SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC
TRƯỜNG THPT ĐỘI CẤN
CHUYÊN ĐỀ ÔN THI ĐẠI HỌC – CAO ĐẲNG
MÔN NGỮ VĂN
TÊN CHUYÊN ĐỀ:
ÔN LUYỆN CÁC TÁC PHẨM VĂN XUÔI LÃNG MẠN “HAI ĐỨA TRẺ”
(THẠCH LAM) VÀ “CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ” (NGUYỄN TUÂN)
Tác giả: Hoàng Thị Minh Thùy
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THPT Đội Cấn
Đối tượng bồi dưỡng: Học sinh lớp 11
Dự kiến số tiết: 12
Vĩnh Tường, tháng 03, năm 2014
1
A. MỤC TIÊU CHUYÊN ĐỀ
1. Về kiến thức.
- Chuyên đề ôn luyện các tác phẩm văn xuôi lãng mạn trước năm 1945 giúp học
sinh ôn tập, củng cố, hệ thống hóa các kiến thức cơ bản về xu hướng văn học, tác
giả văn học, các phương diện thuộc giá trị nội dung và nghệ thuật của hai tác phẩm
Hai đứa trẻ (Thạch Lam) và Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân).
- Chuyên đề còn cung cấp cho học sinh cách phân loại đề và cách giải đề ở hai tác
phẩm Hai đứa trẻ và Chữ người tử tù.
2. Về kĩ năng.
- Rèn luyện cho học sinh kĩ năng nhận biết các dạng đề và cách giải đề.
- Rèn luyện kĩ năng phân tích đề và lập dàn ý với kiểu bài nghị luận văn học.
phóng đại, khoa trương, sử dụng ngôn ngữ tân kì, giàu sức biểu hiện cảm xúc.
2. Thạch Lam và Hai đứa trẻ
2.1. Tác giả Thạch Lam
- Thạch Lam (1910-1942), tên khai sinh là Nguyễn Tường Vinh, là thành viên của
Tự lực văn đoàn. Ông sinh tại Hà Nội, nhưng nhiều năm tháng tuổi thơ sống ở
huyện Cẩm Giàng, Hải Dương. Ông là con người đôn hậu và rất đỗi tinh tế.
- Những tác phẩm chính: các tập truyện ngắn Gió đầu mùa (1937), Nắng trong
vườn (1938), Sợi tóc (1942); tiểu thuyết Ngày mới (1939); tập tiểu luận Theo dòng
(1941); tùy bút Hà Nội băm sáu phố phường (1943).
- Tuy là cây bút trong Tự lực văn đoàn nhưng suốt cuộc đời cầm bút của mình
Thạch Lam đã lặng lẽ đi theo một lối riêng. Sáng tác của ông thể hiện niềm cảm
thông chân thành với những kiếp người nghèo khổ. Thạch Lam thường quan tâm
đến những con người nhỏ bé bất hạnh, sống nghèo khổ, lay lắt ở những nơi như
phố huyện nghèo hay ở những vùng nông thôn hẻo lánh với tấm lòng đồng cảm, sẻ
chia và tình yêu thương sâu sắc.
- Truyện của Thạch Lam thường không có cốt truyện đặc biệt. Nhà văn chú trọng
khai thác chất thơ của đời sống bình dị thường nhật, những rung động rung cảm
tinh vi trong lòng người. Truyện của Thạch Lam ít sự kiện mà đầy ắp những rung
động, mỗi truyện giống như một bài thơ trữ tình đượm buồn. Ngôn ngữ văn
chương Thạch Lam tinh tế “dịu dàng như những lời thủ thỉ và ngọt ngào như
hương sắc hoàng lan”.
- Vị trí văn học sử: Cây bút viết truyện ngắn tiêu biểu, xuất sắc của văn xuôi lãng
mạn Việt Nam trước 1945.
2.2. Tác phẩm Hai đứa trẻ
- Xuất xứ: Hai đứa trẻ được in trong tập truyện ngắn Nắng trong vườn (1938). Tác
phẩm gắn với kỉ niệm của nhà văn thủa thiếu thời. Trước đây, gia đình Thạch Lam
sống ở Hà Nội, sau đó gia cảnh sa sút, cha bị mất việc nên gia đình chuyển về quê
ngoại ở vùng đất Cẩm Giàng - Hải Dương. Mẹ Thạch Lam làm hàng sáo, giao cho hai
chị em trông coi một cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu gần ga xép nhỏ. Những kí ức thủa thơ
bé cùng những rung cảm sâu sắc về những kiếp người quẩn quanh, nghèo khó nơi phố
- Ông là người có phong cách nghệ thuật độc đáo: rất mực tài hoa uyên bác, luôn
quan sát sự vật hiện tượng ở góc độ thẩm mĩ và miêu tả con người ở phương diện
tài hoa nghệ sĩ. Nhà văn là người có cảm quan nghệ thuật sắc nhọn, kho chữ nghĩa
giàu có, sở trường ở thể loại tùy bút.
- Vị trí: một trong những tác gia lớn trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam.
3.2. Tác phẩm Chữ người tử tù
- Xuất xứ: Tác phẩm được rút ra từ tập truyện ngắn Vang bóng một thời - tập
truyện đi vào thể hiện vẻ đẹp của một thời đã qua nay chỉ còn vang bóng, thể hiện
sự nối tiếc vẻ đẹp của một thời quá vãng và bộc lộ niềm tự hào về truyền thống văn
hóa lâu đời của dân tộc.
