TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
**********
NGUYỄN THỊ THU
LỄ HỘI VỀ NGƯỜI ANH HÙNG
CHỐNG GIẶC NGOẠI XÂM CỦA
NGƯỜI VIỆT Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học
HÀ NỘI - 2010
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
**********
NGUYỄN THỊ THU
LỄ HỘI VỀ NGƯỜI ANH HÙNG
CHỐNG GIẶC NGOẠI XÂM CỦA
NGƯỜI VIỆT Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học
Người hướng dẫn khoa học
công trình khoa học nào. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu
trách nhiệm.
Hà Nội, tháng 5 năm 2010
Tác giả khoá luận
Nguyễn Thị Thu
Mục lục
Trang
4
1
Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
1
2. Lịch sử vấn đề
2
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4
8
1.2.1. Lễ
8
1.2.1.1. Nghi thức hành lễ
9
1.2.1.2. Người hành lễ
11
1.2.1.3. Vật phẩm dâng lễ
12
1.2.2. Hội
13
1.3. Đặc điểm của lễ hội người Việt
16
1.3.1. Thời gian ra đời
16
23
Chương 2. Lễ hội về NGƯờI anh hùng chống giặc ngoại xâm
của người
26
Việt ở đồng bằng Bắc bộ.
2.1. Nguồn gốc lễ hội về anh hùng chống giặc ngoại xâm
5
26
2.1.1. Lịch sử đấu tranh giữ nước
26
2.1.2. Lòng tự hào dân tộc, ý thức uống nước nhớ nguồn
28
2.1.3. Sức hấp dẫn của hình tượng người anh hùng
30
2.2. Bản chất và đặc điểm lễ hội về người anh hùng chống giặc
tôn thờ trong lễ hội.
2.3. Lễ hội về người anh hùng chống giặc ngoại xâm trong nhịp
62
sống hiện đại
2.4. Một số đề xuất về biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn
65
hoá truyền thống qua lễ hội về người anh hùng chống giặc
ngoại xâm.
Kết luận
68
Tài liệu tham khảo
70
Phụ lục (một số hình ảnh)
72
6
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
1.3. Lễ hội ở nước ta phong phú, đa dạng, song có một điều đáng chú ý
là lễ hội về các nhân vật lịch sử, các anh hùng chống giặc ngoại xâm chiếm
một số lượng lớn. Các nhà nghiên cứu cũng dành nhiều tâm huyết nghiên cứu
vấn đề này. Tuy nhiên, việc nghiên cứu lễ hội về người anh hùng chống giặc
ngoại xâm của người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ chưa có công trình nào đề
cập riêng biệt và toàn diện. Đó cũng là vấn đề gợi cho chúng tôi tiếp tục tìm
hiểu.
1.4. Là một sinh viên của ngành Việt Nam học, với mong muốn ngày
càng hiểu biết hơn về đất nước, con người Việt Nam thì lễ hội - một hình thức
phản ánh sinh hoạt cộng đồng dân tộc đã trở thành nguồn tư liệu hấp dẫn, hữu
ích cung cấp cho chúng tôi những hiểu biết phong phú về đời sống, tình cảm
người Việt. Tìm hiểu "Lễ hội về người anh hùng chống giặc ngoại xâm của
người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ” giúp tác giả khoá luận nâng cao hiểu biết về
một phương diện văn hoá dân tộc, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước,
bồi đắp lòng tự hào, tự tôn dân tộc, vun đắp tình yêu quê hương, đất nước,
nâng cao ý thức giữ gìn, phát huy những giá trị tốt đẹp của truyền thống văn
hoá dân tộc.
2. Lịch sử vấn đề
Lễ hội nói chung, lễ hội về người anh hùng chống giặc ngoại xâm nói
riêng có vai trò và ý nghĩa to lớn trong đời sống văn hoá dân tộc và trong đời
sống tinh thần của nhân dân. Những năm gần đây, trước sự phục hồi nhanh
chóng và có tính chất bùng nổ của lễ hội truyền thống, vấn đề lễ hội được các
nhà nghiên cứu dành nhiều sự quan tâm.
