CHUYÊN ĐỀ ÔN THI ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG NĂM HỌC : 2013 - 2014
Tên chuyên đề : TỔNG HỢP MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỦA LỊCH SƯ
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 - 1945
Đối tượng học sinh bồi dưỡng: Học sinh lớp 12
Số tiết bồi dưỡng
: 6 tiết
Người viết
: Bùi Thu Hương
Chức vụ
: Tổ phó tổ Văn - Sử - GDCD
Đơn vị công tác
: Trường THPT Bình Xuyên
A. MỤC TIỂU
- Trên cơ sở kiến thức HS đã học giai đoạn 1930 - 1945 chương trình Lịch sử lớp
12, chuyên đề này nhằm giúp HS hệ thống và củng cố kiến thức, nắm vững kiến thức cơ
bản và đánh giá được một số vấn đề lịch sử của giai đoạn 1930 -1945.
- Đáp ứng yêu cầu của HS lớp 12 dự thi HS giỏi và thi tuyển sinh vào các trường Đại
học, cao đẳng.
- HS được rèn luyện kĩ năng bộ môn, kĩ năng phân tích, tổng hợp, so sánh và đánh
giá sự kiện lịch sử; kĩ năng trả lời câu hỏi, phân tích đề thi và làm bài thi tự luận.
- Giáo dục cho HS lòng yêu nước, tự hào dân tộc; tin tưởng vào sự lãnh đạo của
Đảng và kính yêu Chủ tịch Hồ Chí Minh.
B.KIẾN THỨC CƠ BẢN.
thức đấu tranh chủ yếu là vũ trang, bất hợp pháp; địa bàn chủ yếu là nông thôn. Đây là
cuộc diễn tập lần thứ nhất cho CM tháng Tám.
2.Thời kì CM 1932-1935.
-Bối cảnh:
+TD Pháp tiếp tục thi hành chính sách khủng bố và mị dân.
+CM bị tổn thất nặng nề.
- Chủ trương của Đảng:
Tháng 6/1932, Ban lãnh đạo TƯ thảo ra chương trình hành động với chủ trương đấu
tranh đòi các quyền tự do dân chủ, thả tù chính trị, bãi bỏ các thứ thuế vô lí, củng cố và
phát triển các đoàn thể CM của quần chúng.
- Đặc điểm:
2
Phong trào đấu tranh của quần chúng nhen nhóm trở lại, một số hình thức đấu tranh
mới xuất hiện.
3.Thời kì CM 1936 - 1939.
- Bối cảnh:
+Chủ nghĩa phát xít xuất hiện.
+Hội nghị Quốc tế Cộng sản (7/1935) chủ trương lập mặt trận nhân dân ở các nước
chống phát xít, chống chiến tranh, bảo vệ hoà bình.
+Mặt trận nhân dân Pháp lên cầm quyền đầu năm 1936 thi hành 1 số chính sách tích
cực ở thuộc địa.
+Đại hội đai biểu lần thứ nhất của ĐCS Đông Dương (3/1935), đánh dấu Đảng được
phục hồi và tiếp tục lãnh đạo CM.
- Chủ trương của Đảng:
Thể hiện trong Nghị quyết của hội nghị BCH TƯ ĐCS Đông Dương (7/1936), trong
đó xác định: Nhiệm vụ của CM là chống đế quốc, chóng phong kiến; nhiệm vụ trực tiếp,
trước mắt là đấu tranh chống phát xít, chống nguy cơ chiến tranh…phương pháp đấu
+ Ngày 19/5/1941 Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) ra đời.
6.Thời kì CM 9/3/1945 – 13/8/1945.
- Bối cảnh:
+ Ngày 9/3/1945 Nhật đảo chính Pháp độc chiếm Đông Dương.
+Tháng 5/1945 Đức đầu hàng đồng minh vô điều kiện, Nhật liên tiếp thất bại ở Thái
Bình Dương.
+Tình thế CM xuất hiện.
+Kẻ thù chính lúc này là phát xít Nhật.
- Chủ trương của Đảng:
+Đảng ra chỉ thị: “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (12/3/1945).
+Đảng phát động cao trào kháng Nhật cứu nước.
7.Thời kì CM 13/8/1945 - 2/9/1945.
- Bối cảnh:
+Liên Xô đánh bại đội quân Quan Đông của Nhật, tạo thời cơ thuận lợi cho CM Việt
Nam.
+ Ngày 13/8/1945 Nhật đầu hàng đồng minh không điều kiện, tay sai của Nhật ở
Đông Dương hoang mang dao động đén tột độ, quân đội đồng minh chưa kịp vào nước ta,
nhân dân ta đã chuẩn bị sẵn sàng.
4
+Thời cơ ngàn năm có một đã đến.
- Chủ trương của Đảng:
+Đảng triệu tập hội nghị toàn quốc (13 -15/8/1945) chủ trương tiến hành tổng khởi
nghĩa.
+Quốc dân đại hội họp ở Tân Trào (16,17/8/1945) thông qua lệnh tổng khởi nghĩa,
ra quân lệnh số 1.