- Nội dung:
+ Tác phẩm đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật Huấn Cao mang vẻ đẹp lí
tưởng từ tài năng, khí phách đến thiên lương. Đó là một trong những người anh hùng
đặc biệt dũng liệt, dù chí lớn không thành nhưng tư thế vẫn hiên ngang bất khuất.
+ Qua nhân vật, Nguyễn Tuân đã bày tỏ quan niệm về cái đẹp: cái đẹp phải gắn
liền với cái thiện, cài tài phải đi đôi với cái tâm. Đồng thời Nguyễn Tuân cũng
khẳng định sức mạnh kì diệu và sự bất tử của cái đẹp trong đời. Qua những trang
văn của Chữ người tử tù, nhà văn đã bộc lộ lòng yêu nước thầm kín.
- Nghệ thuật:
+ Tác phẩm đã dựng được tình huống truyện độc đáo, đặc sắc.
4
+ Tác giả đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật theo hướng lí tưởng hóa.
Dựa trên khuôn mẫu có thực ngoài đời, sử dụng bút pháp quen thuộc vẽ mây nảy
trăng, nhà văn đã thể hiện hình tượng Huấn Cao tài hoa, khí phách và thiên lương.
+ Tác phẩm tận dụng triệt để thủ pháp tương phản đối lập, tạo không khí cổ xưa, ngôn
ngữ giàu tính tạo hình.
II. PHÂN LOẠI ĐỀ VÀ CÁCH GIẢI ĐỀ
STT
3
- Tìm điểm tương đồng và khác biệt giữa các đối
tượng.
Bình luận văn học - - Giải thích các ý kiến được đề đưa ra bình luận.
5,0đ
- Cảm nhận tác phẩm/nhân vật theo ý kiến đúng.
- Bày tỏ quan điểm của bản thân: khẳng định ý
4
kiến đúng, bác bỏ ý kiến sai và lí giải nguyên
nhân dựa trên đặc điểm thời đại, phong cách
nghệ thuật của tác giả...
III. CÁC DẠNG ĐỀ ÔN TẬP VÀ HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI
Dạng 1: Tái hiện các chi tiết nghệ thuật của tác phẩm và nêu ý nghĩa (2,0đ)
Câu 1: Trong truyện ngắn Hai đứa trẻ, giữa bóng tối mênh mông bao trùm
phố huyện, Thạch Lam đã đặc biệt quan tâm tới hai loại ánh sáng nào? Ý
nghĩa của hai loại ánh sáng đó?
Hướng dẫn trả lời:
5
- Trong truyện ngắn Hai đứa trẻ, giữa bóng tối mênh mông thống trị phố huyện
nghèo, Thạch Lam có ý thức ghi lại các loại ánh sáng, đặc biệt là ánh sáng từ chiếc
đèn con của chị Tí và ánh sáng từ đoàn tàu.
+ Trong tác phẩm ánh sáng từ ngọn đèn con của chị Tí được tác giả nhắc đi nhắc
lại tới 7 lần, đó là “quầng sáng thân mật”, chỉ đủ sức chiếu sáng một vùng đất cát.
Ánh sáng ấy trở thành một ám ảnh tâm lí đi vào cả giấc ngủ của Liên.
+ Đối lập với nguồn sáng nhỏ bé yếu ớt từ ngọn đèn con của chị Tí là ánh sáng từ
chuyến tàu đêm vụt qua phố huyện. Trong phút chốc, đoàn tàu đến từ Hà Nội đã đem
theo một nguồn sáng rực rỡ với “các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống
cuộc sống mới tươi đẹp hơn, có ý nghĩa hơn.
+ Chiêm ngưỡng đoàn tàu, Liên không chỉ được thỏa mãn về thị giác mà còn được
thỏa mãn về tư tưởng, được sống trọn vẹn về giấc mơ tuổi ấu thơ, giấc mơ về Hà
Nội. Chờ đợi tàu là nhu cầu bức thiết minh chứng cho việc Liên không thỏa hiệp
với cuộc sống thực tại, không cam chịu cuộc sống trong bóng tối với những cái
6
quẩn quanh vô nghĩa mà luôn khao khát hướng tới một điều gì đó tốt đẹp hơn để
mỗi cá nhân tồn tại trên đời phải được là mình và phải được sống có ý nghĩa.
Câu 3: Trong truyện ngắn Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân đã xây dựng được
tình huống truyện độc đáo nào? Ý nghĩa của tình huống ấy với việc thể hiện
tính cách nhân vật và kịch tính của truyện?
Hướng dẫn trả lời:
- Chữ người tử tù là một trong những truyện ngắn đặc sắc của Nguyễn Tuân trước
CMT8. Tác phẩm đã xây dựng được tình huống truyện độc đáo, đó là cuộc gặp gỡ
đầy trớ trêu, éo le giữa một kẻ tử tù là Huấn Cao và viên quản ngục. Xét trên
phương diện xã hội, họ là những kẻ đối địch nhau: quản ngục là người có uy
quyền, đứng trong hàng ngũ giai cấp thống trị, đại diện cho bộ máy chính quyền
của xã hội; Huấn Cao là một tên tử tù, giám đứng lên chống lại bộ máy chính
quyền cai trị. Nhưng xét trên phương diện nghệ thuật, họ là những con người có
tâm hồn đồng điệu, tri âm tri kỉ: Huấn Cao là hiện thân của con người có tài năng
khí phách, sáng tạo ra cái đẹp; quản ngục là kẻ trân trọng tài năng khí phách, lại
biết thưởng thức cái đẹp.