Liên quan đến vấn đề “Lễ hội về người anh hùng chống giặc ngoại xâm
của người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ”, có thể kể đến một số công trình nghiên
cứu tiêu biểu sau:
Tác giả Lê Trung Vũ trong cuốn Lễ hội cổ truyền (Nxb Khoa học xã
hội, 1992) đề cập tới vấn đề thời gian ra đời của lễ hội. Tác giả viết “Mặc dù
bị đô hộ, người Lạc Việt đã giữ lại và phát triển các thần thoại, truyền thuyết
nghiên cứu của các tác giả như Hoàng Lương (2002) với cuốn Lễ hội truyền
thống các dân tộc Việt Nam khu vực phía Bắc, Nxb Đaị học Quốc Gia Hà
Nội; Nguyễn Quang Lê (1995), “Lễ hội dân gian truyền thống - một hình thức
phản ánh lịch sử dân tộc”, Tạp chí văn hóa dân gian, số 4; Nguyễn Quang Lê
9
(2002), Khảo sát thực trạng văn hóa lễ hội truyền thống của người Việt ở
Đồng bằng Bắc Bộ, Nxb Khoa học xã hội…
Nhìn chung, giới nghiên cứu đã nêu được những nét khái quát nhất,
chưa đi sâu tìm hiểu vấn đề một cách cụ thể, toàn diện. Đặc biệt là những thay
đổi của các lễ hội này những năm gần đây. Mặc dù vậy, kết quả nghiên cứu
của những người đi trước là cơ sở và là sự gợi ý quý giá để tác giả khoá luận
tiếp tục đề tài nghiên cứu của mình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Lễ hội về người anh hùng chống giặc ngoại xâm ở không gian văn hoá
Đồng bằng Bắc Bộ
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Khoá luận tập trung nghiên cứu nguồn gốc, đặc điểm, bản chất của các
lễ hội về người anh hùng chống giặc ngoại xâm của người Việt. Những thay
đổi của các lễ hội này trong những năm gần đây.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích
Đề tài được nghiên cứu nhằm mục đích nâng cao hiểu biết về một
phương diện văn hoá truyền thống của dân tộc, góp phần giáo dục tình cảm
tốt đẹp đối với thế hệ trẻ và góp phần giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân
tộc.
4.2. Nhiệm vụ
Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ
11
Nội dung
Chương 1
Khái quát chung về sinh hoạt lễ hội
1.1. Khái niệm lễ hội
Đối với phần lớn các tộc người trên thế giới, đặc biệt là nhóm cư dân
nông nghiệp, lễ hội giữ một vai trò quan trọng. Lễ hội chứa đựng nhiều mặt
của đời sống xã hội, văn hoá, chính trị, tâm lý, tôn giáo và tín ngưỡng của
người dân lúa nước. Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hoá tập thể, phản ánh tín
ngưỡng, các sinh hoạt của người dân lao động. ở Việt Nam, lễ hội gắn bó với
làng xã như một phần tất yếu trong đời sống. Lễ hội mới có thể thoả mãn một
phần nhu cầu tâm linh của người dân.
Lễ hội của người Việt ra đời từ trước công nguyên và phát triển qua
nhiều thời kỳ. Đã có những lúc tưởng chừng như lễ hội đang dần mai một đi.
Những năm gần đây, do chính sách đổi mới, do những biến đổi không ngừng
của đời sống xã hội, do đời sống vật chất của nhân dân từng bước được cải
thiện, các hoạt động lễ hội được quan tâm tổ chức. Việc tìm hiểu cũng như cắt
nghĩa khái niệm lễ hội được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
Khái niệm lễ hội ở Việt Nam xuất hiện khoảng vài thập kỷ trở lại đây.
Cho đến nay, có nhiều cách gọi và sự giải thích khác nhau về thuật ngữ "lễ
hội". Có người gọi lễ hội là "hội lễ", có người gọi là "hội hè", hay "hội hè
đình đám"... Tuy cách gọi và diễn đạt khác nhau, nhưng các ý kiến đó không
mâu thuẫn mà thống nhất với nhau trong một nội dung lễ hội là sinh hoạt văn
hoá, tôn giáo, nghệ thuật truyền thống của cộng đồng.