+Thành lập Uỷ ban dân tộc giải phóng TƯ do Hồ Chí Minh làm chủ tịch.
II.Những điểm chung và nét khác nhau của các thời kì cách mạng từ năm 1930 đến
năm 1945.
+Ngày 3/2/1930 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lãnh đạo một phong trào CM rộng
lớn của quần chúng nhân dân.
+Tháng 10/1930, khi phong trào phát triển tới đỉnh cao, hội nghị BCH TƯ Đảng họp
và đề ra chủ trương thành lập Hội đồng minh phản đế Đông Dương.
+Tháng 11/1930 Hội đồng minh phản đế Đông Dương được thành lập nhằm đoàn
kết toàn dân, lấy công - nông làm 2 động lực chính.
- Vai trò:
Sau khi hội được thành lập cũng là lúc thực dân Pháp đàn áp dã man phong trào CM
1930 - 1931, do đó hội chưa có hoạt động gì thực tiễn trong CM Việt Nam. Tuy nhiên hội
đồng minh phản đế Đông Dương chính là cơ sở dể Đảng ta thành lập các hình thức Mặt
trận dân tộc thống nhất sau này.
2.Thời kì 1936 -1939: Mặt trận nhân dân phản đế Đông Dương.
- Hoàn cảnh ra đời:
+Thế giới: Sau khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933 , Chủ nghĩa phát xít ra đời
đe doạ hoà bình thế giới. Trong bối cảnh đó Quốc tế Cộng sản họp đại hội lần thứ 7
(7/1935) kêu gọi các nước thành lập Mặt trận nhân dân chống phát xít.
Năm 1936, Mặt trận nhân dân lên cầm quyền ở Pháp.
+Trong nước: Đời sống các tầng lớp nhân dân khổ cực. Căn cứ vào tình hình đó
Đảng xác định kẻ thù và mục tiêu đấu tranh đồng thời đề ra hình thức tập hợp lực lượng
với chủ trương thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương, đến năm
1938 đổi tên thành Mặt trận Thống nhất dân chủ Đông Dương, gọi tắt là Mặt trận dân chủ
Đông Dương.
- Vai trò:
6
+Tập hợp được đông đảo quần chúng đấu tranh, tham gia vào các phong trào do
Đảng phát động như Đông Dương đại hội, các cuộc mít tinh, biểu tình…
+Qua các phong trào này các tổ chức chính trị của quần chúng được thành lập như
Hội ái hữu, Hội tương tế…
phạm vi trong nước để tránh âm mưu chia rẽ của địch, đồng thời nhân dân các nước Đông
Dương cũng có nhiệm vụ giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh giành độc lập của mình.
Từ nhận định trên, hội nghị chủ trương thành lập một mặt trận đoàn kết dân tộc rộng
rãi lấy tên là: Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) thay cho Mặt trận Thống
nhất dân tộc phản đế Đông Dương nhằm đoàn kết, tập hợp lực lượng của mọi tầng lớp
nhân dân chống kẻ thù chính trước mắt của dân tộc là đế quốc, phát xít Pháp - Nhật,
chuẩn bị mọi điều kiện, chờ thời cơ đứng lên khởi nghĩa vũ trang.
- Vai trò:
+Tập hợp mọi lực lượng yêu nước để xây dựng khối đoàn kết dân tộc, xây dựng lực
lượng chính trị đông đảo cho CM.
+Mặt trận Việt Minh có vai trò to lớn trong việc chỉ đạo cao trào kháng Nhật cứu
nước, tổ chức những cuộc đấu tranh vũ trang khởi nghĩa từng phần ở các địa phương..Việt
Minh đã tập dượt cho quần chúng đấu tranh.
+Trên cơ sở phát triển các đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh, lực lượng vũ
trang CM hình thành và phát triển cùng với lực lượng quần chúng đông đảo, tạo nên sức
mạnh tổng hợp nổi dậy giành chính quyền.
+Trong những ngày Tổng khởi nghĩa, Tổng bộ Việt Minh đã đứng ra triệu tập Quốc
dân đại hội ở Tân Trào, kêu gọi, tổ chức huy động lực lượng của quần chúng tham gia
Tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
+Mặt trận Việt Minh là một sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, là một
điển hình trong công tác mặt trạn của Đảng.Việt Minh có vai trò to lớn trong việc chuẩn
bị và lãnh đạo Tổng khởi nghĩa tháng Tám thắng lợi.
* Kết luận:
- Mặt trận dân tộc thống nhất do Đảng ta sáng lập trên cơ sở liên minh công – nông
dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm thêm bạn bớt thù là một vấn đề sách lược của CM
nhưng nó có ý nghĩa chiến lược góp phần quyết định tới thắng lợi của CM tháng Tám.
- Thắng lợi của các thời kì 1930 - 1931, 1936 - 1939, 1939 – 1945 gắn liền với thắng
lợi của các mặt trận dân tộc thống nhất. Đặc biệt là thành công của CM tháng Tám gắn
liền với Mặt trận Việt Minh.