- Tình huống độc đáo ấy có ý nghĩa quan trọng trong việc thể hiện tính cách nhân
vật và kịch tính của truyện:
+ Cuộc gặp gỡ giữa Huấn Cao và quản ngục đã làm bộc lộ, thay đổi quan hệ, thái
độ, hành vi khác thường của các nhân vật. Qua cuộc gặp gỡ của hai nhân vật ngay
giữa chốn lao tù đã làm tỏa sáng vẻ đẹp của cái tài, cái dũng và thiên lương.
+ Nhờ có tình huống truyện độc đáo ấy mà tính cách của các nhân vật Huấn Cao
Đề 1: Nhận xét về nhân vật Liên trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch
Lam có ý kiến cho rằng:
“Tâm hồn Liên đã trở thành nguồn sáng chiếu rọi cả câu chuyện đầy bóng tối này”
Từ cảm nhận của mình về nhân vật Liên, anh (chị) hãy làm sáng tỏ ý kiến trên?
Hướng dẫn trả lời:
a. Giới thiệu đôi nét về tác giả, tác phẩm.
- Thạch Lam là một trong những cây bút viết truyện ngắn xuất sắc của nền văn
xuôi hiện đại Việt Nam. Ông là người có tấm lòng đôn hậu và quan niệm văn
chương tiến bộ, có biệt tài về truyện ngắn, chủ yếu khai thác thế giới nội tâm nhân
vật với những cảm xúc mong manh mơ hồ.
- Hai đứa trẻ (in trong tập Nắng trong vườn) là truyện ngắn đặc sắc tiêu biểu cho
phong cách viết truyện của Thạch Lam. Tác phẩm đã xây dựng thành công nhân
vật Liên với những vẻ đẹp đặc biệt.
b. Giải thích.
- Hai đứa trẻ là một câu chuyện cảm động, tái hiện không gian phố huyện tù đọng,
đầy bóng tối với những kiếp người tàn tạ, những kiếp sống quẩn quanh, tàn lụi bế
tắc, xa lạ với ánh sáng và niềm vui.
- Câu chuyện được kể qua cái nhìn và cảm nhận của nhân vật Liên - một cô bé mới
lớn nhạy cảm, tinh tế, có trái tim đa cảm, giàu lòng yêu thương, luôn khao khát đổi
thay, vươn lên cuộc sống tăm tối hiện tại. Chính vẻ đẹp tâm hồn Liên là nguồn
sáng trong trẻo nhất tỏa ra từ câu chuyện đầy bóng tối này.
c. Cảm nhận về nhân vật Liên.
* Lai lịch: Liên là cô gái được sinh ra ở Hà Nội, một thế giới văn minh lịch sự và
giàu sang. Cô có một tuổi thơ sống sung sướng ở Hà Nội “được hưởng những thức
quà ngon lạ”. Nhưng từ khi thầy Liên bị mất việc, gia đình ngày càng sa sút. Mẹ
đưa hai chị em Liên về quê ngoại, sống ở một phố huyện nghèo với một gian hàng
tạp hóa nhỏ xíu.
* Những nét đẹp trong tính cách và tâm hồn của Liên.
- Liên là cô bé có tâm hồn nhạy cảm tinh tế trước thiên nhiên:
+ Liên có những rung động mãnh liệt, cảm nhận được sự đổi thay của khung cảnh
hình ảnh từ đoàn tàu ở Hà Nội về mang theo một thế giới khác hẳn: tràn ngập âm
thanh “vui vẻ và huyên náo”, ánh sáng “những toa đèn sáng trưng”, sự sung túc
với những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người “đồng và kền lấp lánh”.
Đoàn tàu chính là biểu tượng cho thế giới của ước mơ, khát vọng đổi thay.
+ Đợi tàu trở thành một nhu cầu bức thiết đối với Liên, nó không chỉ gợi lại một
miền kí ức tươi đẹp mà còn chứng tỏ Liên không thỏa hiệp với cuộc sống hiện tại.
Khi tàu qua, Liên lặng theo mơ tưởng, cố nhìn theo ánh đèn màu xanh trên toa sau
cùng. Hình ảnh “Hà Nội sáng rực, vui vẻ và huyên náo” đã trở thành niềm mơ ước
tha thiết cháy bỏng về một cuộc sống tươi sáng hơn.
+ Từ hình ảnh chuyến tàu đêm, Liên nhìn thấy rõ hơn sự tàn tạ của đời mình và
những người xung quanh. Do đó đợi tàu còn chứng tỏ Liên không cam chịu cuộc
sống trong bóng tối với những cái quẩn quanh vô nghĩa, phải hướng tới một điều gì
đó tốt đẹp hơn để mỗi cái tôi tồn tại trên đời phải được là mình và phải được sống
có ý nghĩa. Đợi tàu là cách đi tìm nghĩa lí của cuộc đời, không biến mình thành kẻ
vô tri trước cuộc sống.
* Nghệ thuật xây dựng nhân vật Liên.
- Để có được thành công của nhân vật phải kể đến biệt tài của Thạch Lam trong
việc lựa chọn chi tiết tái hiện khung cảnh phố huyện lúc chiều về, khi đêm xuống
và khi chuyến tàu đêm đi qua qua cái nhìn của chị em Liên.
- Đặc biệt bút pháp miêu tả tâm lí nhân vật rất tinh tế. Nhà văn đã thể hiện thành
công những rung động, rung cảm rất tinh vi, mong manh mơ hồ trong tâm hồn của
một cô bé mới lớn.
- Giọng văn nhẹ nhàng mà thấm thía, đầy chất thơ, chứa đựng tình cảm xót thương
chân thành sâu sắc cho nhân vật của mình.
d. Đánh giá chung.