Như vậy, khái niệm lễ hội bao gồm hai yếu tố: lễ và hội. Hai yếu tố này
luôn tồn tại song song, bổ sung, hỗ trợ và hoàn thiện lẫn nhau.
tại trong sự thống nhất. Lễ là phần đạo còn hội là phần đời. Đạo tức là tâm
linh mà đời chính là cuộc sống hiện thực, cả hai lĩnh vực đó có hoà vào nhau
thì cuộc sống con người mới tồn tại, mới có cuộc sống con người. Mối quan
hệ giữa lễ và hội là quan hệ không thể tách rời, ranh giới giữa các yếu tố tạo
nên lễ hội cũng không thể phân biệt rạch ròi, máy móc. Cũng vì vậy mà có
người gọi là "lễ hội" có người gọi là "hội lễ", tuỳ thuộc vào từng loại lễ hội
mà nhấn mạnh mặt này hay mặt kia. Lễ nằm trong hội và hội phải có lễ. Lễ và
hội đều là cuộc sống của con người, được phản ánh qua tâm linh cộng đồng.
13
Với tinh thần ấy, ta có thể đi tới một kết luận chung "Lễ hội là một
cuộc vui lớn của cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí, tín ngưỡng, thi
thố tài năng, biểu dương sức mạnh, tái hiện cuộc sống con người trong
trường kỳ lịch sử. Nó là một loại hình tổng hợp bao gồm nhiều yếu tố văn hoá
dân gian" [8; tr .38].
Người dân Việt Nam đã sáng tạo lễ hội như "cuộc sống thứ hai" của
họ. Đó là cuộc sống hội hè, đình đám sống động màu sắc dân gian. Phần cuộc
sống đó thuộc về những ước mơ, khát vọng hướng tới cái chân, thiện, mĩ. ở
đó, cái đẹp của cuộc sống thực được bộc lộ trong sự hoà hợp giữa con người
với tự nhiên, sự ngưỡng mộ tri ân với các lực lượng thần thánh siêu nhiên đã
có công khai phá, dựng xây, bảo vệ làng... Vì thế, lễ hội mang tính nhân văn
sâu sắc, đem lại niềm tin, hi vọng cho con người mà con người thì không bao
giờ lại không cần có niềm tin và hi vọng. Có thể nói, niềm tin và hi vọng là
sức sống của con người.
1.2. Các yếu tố cấu thành lễ hội
Lễ hội là một dạng hoạt động văn hoá tổng hợp của con người, đáp
ứng nhu cầu chính đáng của một cộng đồng người. Xét về cấu trúc, lễ hội bao
gồm hai thành phần chính: phần lễ (yếu tố chính) và phần hội (yếu tố phát
Là lễ khoác áo mũ cho thần tượng, thần vị . Có thể là áo mũ đại trào
được triều đình ban theo chức tước, phẩm hàm lúc đương thời, hoặc là áo mũ
tượng trưng đặt làm ở các hàng mã để sẵn ở nơi thần ngự. Đến ngày hội,
những thứ linh thiêng đó được phong gói cẩn thận rồi đưa lên kiệu để rước về
đình.
Khi mọi việc đã hoàn tất, làng vào tế một tuần trước long kiệu gọi là tế
gia quan.
4. Lễ rước kiệu
Là sự chuyển dịch thần tượng hay thần vị một cách long trọng từ địa
điểm này qua địa điểm khác trên một chiếc kiệu làm bằng gỗ có nhiều người
khiêng. Thông thường, kiệu được rước từ đền (hay miếu, chùa...) ra đình cho
đến hôm giã đám lại rước về chỗ cũ (gọi là rước hoàn cung).
Trật tự một đám rước thần thường được tuân thủ như sau: đi đầu là một
nhóm người cầm cờ, (gồm cờ tiết, cờ mao, cờ ngũ hành, cờ bát quái), tiếp
15
theo là biển (biển hồi tỵ, biển tĩnh túc), sau biển là chiêng, trống, voi, ngựa,
chấp kích, phường nhạc, long đình, long hiệu, bô lão, hương chức, dân đinh.
