ VÀ LIÊN HỆ PHỔ
BIẾN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VÀO PHÂN TÍCH QUÁ
TRÌNH TOÀN CẦU HÓA VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Tại sao phải vận dụng phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến vào phân
tích quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Sau khi nghiên cứu kỹ phép biện chứng duy vật về mối liên hệ phổ biên ta dễ
ràng nhận ra rằng sự vật hiện tượng luôn có mối liên hệ mật thiết với nhau

những vấn đề đó chỉ có thể giải đáp khi chúng ta hiểu rõ hơn về vấn đề chúng ta
đang nghiên cứu dựa trên nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.Từ đó ta có thể thấy
rõ hơn tâm quan trọng của phép biện chứng mối liên hệ phổ biến.
I.

Toàn cầu hóa
1. Khái niệmtoàn cầu hóa

Trong hơn một thập kỷ trở lại đây xu thế toàn cầu hoá gia tăng ngày càng mạnh
mẽ.Vàcùng với điều đó là những cách lý giải và thái độ không giống nhauđối với
xu thế này.Có quan điểm cho rằng toàn cầu hoá chỉ mới xuất hiện gần đây.Toàn
cầu hoá được hiểu làchính sách của Mĩ nhằm bành trướng quyền lực,thống trị
thế giới theo kiểu Mĩ,thưc chất toàn cầu hoá là Mĩ hoá.Quan niệm này đã đẩy tới
thái độ phải chống lại quá trình này nhằm đảm bảo cho sự phát triển độc lập,đa
dạng của các quốc gia.
Loại quan điểm thứ hai là quan điểm thừa nhận tính tất yếu khách quan của quốc
tếhoá,toàn cầu hoá.Nhưng trong quan điểm này cũng có nhiều ý kiến khác
nhau:Có ngườicho rằngtoàn cầu hoá xét về bản chất là quá trình tăng lên mạnh
mẽ những mối liên hệsự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau phụ thuộc lẫn nhau của tất
cả các khu vực, các quốcgia các dân tộc trên toàn thế giới ;có người lại cho rằng :


9

“Toàn cầu hoá là giai đoạn cao của quá trình phát triển của lực lượng sản xuất
trên thế giới,là kết quả tất yếu của phát triển kinh tế thị trường và khoa học công
nghệ”
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về toàn cầu hoá nhưng điểm quan trọng
mà tanhận thấy là toàn cầu hoá không chỉ là quá trình phản ánh sự gia tăng của
các mối quanhệ phụ thuộc lẫn nhau mà nét quan trọng hơn là phản ánh qui mô


định

về

Hàng

Dệt

may

(ATC),

Hiệp

định

về

Chống bán Phá giá...Trong khuôn khổ khu vực và quốc gia, nước ta đã tiên hành
đàm phán, ký kết nhiều hiệp định để thỏa thuận cách xử sự chung, hợp lý, có lợi
cho các bên trong hoạt động kinh tế.
Trong lĩnh vực an ninh quốc gia, trật tự xã hội, toàn cầu hóa làm cho các quốc
gia xích lại gần nhau hơn, sự giao lưu, trao đổi giữa các quốc gia trở nên dễ dàng
hơn, do vậy nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia cùng tăng cao. Để hạn chế bớt tác
động tiêu cực này của toàn cầu hóa, nước ta đã có nhũng biện pháp thiết thực, rõ
ràng trong công tác phòng chống tội phạm. Đồng thời với việc tăng cường an
ninh quốc gia, nước ta cũng đã và đang tích cực hợp tác với các nước khác trong
công tác phòng chống tội phạm quốc tế.
3. Mặt trái của toàn cầu hóa

nhận và trở thành những giá trị gần như chung của các xã hội khác nhau. Nhiều
giá trị riêng của dân tộc bị xói mòn và mất dần ảnh hưởng. Do vậy, cùng với quá
trình toàn cầu hóa và hội nhập, cũng đồng thời diễn ra quá trình các nước bị mất
dần phong tục tập quán, làm xói mòn dần bản sắc văn hóa dân tộc. Những giá trị
chung của con người với khuynh hướng đồng nhất ở góc độ nào đó hay có thể lai
tạp nhiều giá trị của các nền văn hóa khác nhau đã và đang diễn ra ngày càng
rõ…
II. Hội nhập kinh tế quốc tế
1. Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế

Hội nhập kính tế quốc tế là việc các nước đi tìm kiếm một số điều kiện nào đó
mà họ có thể thống nhất được với nhau, kể cả dành cho nhau nhưng ưu đãi, tạo ra
nhưng điều kiện công bằng, có đi có lại trong quan hợp tác với nhau... nhằm
khai thác các khả năng lẫn nhau phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế của mình.
 Các nguyên tắc cơ bản :

Công bằng: các nước dành cho nhau quy chế ưu đãi cao nhất của mình và chung
cho mọi nước (nghĩa là mọi hàng hoá và dịch vụ của các công ty các nước đối tác
đều được hưởng một chính sách ưu đãi chung); đồng thời không phân biệt chính
sách thương mại giữa các công ty: mọi chế độ chính sách liên quan đến thương
mại và đầu tư trong mỗi nước đều phải bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong và
ngoài nước, giữa hàng nhập khẩu và hàng sản xuất nội địa.


12

Tự do hoá thương mại: các nước chỉ được sử dụng thuế làm công cụ bảo hộ cho
nền sản xuất của mình, các biện pháp phi thuế quan như giấy phép, quota, hạn
ngạch xuất nhập khâu... đều không được sử dụng, các biểu thuế này đều phải có
lộ trình rõ rang công khai về việc giảm dần đến tự do hoá hoàn toàn (thuế suất

3,2%) ; đó xảy ra mấy cuộc khủng hoảng lớn, sâu rộng hơn cả là cuộc khủng
hoảng kinh tế - tài chính nổ ra năm 2008 ; vị trí các nước và các khu vực thay đổi
theo hướng : kinh tế Mỹ phát triển nhanh và ổn định liên tục trong nhiều năm và
đến 2008 bắt đầu suy giảm ; kinh tế Tây Âu hiện không cũng phát triển nhanh
như các thập kỷ trước ; kinh tế Nhật suy thoái chưa có lối ra ; các nước thuộc
Liên Xô trước đây và Đông Âu rơi vào tình trạng suy thoái trầm trọng và kéo
dài ; vài năm gần đây đó tăng trưởng tương đối khá ; trong khi đó kinh tế Trung
Quốc phát triển "ngoạn mục" ; Đông Á và Đông - Nam Á phát triển nhanh vào
bậc nhất thế giới trong những thập kỷ trước, vừa qua đó rơi vào suy thoái và nay
đang hồi phục ; Nam Á và nhất là châu Phi vẫn chưa thoát khỏi tình trạng trì trệ
kéo dài ; kinh tế Mỹ La-tinh có khá hơn song cũng không ổn định. "Cách mạng
khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển với tốc độ ngày càng cao, tăng nhanh
lực lượng sản xuất, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế
giới, quốc tế hóa nền kinh tế và đời sống xã hội". Dưới tác động của những chiều
hướng đó, kinh tế thế giới trải qua những biến đổi về chất, các ngành công nghệ
cao, đặc biệt là những lĩnh vực có hàm lượng chất xám cao, nhất là công nghệ
thông tin và sinh học phát triển nhanh chóng làm thay đổi sâu sắc cơ cấu sản
xuất, tiêu dùng, trao đổi... cũng như phương thức làm ăn và cả sinh hoạt, giao
lưu.
Bên cạnh sự ra đời của WTO, xuất hiện rất nhiều tổ chức tiểu vùng, khu vực, liên
khu vực như các tam, tứ giác phát triển, các khu vực mậu dịch tự do (AFTA,
NAFTA), những tổ chức liên kết toàn châu lục (EU) hoặc giữa cỏc chõu lục
(APEC). Các nước lớn, nhỏ đều dành ưu tiên cho phát triển kinh tế, theo đuổi
chính sách kinh tế mở. Ngay những nước có tiềm năng và thị trường rộng lớn
như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Mỹ... và cả một số nước vốn "khép kín", theo mô
hỡnh tự cung tự cấp cũng dần dần mở cửa, từng bước hội nhập vào nền kinh tế
khu vực và thế giới. Mặt khác, cộng đồng thế giới đứng trước nhiều vấn đề toàn
cầu : suy thoái môi trường, bùng nổ dân số, nghèo đói, các bệnh tật hiểm nghèo,



qua các dự án liên doanh hợp tác với nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam đó
tiếp nhận được nhiều kinh nghiệm quản lý tiờn tiến. Từng bước đưa hoạt động