- Liên là nhân vật trung tâm của bức tranh đời sống phố huyện, hội tụ đầy đủ
những nét đẹp trong tâm hồn cũng như tiêu biểu cho số phận của những người dân
9
- Bối cảnh sống, thế giới cai trị của Quản ngục là chốn tù ngục tối tăm. Đó là thế
giới của bóng đêm, tội ác, nơi có thể làm người ta nhem nhuốc cả đời lương thiện.
- Quản ngục là người đứng đầu ngục tù đen tối, là công cụ để thực thi tội ác cho
triều đình phong kiến thối nát, bất công. Trong quan niệm của người đời, đó là một
hung thần với bàn tay vấy máu, sống bằng nhẫn tâm, lừa lọc. Tuy nhiên Quản ngục
của Nguyễn Tuân là con người có tính cách khác thường. Chức vụ quản ngục chỉ
là “cái áo khoác ngoài của một tâm hồn đẹp”.
* Những phẩm chất tốt đẹp của nhân vật.
- Quản ngục là người có tấm lòng biệt nhỡn liên tài, biết quí trọng cái đẹp:
+ Biệt nhỡn là cái nhìn trân trọng đặc biệt, liên tài là biết quí trọng cái tài. Biệt
nhỡn liên tài là cái nhìn quí trọng đặc biệt với tài hoa.
+ Sống trong hoàn cảnh ngục tù tăm tối, Quản ngục vẫn biết trân trọng tài năng của
Huấn Cao, vẫn hướng về cái đẹp ở ngoài đời để biết được Huấn Cao là người viết
chữ đẹp nổi tiếng ở tỉnh Sơn.
10
+ Dù chọn nhầm nghề nhưng Quản ngục vẫn có sở nguyện cao quí. Ngay từ khi
mới “biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền”, ông ao ước một ngày nào đó được treo ở
nhà riêng của mình một đôi câu đối do tay ông Huấn Cao viết vì chữ ông Huấn
“đẹp lắm, vuông lắm”, là “vật báu trên đời”. Say mê nghệ thuật thư pháp đến tột
cùng như vậy là minh chứng cho quản ngục là người có tâm hồn nghệ sĩ.
+ Trân trọng Huấn Cao, trân trọng cái tài cái đẹp, quản ngục đã nhẫn nại dụng
công và khổ tâm để đạt được sở nguyện. Ngục quan đăm chiêu nghĩ ngợi thao thức
giữa đêm khuya, kín đáo nghĩ về tử tù khi nhận được tấm phiến trát. Lúc nhận tù,
quản ngục nhìn Huấn Cao bằng ánh mắt “kiêng nể”. Khi Huấn Cao vào ngục,
ngục quan biệt đãi Huấn Cao một cách chu đáo; khi bị Huấn Cao đuổi khỏi phòng
giam, quản ngục nhún nhường “xin lĩnh ý”. Chưa xin được chữ Huấn Cao nên
quản ngục có tâm trạng đầy bi kịch: khổ tâm vì có một ông Huấn Cao trong tay
mình, dưới quyền mình mà không biết làm thế nào để xin được chữ, chỉ lo khi
đáo, giàu kịch tính kết hợp bút pháp lãng mạn, thủ pháp tương phản đối lập, ngôn
11
ngữ cổ kính trang trọng... Nguyễn Tuân đã khắc họa hình tượng nhân vật viên quản
ngục mang vẻ đẹp lí tưởng.
- Qua nhân vật quản ngục, Nguyễn Tuân gửi gắm quan niệm thẩm mĩ sâu sắc, tiến
bộ. Cái đẹp có thể sinh ra ở mọi lúc, mọi nơi; cái đẹp phải gắn với cái thiện, không
thể ở chung với cái xấu cái ác, cái đẹp nâng đỡ con người cứu vớt con người. Đồng
thời nhà văn cũng gửi gắm lòng yêu quê hương đất nước, niềm trân trọng vẻ đẹp của
con người và văn hóa dân tộc.
d. Đánh giá chung.
- Nếu Huấn Cao là người sở hữu cái đẹp, sáng tạo ra cái đẹp thì Quản ngục là
người trân trọng, tôn thờ cái đẹp, bảo vệ giữ gìn và lưu truyền cái đẹp.
- Cùng với nhân vật Huấn Cao, nhân vật quản ngục góp phần làm nên sức hấp dẫn
của tác phẩm Chữ người tử tù, một tác phẩm gần đạt đến sự “toàn thiện, toàn mĩ”.
2. Phân tích phương diện thuộc giá trị nội dung hoặc nghệ thuật của tác phẩm.
Đề 1: Anh (chị) hãy phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Hai đứa trẻ
của Thạch Lam?
Hướng dẫn trả lời:
a. Giới thiệu đôi nét về tác giả, tác phẩm.
(Xem đề 1- dạng phân tích nhân vật)
b. Giải thích.
- Nhân đạo là một trong hai truyền thống lớn của văn học Việt Nam. Cùng với nội
dung yêu nước, nội dung nhân đạo xuyên suốt các sáng tác từ văn học dân gian,
văn học trung đại đến văn học hiện đại. Nó là thước đo tin cậy giá trị của một tác
phẩm văn học cũng như một người nghệ sĩ chân chính.
- Nhân đạo là tình cảm yêu thương con người, thường được biểu hiện ở bốn khía
cạnh cơ bản: đồng cảm sâu sắc với những bất hạnh của con người; ca ngợi trân
trọng phẩm chất tốt đẹp của con người; tố cáo các thế lực chà đạp lên con người;
tươi sáng, đẹp đẽ và có ý nghĩa hơn (hành động đợi tàu hàng đêm của những người
dân phố huyện).