Đám rước thể hiện sức mạnh của cộng đồng, là tinh hoa của ngày hội
nên các làng thường chuẩn bị rất chu đáo từ việc cử người khiêng kiệu đến
chuẩn bị đường đi, chuẩn bị trang phục, sắp xếp đội hình, định nơi tiếp đón.
5. Đại tế
Đây là phần nghi thức trang trọng nhất. Tại lễ này, làng thường mổ
trâu, bò để làm vật phẩm dâng cúng thần linh. Đại tế do ban tế thực hiện. Ban
tế này do làng cử ra từ 17 - 21 người. Đứng đầu ban tế là vị chủ tế điều hành
trong suốt buổi lễ. Sau chủ tế có từ 2 đến 4 vị bồi tế, hai vị xướng Đông, hai
vị xướng Tây, hai vị nội tán để trợ xướng. Số còn lại là "chấp sự" (từ 10 đến
20 người) đảm đương nhiệm vụ chúc rượu, dâng hương, chuyển chúc, đọc
hết sức chặt chẽ. Chính các nghi thức, nghi lễ tạo nên khuôn mẫu hành vi cho
tất cả những người tham dự hội, dù người đó đến hội với thái độ thành kính
hay thờ ơ, người trong nước hay người nước ngoài, gần gũi hay xa lạ cũng
đều phải tuân thủ nghi thức như một sự định hướng tất yếu.
1.2.1.2. Người hành lễ
Lễ hội là sự hoạt động của con người, của cả cộng đồng. Ngoài lực
lượng tự phát, làng còn phải cử một số người trực tiếp tham gia với ý thức,
trách nhiệm cao, đảm bảo lễ hội được diễn ra trong không khí thiêng liêng,
hấp dẫn. Có thể gọi những người tham gia, tổ chức nên hội là các nhân vật
trong hội hay "người đóng hội" (hoặc người đóng vai).
Người đầu tiên phải kể đến là vị chủ tế. Chủ tế thường là "tiên chỉ"
hoặc là "cai đám" do làng cử ra. Đó là người điều khiển toàn bộ lễ hội nên
phải chọn người có đức độ, có hiểu biết và nhiệt tình, thân thể không bị
khuyết tật.
Ban khánh tiết (hay ban tế lễ) là những người giúp việc trực tiếp cho
chủ tế, cùng chủ tế điều hành việc hội. Ban này có khoảng từ 15 đến 20 người
do làng tuyển chọn trên cơ sở có phẩm chất đạo đức và làm được việc.
Người đóng vai trong hội có nhiều loại. Tuỳ theo yêu cầu của từng hội
mà làng phải tuyển chọn cho đủ. Có những trò chỉ cần ít người như trò tứ dân
(sĩ, nông, công, thương). Có những trò cần hàng trăm người như trò diễn trận
trong hội Gióng, có những trò cần vài chục người như trò múa rồng, sắp chữ...
17
Trong lúc tế lễ thường phải có một tốp múa dâng hương, dâng rượu.
Đó là những thiếu nữ xinh đẹp, múa dẻo, hát hay do các giáp tiến cử.
Người khiêng kiệu (còn gọi là chân kiệu) phải là những trai đinh khoẻ
mạnh, có đạo đức.
Cầm cờ, cầm lọng là những chàng trai còn trong trắng, ngây thơ có độ
qua bàn tay khéo léo và tấm lòng thành kính của con người. Vật phẩm trong
hội chủ yếu là xôi, thịt, bánh dày, bánh chưng. Thịt phổ biến là thịt gà, thịt
lợn, thịt trâu hoặc bò (tam sinh). Vật phẩm dâng lễ cũng còn tuỳ thuộc vào
những lễ hội cụ thể nào đó.
Chẳng hạn lễ hội Đền Và (Sơn Tây) thờ thánh Tản Viên thì vật phẩm
nhất định phải có đồ tế lễ làm từ cá. Vì theo truyền thuyết Sơn Tinh đã dạy
cho một ông lão làm vó kéo cá. Mẻ cất cá đầu tiên ông lão cất được 100 con,
ông phóng sinh một con cá có trứng, còn lại 99 con. Sau này tế lễ dâng cá là
để nhớ ơn Thánh đã dạy cho dân cách làm ăn.