8
- Tháng 4/1945, Đảng triệu tập Hội nghị quân sự Bắc kì, Hội nghị quyết định thành
lập Việt Nam giải phóng quân trên cơ sở hợp nhất đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng
9
quân và Cứu quốc quân. Đây là lực lượng vũ trang trực tiếp tiến hành tổng khởi nghĩa
trong CM tháng 8/1945 và góp phần đưa đến thắng lợi của tổng khởi nghĩa.
2.Chuẩn bị về lãnh đạo đấu tranh của Đảng.
- Ngay sau khi ra đời Đảng đã giương cao ngọn cờ tập hợp và lãnh đạo quần chúng
đấu tranh. Sau khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất bại, Đảng ta là Đảng duy nhất lãnh đạo
cuộc đấu tranh CM ở Việt Nam. Trong khi thực dân Pháp đàn áp ác liệt cuộc khởi nghĩa
Yên Bái, Đảng không lùi bước mà vẫn phát động và lãnh đạo phong trào CM rộng lớn
( Phong trào CM 1930 - 1931).
- Sau phong trào CM 1930 - 1931, BCH TƯ Đảng, Xứ uỷ Bắc kì, Trung kì, Nam kì
và nhiều ttoor chức cơ sở Đảng bị tan vỡ nhưng Đảng vẫn kiên cường đấu tranh để khôi
phục phong trào.
- Đến phong trào Dân chủ 1936 - 1939, Đảng đã lãnh đạo phong trào đấu tranh công
khai với nhiều hình thức đấu tranh phong phú, sáng tạo thu được nhiều thắng lợi.
- Khi cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ, tình hình thế giới và trong nước có
nhiều thay đổi, Đảng đã triệu tập Hội nghị TƯ 6 (11/1939) và đề ra chủ trương mới,
giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, chuyển phương pháp đấu tranh, chủ trương thành
lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương.
Sự chuyển hướng về chỉ đạo chiến lươc CM của Đảng theer hiện sự nhạy bén về
chính trị và năng lực lãnh đạo của Đảng.
- Ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo CM, sau đó một thời
gian Người triệu tập và chủ trì Hội nghị TƯ 8 (Tháng 5/1941). Hội nghị xác định: Nhiệm
vụ chủ yếu trước mắt của CM là giải phóng dân tộc và chủ trương thành lập Việt Nam
độc lập đồng minh (Việt Minh) đồng thời xác định hình thái khởi nghĩa ở nước ta là đi từ
khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa.
Như vậy một lần nữa Đảng nhấn mạnh và giương cao hơn mữa ngọn cờ giải phóng
chỉ đạo chiến lược cách mạng đề ra tại Hội nghị TW 6 (tháng 11/1939).
- Xây dựng lực lượng cách mạng:
Nhận thức rõ tầm quan trọng của lực lượng cách mạng, để đưa cách mạng tháng
Tám tới thành công, cách mạng phải có lực lượng để thực hiện đường lối. Vì vậy, sau Hội
nghị TW 8, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiến hành việc chuẩn bị lực lượng cho cách mạng, bao
gồm lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang.
11
+ Chuẩn bị lực lượng chính trị cho cách mạng: Ngày 19/5/1941, Người sáng lập ra
Mặt trận Việt Minh nhằm đoàn kết rộng rãi các tầng lớp, giai cấp; xây dựng khối đoàn kết
toàn dân; thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc.
+ Chuẩn bị lực lượng vũ trang: Sau khi về nước (28/1/1941), Người quyết định
thành lập đội tự vệ Cao Bằng để bảo vệ căn cứ và làm nhiệm vụ huấn luyện chính trị, vũ
trang cho các đội tự vệ địa phương. Thực hiện Chỉ thị của Người, ngày 22/12/1944, Đội
Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân chính thức thành lập. Người khẳng định: “Đây là
đội quân đàn anh của cả nước, do đó, phải đi khắp Bắc, Trung, Nam vừa tuyên truyền,
vừa đánh địch, vừa giúp các địa phương phát triển lực lượng vũ trang”.
+ Xây dựng căn cứ địa cách mạng: Tháng 6/1945, khu giải phóng Việt Bắc rộng lớn
được thành lập do Người đứng đầu. Đây là căn cứ địa cách mạng lớn nhất của cả nước, là
hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam mới.
- Người là linh hồn của cách mạng tháng Tám: Sáng suốt dự đoán thời cơ cách
mạng, có những nhận định đúng đắn và lãnh đạo Tổng khởi nghĩa.
+ Ngày 14/8/1945, phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh vô điều kiện. Khi Nhật đầu
hàng, Người khẳng định trong Hội nghị toàn quốc của Đảng cộng sản Đông Dương (từ
ngày 14/8 đến ngày 15/8/1945) tại Tân Trào (Tuyên Quang): “Thời cơ ngàn năm có một
đã đến”. Trên cơ sở nhận định tình hình, Người cùng Đảng đã quyết định tiến hành Tổng
khởi nghĩa và thành lập Ủy ban khởi nghĩa.
+ Người cùng Tổng bộ Việt Minh triệu tập Đại hội Quốc dân ở Tân Trào (từ ngày