15

của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế vào môi trường cạnh tranh, thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Trong quỏ
trỡnh hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng kinh tế đối ngoại, nhiều doanh nghiệp đó
nỗ lực đổi mới công nghệ, đổi mới quản lý, nâng cao năng suất và chất lượng,
không ngừng vươn lên trong cạnh tranh để tồn tại và phát triển ; khả năng cạnh
tranh của nhiều doanh nghiệp đó được nâng lên ; đó cú hàng trăm doanh nghiệp
đạt tiêu chuẩn ISO-9000. Một tư duy mới, một nếp làm ăn mới, lấy hiệu quả sản
xuất và kinh doanh làm thước đo, một đội ngũ các nhà doanh nghiệp mới năng
động, sáng tạo có kiến thức quản lý đang hỡnh thành.
4.Những mặt yếu kém và tồn tại khi Việt Nam tham gia vào quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế
Tuy nhiờn, qua quỏ trỡnh hội nhập kinh tế quốc tế, chỳng ta cũng bộc lộ nhiều
mặt yếu kộm .Chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế đó được khẳng định trong
nhiều nghị quyết của Đảng và văn kiện của Nhà nước và trên thực tế đó được
thực hiện từng bước, nhưng nhận thức về nội dung, bước đi, lộ trỡnh hội nhập
cũn giản đơn ; các ngành, các cấp và khá đông cán bộ chưa nhận thức đầy đủ
những thách thức và cơ hội để từ đó có kế hoạch chủ động vươn lên vượt qua
thách thức, nắm bắt thời cơ để phát triển ; không ít chủ trương, cơ chế, chính
sách chậm được đổi mới cho phù hợp với yêu cầu hội nhập. 19
III. Giải pháp

Trước mắt, trên cơ sở nhận thức sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân về yêu cầu
hội nhập kinh tế quốc tế, về các cơ hội và thách thức, cần tập trung vào các nhóm
giải pháp cơ bản sau:

trợ các doanh nghiệp xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu, xúc tiến thương mại,
nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm.
Thứ năm là, tiến hành cải cách hành chính, tăng cường phân cấp, nâng cao trách
nhiệm quản lý, chỉ đạo của các cơ quan quản lý nhà nước. Nâng cao cả chất
lượng, hiệu quả thực thi các văn bản pháp quy. Tăng cường chế tài và áp dụng xử
phạt hành chính đối với các trường hợp vi phạm. Chú trọng hơn công tác kiểm
tra, giám sát quá trình thực hiện chính sách.


17

Thứ sáu là, chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực. Phát triển mạnh hệ thống đào tạo nghề và phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao phù hợp với nhu cầu thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho việc
chuyển dịch lao động theo cung cầu của thị trường lao động; đẩy mạnh xuất khẩu
lao động, khuyến khích người lao động tự kiếm việc làm, tạo cơ hội bình đẳng về
đào tạo và lựa chọn việc làm cho người lao động.
Thứ bảy là, gắn hội nhập kinh tế quốc tế với củng cố an ninh quốc phòng. Phát
huy tinh thần chủ động, nỗ lực của các cấp, các ngành để khắc phục những tiêu
cực của cơ chế thị trường, đấu tranh có hiệu quả với âm mưu phá hoại của các
thế lực thù địch. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm
quốc phòng an ninh.
KẾT LUẬN
Dựa trên phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến , chúng ta đã có một cái nhìn
rõ hơn , sâu hơn , xa hơn , rộng hơn về mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc
lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế , từ đó rút ra được tầm quan trọng của xây
dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế .
Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trên cơ sở phát huy cao đội các nguồn nội
lực là quyết định , đồng thời thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên
ngoài , kết hợp nội lực với ngoại lực thành sức mạnh tổng hợp là một nội dung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status