Thông qua vật phẩm dâng cúng, người ta có thể hiểu thêm đặc điểm
của từng hội cũng như phong tục tập quán của từng địa phương. Chẳng hạn
như hội mà thành hoàng có liên quan đến nhà Phật thì vật phẩm chỉ là "cỗ
chay" (oản, hương hoa, chuối); những hội có liên quan đến "ngũ hổ" thì phải
cúng thịt lợn sống. Hội Đình Bảng có tục tế trâu thui để nhắc lại sự tích nhà
vua đền ơn thầy thuốc chữa bệnh "hoá hổ" cho mình...
Vật phẩm dâng lễ trước hết là để dâng thỉnh thần linh, sau đó là để dân
làng cùng "chung vui", hưởng "lộc hội". Xưa kia, vấn đề ăn uống trong ba
ngày hội là điều không thể thiếu. Vì thế "hội hè" luôn đi đôi với "đình
đám”nhưng đó không phải là bữa ăn thông thường mà là sự thụ "lộc thần, lộc
thánh" sau khi đã tế lễ.
Thông thường cứ mỗi năm một lần có dịp mở hội như vậy, làng xóm
lại nhộn nhịp. người dân như được tiếp thêm sức sống để rồi sau đó lại chăm
lo làm lụng, vun đắp dày thêm tình yêu quê hương, đất nước.
1.2.2. Hội
Tiếp sau lễ là hội. Hội là các hoạt động dân dã, phóng khoáng, sôi nổi
diễn ra trên sân đình, gò bãi... để dân làng cùng bình đẳng vui chơi với vô số
trò tục hấp dẫn do mình tự nguyện tham gia trước sự cổ vũ của cộng đồng.
19
nhộn nhịp. Người ta bảo nhau:
20
Bỏ con bỏ cháu
Không ai bỏ mồng sáu hội Loa
hoặc:
Ai ơi mồng chín tháng tư
Không đi hội Gióng cũng hư mất đời
Hội là sự vận động hối hả, liên tục từ các trò chơi, trò diễn đến cả màu
sắc âm thanh. Trẩy hội rất vui nhưng cũng rất mệt, đúng như câu ví của dân
gian:
Vui xem hát
Nhạt xem bơi
Tả tơi xem hội
Nhưng đó mới chỉ là cái mệt của người xem. Riêng những người tham
gia trực tiếp vào những nghi thức và trò vui của hội thì còn vất vả hơn nhiều.
Những đồ vật, những tay bơi, những quân cờ, phu kiệu... phải có một thể lực
tốt và phải có một quá trình rèn luyện mới đảm đang được nhiệm vụ làng
giao, mới làm cho ngày hội thêm vui, thêm đẹp, để người xem được hài lòng,
mãn nguyện.
Có một điều dễ thấy, tuy ồn ào, náo nhiệt, tuy giẫm đạp, chen chúc
nhưng hội không hỗn độn, sa đà. Phải chăng vì trong hội có lễ, có sự điều tiết
cân bằng để đủ vui là được?
Có thể nói, hội làng là một cấu trúc tương đối hoàn chỉnh về nhiều mặt.
ở đó có sự kết hợp uyển chuyển giữa lễ và hội, giữa đóng và mở, giữa tĩnh và
động để tạo nên một hệ thống hành động phức hợp nhưng vẫn hài hoà, thoả
mãn nhu cầu cho cả đôi bên theo từng cặp tưởng như đối ứng:
Bên linh thiêng - bên trần tục
mặt thời tiết khí hậu lúc này thường có trăng thanh gió mát, người ta có điều
kiện để vui hội. Vì vậy, người ta mở hội vừa để vui chơi, vừa cầu khấn thần
linh. Họ ước mơ vươn tới sự phồn thịnh và tình yêu.