- Trong màn đêm mênh mông của cuộc đời, Thạch Lam thắp sáng trong lòng
những cư dân phố huyện khát vọng về một cuộc sống mới:
+ Tác giả đã để cho từng ấy con người trong bóng tối “mong đợi một cái gì tươi sáng
hơn cho cuộc sống nghèo khổ hàng ngày của họ”. Dưới ngòi bút Thạch Lam
những kiếp người lầm than như mẹ con chị Tí, gia đình bác Xẩm hay chị em Liên
không bị nhấn chìm bởi màn đêm của cuộc đời mà vẫn khao khát, hi vọng đổi thay
dù còn mong manh, mơ hồ.
+ Khát vọng sống được thể hiện tập trung trong tâm trạng đợi tàu của hai chị em
Liên. Đêm nào cũng vậy, dù đã buồn ngủ ríu cả mắt, chị em Liên vẫn cố thức để
đợi chuyến tàu đêm đi qua. Đó là một nhu cầu bức thiết về tinh thần, khao khát
hướng tới cuộc sống tốt đẹp hơn, thoát khỏi màn đêm đang bủa vây họ.
- Dù tác phẩm không có sức tố cáo một cách mạnh mẽ như các sáng tác của Nam
Cao hướng vào thế lực địa chủ phong kiến và thực dân, Hai đứa trẻ cũng không
phải là trái bom làm nổ tung thành trì của xã hội tư sản như trong Hạnh phúc của
một tang gia (trích Số đỏ) của Vũ Trọng Phụng nhưng bằng những chi tiết miêu tả
về màn đêm nơi phố huyện, Thạch Lam đã giúp cho ta hình dung một phần về xã
hội phong kiến khiến bao kiếp người như mẹ con chị Tí, gia đình người hát xẩm và
chị em Liên phải sống trong lầm than cơ cực.
* Điểm mới trong tiếng nói nhân đạo của Thạch Lam.
- Một trong những đặc điểm của nội dung nhân đạo của văn học Việt Nam từ đầu
TK XX đến CMT8 - 1945 là tinh thần dân chủ. Tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch
Lam không nằm ngoài qui luật ấy.
- Đối tượng thương cảm: nhà văn hướng tình thương của mình đến những con người
nhỏ bé bình thường trong xã hội. Họ là những người dân nghèo thành thị như mẹ
con chị Tí ngày đi mò cua bắt ốc, đêm dọn hàng ra bán mà chẳng được bao nhiêu;
bà cụ Thi hơi điên; hay gia đình bác Xẩm sống bằng nghề hát rong, bác phở Siêu
với gánh quà ế ẩm...
- Do ý thức cá nhân có sự thức tỉnh, các nhà văn không những đề cao phẩm chất
c. Phân tích tình huống truyện.
* Diễn biến của tình huống.
- Ban đầu, Huấn Cao tỏ thái độ coi thường, khinh bạc ngay cả khi nhận được sự
chăm sóc lặng lẽ, chu tất của viên quản ngục: “ta chỉ muốn có một điều là nhà
ngươi đừng đặt chân vào đây”.
- Khi hiểu ra tấm lòng chân thành và sở thích cao quí của viên quản ngục, Huấn
Cao đã đồng ý cho chữ. Huấn Cao hết mực trân trọng quản ngục “thiếu chút nữa,
ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”
- Cảnh cho chữ trong nhà ngục là một cảnh tượng đặc biệt “xưa nay chưa từng
có”. Không gian cho chữ là “trong một gian buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường
đầy mạng nhện...”, môi trường thù địch với cái đẹp. Cho chữ diễn ra vào khoảng
thời gian khi đêm đã khuya, lại vào những giây phút cuối cùng của cuộc đời Huấn
Cao. Vị thế giữa người cho chữ và người nhận chữ bị đảo ngược: tử tù trở thành thần
tượng, ân nhân của cai ngục; cai ngục thành người ngưỡng mộ, chịu ơn tử tù.
* Ý nghĩa, hiệu quả nghệ thuật của tình huống.
- Tình huống truyện độc đáo đã góp phần làm bộc lộ, thay đổi quan hệ, thái độ,
hành vi khác thường của các nhân vật đồng thời làm tỏa sáng vẻ đẹp của cái Tài,
cái Dũng, cái Thiên lương.
- Tình huống ấy cũng góp phần khắc họa thành công tính cách của các nhân vật,
làm tăng kịch tính và sức hấp dẫn của tác phẩm.
d. Đánh giá chung.
- Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân là tác phẩm thành công trên cả hai phương
diện nội dung và nghệ thuật, nhất là nghệ thuật xây dựng tình huống truyện.
- Tình huống truyện độc đáo trên đã góp phần thể hiện nội dung tác phẩm cũng
như những nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân.
14
3. Phân tích tác phẩm theo định hướng.
Đề 1: Nhận định về phong cách nghệ thuật của Thạch Lam, có ý kiến cho rằng:
mà nó là cả một thế giới khác hẳn đối với Liên, khác hẳn cái vầng sáng ngọn đèn
của chị Tí và ánh lửa của bác Siêu. Đoàn tàu đến là biểu tượng của sự sống mạnh
mẽ, sự giàu sang, rực rỡ ánh sáng đối lập với cuộc sống mòn mỏi, nghèo nàn, tối
tăm và quẩn quanh của người dân phố huyện; đặc biệt chuyến tàu đêm còn gợi nhớ
về những kỷ niệm ngày xưa sung sướng tại đất Hà Nội khi thầy chưa mất việc.
→ Thạch Lam dừng lại ở con người tâm hồn, ở hiện thực tâm trạng. Phải chăng vì
thế mà truyện của Thạch lam chỉ gợi, chỉ nhìn ở góc độ niềm cảm thương xót xa
đối với những kiếp người tàn tạ nơi phố huyện nghèo trước cách mạng.