Đến thời kỳ chống Bắc thuộc, cùng với sự du nhập của lịch phương
Bắc, các phong tục ăn tết nguyên đán, cùng với sự có mặt ngày càng ổn định
và có hiệu quả của lúa chiêm tăng vụ, lễ hội đã chuyển dần từ mùa thu sang
22
mùa xuân, hội xuân dần dần thay thế hội thu. Tuy vậy hội thu vẫn không mất
đi mà vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Theo tài liệu của giới nghiên cứu, thống
kê trong số 118 lễ hội của người Việt ở Bắc Bộ thì đã có đến 91 hội mở vào
mùa xuân, 11 hội mở vào mùa thu (Lê Trung Vũ chủ biên, Lễ hội cổ truyền,
Nxb Khoa học xã hội, 1992).
Qua các chặng đường của lịch sử, đặc biệt từ khi đất nước bước vào
thời kỳ đổi mới, lễ hội được khôi phục, trỗi dậy với tính xã hội cao, với cả
những cái được và chưa được.
Song song với quá trình khởi sắc trở lại của lễ hội, việc khảo sát, miêu
tả, xuất bản những công trình sưu tầm, nghiên cứu về lễ hội cũng đạt được
những kết quả đáng kể. Theo kết quả phân loại của các nhà nghiên cứu thì số
lượng lễ hội về người anh hùng, đặc biệt là lễ hội về người anh hùng chống
giặc ngoại xâm chiếm tỉ lệ lớn. Trong 118 lễ hội được thống kê ở mục "Lễ hội
cổ truyền" do nhóm tác giả của Viện nghiên cứu Văn hoá dân gian biên soạn
đã có đến 52 (chiếm 44%) lễ hội về người anh hùng. Điều này chứng tỏ sức
hấp dẫn của người anh hùng và các lễ hội về người anh hùng trong sinh hoạt văn
hoá.
1.3.2. Đặc điểm của lễ hội
1.3.2.1. Tính văn hoá làng xã
Trước đây, tuyệt đại bộ phận người Việt sống ở làng và hầu như làng
trọng người già cả, những người bảo tồn truyền thống làng xã...
Mở hội, dân làng hi vọng rằng ước nguyện của toàn thể cộng đồng về
một đời sống chung no đủ, giàu có, bình an, được trở thành hiện thực. Họ đã
gửi gắm vào lời cầu khấn thần thành hoàng, vị bảo hộ của làng, những ước
nguyện và hi vọng đó. Dù kết quả chưa đến, nhưng được đề đạt ý nguyện
trước thần cũng tạo nên một sự an ủi, một sự bình ổn về tâm lý.
Hội làng còn là nơi thu hút toàn bộ các hoạt động nghệ thuật, thể thao
vui chơi. Hội cuốn hút văn hoá nghệ thuật, thể thao của làng và của nhiều
làng tạo nên sự phong phú đa dạng, nhưng cũng giữ lại và nâng cao những nét
cơ bản làm nên bản sắc của từng hội làng.
Tóm lại, hội làng là nơi biểu hiện tập trung tư tưởng và tâm lý của dân
làng bao gồm lòng sùng kính những bậc có công với làng nước, ý thức cộng
đồng, nguyện vọng, ước mơ về một cuộc sống thái bình, thịnh vượng.
1.3.2.2. Tính đa dạng và phong phú
24
Lễ hội của người Việt rất nhiều, rất phong phú, đa dạng được đông đảo
quần chúng ưa thích tham gia. Sự phong phú, đa dạng trước hết thể hiện ở
loại hình lễ hội. Theo kết quả nghiên cứu, phân loại của Lê Thị Nhâm Tuyết,
lễ hội người Việt chia thành 5 loại hình:
Loại hình lễ hội nông nghiệp
Loại hình lễ hội phồn thực giao duyên
Loại hình hội văn nghệ, giải trí
Loại hình hội thi tài
Loại hình hội lịch sử
Sự phong phú không chỉ biểu hiện ở số lượng đề tài mà còn ở trong
mỗi đề tài, nội dung cũng được thể hiện thật nhiều và hấp dẫn. Chẳng hạn như
đề tài phản ánh các sinh hoạt nghề nông gọi tắt là lễ hội nông nghiệp, tục cầu