*Lời văn bình dị mà gợi cảm
- Câu văn giàu nhạc điệu: “ Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng
tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào”; Sử dụng câu tỉnh
lược, câu nhiều thanh bằng, ngắt nhịp ngắn, nhịp điệu chậm thể hiện tâm trạng
buồn man mác của nhân vật Liên.
15
- Ngôn ngữ:
+ Giản dị, gần gũi, giàu màu sắc, âm thanh, hình ảnh: “Phương tây đỏ rực như lửa
cháy và những áng mây ánh hồng như hòn than sắp tàn. Dãy tre làng trước mặt
đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời.”
+ Dùng cụm từ, lối đặt câu nhấn mạnh vào tính mơ hồ trong ý nghĩ của nhân vật,
ngày nào cũng thế, đơn điệu, nhàm chán, ngao ngán, u uất: “...không biết đến, không
rõ rệt, mong đợi một cái gì, không hiểu sao...”, “...Thôi để mai tính một thể. Liên
không nghĩ được lâu, mắt chị nặng dần, rồi sau Liên ngập vào giấc ngủ yên tĩnh...”
+ Ngôn ngữ đối thoại: Mang tính chất lửng lơ, câu hỏi thì tủn mủn, bâng quơ; câu trả
lời thì nhạt nhẽo, phẳng lặng: “...Em thắp đèn lên chị Liên nhé,...Cái chõng này sắp
gãy rồi chị nhỉ,...Sao hôm nay chị dọn hàng muộn thế,...”. Nhưng chứa đựng biết bao
tình cảm chân thành và nhạy cảm trước những biến thái của cảnh vật, lòng người.
→ Trong cuộc sống hiện đại, với nhịp sống nhanh gấp gáp, văn chương bình dân xuất
hiện nhiều. Người ta đã quá quen với ngôn ngữ thông tục của các tác giả khác, còn
16
- Sự chiến thắng tuyệt đối của tính cách với hoàn cảnh: quản ngục dù sống trong
hoàn cảnh đen tối vẫn giữ niềm đam mê cái đẹp và một thiên lương trong sáng;
Huấn Cao dù phải đối diện với án tử hình vẫn hiên ngang, bất khuất, bộc lộ tài
năng và tấm lòng cao quí.
*Sự đối lập giữa ánh sáng với bóng tối.
- Bóng tối: theo nghĩa thực là của đêm khuya, của buồng giam tử tù; theo nghĩa tinh
thần là cảnh ngộ éo le mà con người phải đối mặt (Huấn Cao chịu án tử hình, quản
ngục sống trong môi trường của cái xấu, cái ác)
- Ánh sáng: theo nghĩa thực là bó đuốc tẩm dầu; theo nghĩa tinh thần là ánh sáng
tỏa ra từ cái đẹp của nghệ thuật (chữ Huấn Cao) và của tư thế, tâm hồn con người.
Chính thứ ánh sáng này soi sáng con đường để những kẻ tri âm đến với nhau.
- Ở cảnh cho chữ, Nguyễn Tuân đã khẳng định sự chiến thắng tuyệt đối của ánh
sáng với bóng tối, của cái đẹp với cái xấu xa.
d. Đánh giá chung.
- Bút pháp miêu tả tương phản đối lập là một nét độc đáo trong nghệ thuật viết
truyện của Nguyễn Tuân, mang đậm màu sắc lãng mạn.
- Nét độc đáo trong nghệ thuật miêu tả tương phản đối lập đã góp phần thể hiện tư
tưởng chủ đề của tác phẩm và khẳng định tài năng của nhà văn.
Dạng 3: So sánh văn học (5,0đ)
Đề 1: Cảm nhận của anh (chị) về các chi tiết nghệ thuật “quầng sáng thân
mật” từ ngọn đèn con của chị Tí và “các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả
xuống đường” từ chuyến tàu đêm đi qua phố huyện trong truyện ngắn Hai
đứa trẻ của Thạch Lam?
Hướng dẫn trả lời:
a. Giới thiệu đôi nét về tác giả, tác phẩm.
(Xem đề 1- dạng phân tích nhân vật)
+ Ánh sáng của đoàn tàu biểu tượng cho một thế giới khác văn minh, nhộn nhịp và
giàu sang. Nguồn sáng ấy đã đánh thức trong kí ức của Liên về một Hà nội xa xăm
“Hà nội sáng rực vui vẻ và huyên náo”, bởi vậy ánh sáng đoàn tàu đem theo cả
giấc mơ của Liên cùng những cư dân phố huyện về một cuộc sống mới tươi đẹp và
có ý nghĩa hơn.
+ Qua nguồn sáng ấy, Thạch Lam gửi gắm tình cảm yêu thương trân trọng giấc mơ
đổi đời dù mơ hồ và mong manh của những cư dân phố huyện. Đó là phương diện
tạo nên giá trị nhân đạo sâu sắc cho tác phẩm.
- Nghệ thuật: chi tiết ánh sáng của đoàn tàu được nhà văn miêu tả độc đáo qua cách
sử dụng bút pháp lãng mạn. Nguồn sáng ấy chỉ xuất hiện một lần nhưng có sức
khuấy động cả phố huyện, góp phần thể hiện tư tưởng chủ đề của tác phẩm.
c. So sánh giữa hai chi tiết.
- Điểm tương đồng: hai chi tiết nghệ thuật trên đều mang ý nghĩa tả thực về một loại
ánh sáng xuất hiện nơi phố huyện và cùng mang ý nghĩa biểu tượng. Đây cũng là hai
chi tiết nghệ thuật đắt giá, được miêu tả trong sự xung đột gay gắt với bóng tối.
- Điểm khác biệt:
+ Quầng sáng thân mật từ ngọn đèn con của chị Tí nhỏ bé yếu ớt, biểu tượng cho
những kiếp người sống nghèo khổ lay lắt được thể hiện bằng biện pháp nghệ thuật lặp.
+ Ánh sáng của đoàn tàu đêm đi qua phố huyện rất rực rỡ, biểu tượng cho một thế
giới khác tươi sáng, có ý nghĩa hơn và chỉ xuất hiện một lần trong tác phẩm.
Đề 2: Cảm nhận của anh (chị) về cảnh đợi tàu của chị em Liên trong truyện
ngắn Hai đứa trẻ (Thạch Lam) và cảnh cho chữ của Huấn Cao trong truyện
ngắn Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)?
Hướng dẫn trả lời:
a. Giới thiệu đôi nét về tác giả, tác phẩm.
- Thạch Lam là cây bút viết truyện ngắn xuất sắc của Tự lực văn đoàn với loại
truyện không có cốt truyện, chủ yếu khai thác thế giới nội tâm nhân vật với những cảm
xúc mong manh mơ hồ. Hai đứa trẻ (in trong tập Nắng trong vườn) là truyện lãng mạn
đậm chất hiện thực thể hiện giá trị nhân đạo và tài năng nghệ thuật của Thạch Lam.
- Nguyễn Tuân là nhà văn rất mực tài hoa uyên bác, người nghệ sĩ “suốt đời đi tìm
* Đoạn văn tả cảnh cho chữ của Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù của
Nguyễn Tuân.
- Nội dung:
+ Cảnh cho chữ là kết quả của quá trình biệt nhỡn, biệt đãi đầy dụng công và khổ
tâm của viên quản ngục; cùng sự xúc động mãnh liệt của Huấn Cao khi nhận ra một
tấm lòng trong thiên hạ nơi quản ngục ngay ở chốn ngục tù tăm tối. Cảnh cho chữ
“xưa nay chưa từng có” với không gian và thời gian đặc biệt (nơi tù ngục, lúc đêm
khuya); vị thế các nhân vật bị đảo ngược (tử tù ung dung đường hoàng, răn dạy ngục
quan, quản ngục khúm núm, cảm động vái lạy tù nhân).
+ Qua cảnh cho chữ, Nguyễn Tuân đã khắc họa hoàn chỉnh chân dung mang vẻ
đẹp lí tưởng, lãng mạn của các nhân vật Huấn Cao và viên quản ngục: vẻ đẹp của
tài hoa, khí phách và thiên lương.
+ Cảnh cho chữ cũng thể hiện tập trung ý nghĩa nhan đề, chiều sâu giá trị nhân văn
đẹp đẽ, mới mẻ của tác phẩm cũng như toàn bộ văn nghiệp của Nguyễn Tuân. Đó
là niềm tin tưởng vào sự bất tử của cái đẹp cùng sức mạnh cảm hóa kì diệu của cái
đẹp trong cuộc đời.
- Nghệ thuật:
+ Đoạn văn tả cảnh cho chữ đã thể hiện được sự tài hoa uyên bác của ngòi bút tác
giả trong cách dựng cảnh, sử dụng thủ pháp nghệ thuật tương phản đối lập.
+ Tình huống đầy kịch tính; sử dụng hệ thống ngôn từ giàu chất tạo hình cổ điển
trang trọng, tác giả ghi lại cách ứng xử đầy nghi lễ giữa con người với con người.
c. So sánh hai đoạn văn.
- Điểm tương đồng:
19
+ Cả hai đoạn văn đều xuất hiện ở cuối tác phẩm, thời gian của hai cảnh đều diễn
ra vào lúc đêm khuya thanh vắng, không gian của cảnh là không gian hẹp. Qua hai
cảnh tượng đặc sắc đã góp phần thể hiện tư tưởng cao đẹp của hai tác giả.
+ Hai đoạn văn đều sử dụng bút pháp nghệ thuật tương phản đối lập gay gắt giữa
c. Cảm nhận về tác phẩm.
* Cảm hứng hiện thực nổi trội trong tác phẩm.
- Điểm nhìn của tác giả được đặt vào điểm nhìn của nhân vật Liên - một cô gái mới
lớn sống ở phố huyện nên bức tranh hiện thực về phố huyện nghèo hiện lên thật
chân thực: tiêu điều, xơ xác, ảm đạm qua hình ảnh của ngày tàn và phiên chợ tàn.
- Chất hiện thực thể hiện sâu sắc ở hình ảnh những kiếp người tàn (mẹ con chị Tí,
bác phở Siêu, gia đình người hát Xẩm, bà cụ Thi điên, chị em Liên). Cuộc sống
của họ đơn điệu, mòn mỏi, tối tăm, nghèo đói, bế tắc khiến tâm hồn những cư dân
phố huyện chai sạn, xơ cứng, sống mà không biết đến niềm vui, hạnh phúc.
* Cảm hứng lãng mạn bao trùm, thấm đẫm từng câu chữ của truyện ngắn.
20
- Chất lãng mạn đến từ bức tranh thiên nhiên làng quê đẹp, thi vị khúc xạ qua tâm
hồn trong trẻo của nhân vật Liên và được ghi lại bằng những câu văn giàu chất thơ,
chất nhạc.
- Lãng mạn toát ra từ những rung cảm mong manh, mơ hồ, trong sáng trong tâm
hồn Liên (tâm trạng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn; cảm nhận
được mùi riêng của đất, của quê hương; thương những đứa trẻ, những con người
nghèo khổ; háo hức chờ đợi chuyến tàu đêm). Điều này khiến cho truyện giàu tâm
tình, tâm trạng.
- Lãng mạn ở ước mơ hướng tới một cuộc sống tràn đầy ánh sáng, niềm vui, hạnh
phúc của những kiếp người tàn ngay cả khi tâm hồn họ tưởng chừng đã chai sạn.
Người dân phố huyện nghèo, nhất là hai chị em Liên đêm nào cũng cố thức để đợi
tàu với tâm trạng háo hức không phải để bán thêm hàng mà cốt tìm thấy một cái gì
tươi sáng hơn, vui vẻ hơn cho chuỗi ngày tối tăm, để đánh thức và nuôi dưỡng ước
mơ thay đổi cuộc đời bế tắc của họ.
* Nghệ thuật thể hiện.
- Cốt truyện rất đơn giản, ít sự kiện, nhân vật, biến cố nhưng lại tái hiện khá chân
cường quyền, giám đứng lên chống lại bạo ngược để bảo vệ lẽ phải, cái thiện. Con
người có thiên lương trong sáng là người có lòng tốt tự nhiên, thuần khiết.
- Đây là hai nhận xét khái quát về các khía cạnh khác nhau tạo nên vẻ đẹp lí tưởng
ở nhân vật Huấn Cao: tài hoa, khí phách, thiên lương.
c. Cảm nhận hình tượng nhân vật Huấn Cao.
* Huấn Cao là người nghệ sĩ tài hoa.
- Huấn Cao là nghệ sĩ trong nghệ thuật thư pháp. Ông nổi tiếng khắp vùng tỉnh Sơn về
tài viết chữ “rất nhanh và rất đẹp”, nét chữ Huấn Cao mang vẻ đẹp con người ông
“nét chữ vuông, tươi tắn, nó nói lên cái hoài bão tung hoành của một đời con người”.
- Chữ Huấn Cao trở thành niềm đam mê, khao khát của quản ngục. Viên quản ngục
bất chấp sự nguy hiểm đến tính mạng, kiên trì, công phu, dũng cảm xin bằng được
chữ Huấn Cao “chữ Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm, có được chữ ông Huấn mà treo trong
nhà là có một vật báu trên đời”.
- Những nét chữ “vuông vắn tươi tắn” mà Huấn Cao cho quản ngục trong nhà lao
có thể đẩy lùi bóng tối, chiến thắng sự tàn bạo, xấu xa.
* Huấn Cao là người anh hùng có khí phách hiên ngang.
- Ở ngoài đời Huấn Cao mang bản lĩnh của một kẻ “chọc trời khuấy nước”: là
người đứng đầu bọn phản nghịch, dám hiên ngang chống lại triều đình.
- Trong những ngày ở nhà lao, Huấn Cao vẫn giữ được phong thái hiên ngang,
chính trực: lạnh lùng, ngạo mạn với bọn lính áp giải; thản nhiên ung dung nhận
rượu thịt; khinh miệt, xua đuổi trước sự quan tâm của cai ngục.
- Đêm cuối cùng trước ngày ra pháp trường, mặc dù “cổ đeo gông, chân vướng
xiềng” Huấn Cao vẫn đường hoàng, lẫm liệt đậm tô nét chữ trên phiến lụa trắng.
* Huấn Cao là con người có thiên lương trong sáng.
- Sinh thời, Huấn Cao không bao giờ ép mình cho chữ vì vàng ngọc hay quyền thế.
Ông chỉ tặng chữ cho những người bạn tri âm tri kỉ, biết quí trọng cái tài, yêu cái đẹp.
- Khi hiểu ra tấm lòng biệt nhỡn liên tài của quản ngục, Huấn Cao xúc động “thiếu
chút nữa ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ” và trao tặng những con chữ
cuối cùng của đời mình cho quản ngục.
Câu 5: Cảm nhận của anh (chị) về tiếng trống thu không của buổi chiều và tiếng
còi tàu của đoàn tàu đêm đi qua phố huyện trong tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch
Lam?
Câu 6: Về nhân vật Liên trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam, có ý kiến
cho rằng: Nét nổi bật ở Liên là sự hồn nhiên, ngây thơ và trong trẻo. Ý kiến khác
lại nhấn mạnh: Liên chín chắn và điềm đạm, có tâm hồn phong phú và nhân hậu.
Từ cảm nhận về nhân vật Liên, anh/chị hãy bình luận những ý kiến trên.
D. KẾT LUẬN
Hai đứa trẻ (Thạch lam) và Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) là hai tác phẩm
văn xuôi lãng mạn trước 1945 nằm trong chương trình ôn thi đại học - cao đẳng.
Ôn luyện hai tác phẩm theo hướng hệ thống hóa kiến thức, phân loại đề theo dạng
và tìm hướng giải các dạng đề là một cách ôn tập có hiệu quả, cung cấp cho người
học hệ thống kiến thức theo thể loại, theo đặc trưng của xu hướng văn học và
phong cách nghệ thuật của nhà văn. Việc chia đề theo các dạng bám sát cấu trúc đề
thi đại học cao đẳng cũng giúp học sinh có thể nhận diện đề, giải đề theo dạng và
ứng dụng ôn tập các tác giả, tác phẩm văn học khác.
Do điều kiện thời gian và khả năng còn hạn chế nên chuyên đề còn có thiếu
sót, rất mong nhận được sự bổ sung, góp ý của các đồng nghiệp để chuyên đề hoàn
thiện và ứng dụng có hiệu quả hơn. Xin chân thành cảm ơn!
23