TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
HOÀNG THỊ VUI
MỘT SÓ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
KINH TẾ CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ Ở THÀNH PHỐ HÀ
GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
•
• •
•
Chuyên ngành: Kỉnh tế chính trị
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
HOÀNG THỊ VUI
MỘT SÓ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
KINH TẾ CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ Ở THÀNH PHỐ HÀ
GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
•
• •
HTX
Họp tác xã
:
Nghị
NQ:
quyết
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phát triển kinh tế họp tác là đường lối chiến lược nhất quán trong mọi giai
đoạn cách mạng của Đảng và Nhà nước ta liên tục được khẳng định qua các Văn
kiện của Đảng. Đường lối đổi mới do Đại hội VI đề xướng Đảng ta đã khẳng định
phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, trong đó kinh tế hợp tác xã được
khẳng định cùng với kinh tế nhà nước dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc
dân. Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới Đảng ta đã ban hành nhiều Nghị
quyết trên các lĩnh vực khác nhau trong đó có Nghị quyết 10/NQ/TW của Bộ
Chính trị (khoá VI) ngày 05/04/1988 là sự cụ thể hóa thể hiện quyết tâm đổi mới
của Đảng trong việc xây dựng và phát triển Họp tác xã cho phát triển kinh tế xã
hội, Nghị quyết khẳng định: “Hợp tác xã, tập đoàn sản xuất là tố chức kinh tế tự
nguyên của nông dân, được lập ra dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự hướng dân
giúp đỡ của Nhà nước, hoạt động theo nguyên tắc tự quản lý, tự chịu trách nhiệm
Hà Giang, tôi đã chọn: “Một số gỉảỉ pháp nhằm nâng cao hiệu quả kỉnh tế cùa
các Hợp tác xã ở Thành phố Hà Giang” làm đề tài nghiên cứu thực hiện khóa
luận tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề về hoạt động và hiệu quả kinh tế của hợp tác xã hiện nay đã được
nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân từ trung ương đến các địa phương nghiên cún với
nhiều công trình khoa học đã được công bố với nhũng phân tích và đánh giá ở
nhiều góc độ khác nhau nổi bật như:
-
Nhóm tác giả Phan Thị cầm, Vũ Văn Kỷ, Nguyễn Văn Phúc với đề tài “Kinh tế
hợp tác xã trong nông nghiệp ở Việt Nam” của nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Hà Nội năm 2003;
-
Tác giả Thu Hà với đề tài “Xây dựng họp tác xã kiểu mới ở Đồng Bằng Sông Cửu
Long”, Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam ngày 21 tháng 2 năm 2015;
-
Tác giả Phảm Bảo Dương với đề tài: “Xây dựng các hình thức tố chức sản xuất
phù họp trong nông nghiệp nông thôn” tạp chí kinh tế và dự báo số 9/2004 trang
12 - 14;
-
Nhóm tác giả Trường Giang, Văn Thao với đề tài: “ Hà Giang phát triển kinh tế
Thành phố Hà Giang trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
* Đối tượng
Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của các Hợp tác xã ở
Thành phố Hà Giang
* Phạm vi nghiên cún
Khóa luận đi sâu vào tìm hiểu trong phạm vi các họp tác xã ở Thành phố
Hà Giang - Tỉnh Hà Giang trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014.
5. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử. Ngoài ra, khóa luận còn sử dụng phương pháp nghiên
cứu lý thuyết, phương pháp thu thập dữ liệu, phương pháp phân tích tổng hợp,
phương pháp thống kê so sánh
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Khóa luận làm rõ hơn về cơ sở lý luận và thực tiễn về nguyên nhân ảnh
hưởng đến hoạt động và hiệu quả kinh tế của các họp tác xã ở Thành phố Hà
Giang.
- Khóa luận có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên và vận dụng xây
dựng các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của các Hợp tác xã ở Thành phố Hà
Giang trong thời gian tới.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo nội dung của khóa luận còn bao gồm 3 chương và 7
tiết.
Chương 1. LÝ LUẬN CHUNG VÈ HỢP TÁC XÃ
1.1.
Khái niệm và cơ cấu về Họp tác xã
Trong thực tiễn hiện nay, tổ chức cơ cấu hợp tác xã phụ thuộc chủ yếu vào
quy mô số lượng thành viên tham gia sáng lập ra họp tác xã để thành lập ra hội
đồng quản trị, ban giám đốc và ban kiểm soát với số lượng thành viên tham gia
cho phù họp.
- Trường hợp những hợp tác xã, liên minh hợp tác xã có từ 07 thành viên
đến dưới 30 thành viên thông thường được tổ chức như sau:
Hội đồng quản trị đồng thời là giám đốc (tổng giám đốc) hoặc thuê giám
đốc (tổng giám đốc) số thành viên là 03 người; Các chức danh chủ tịch hội đồng
quản trị, phó chủ tịch hội đồng quản trị được đại hội các thành viên bầu trực tiếp
thống qua bỏ phiếu kín.
+ Trong trường hợp thuê giám đốc (tổng giám đốc) thì thành viên hội đồng
quản trị có thể được đại hội bầu trục tiếp kiêm nhiệm Trưởng ban kiểm soát và
kiểm soát viên đại diện cho các thành viên trong họp tác xã giám sát hoạt động
điều hành hợp tác của giám đốc (tổng giám đốc).
+ Trong trường hợp không thuê giám đốc (tổng giám đốc) họp tác xã, liên
minh hợp tác xã thành lập Ban kiểm soát 03 thành viên độc lập với Hội đồng quản
trị thông qua bầu trục tiếp của đại hội các thành viên. Nhằm kiểm tra, giám sát
hoạt động điều hành của hội đồng quản trị, ban giám đốc trong công tác điều hành
hoạt động họp tác xã, liên minh họp tác xã.
- Trường hợp những hợp tác xã, liên minh hợp tác xã có từ 30 thành viên
trở lên thông thường được tổ chức là:
+ Thành lập Hội đồng quản trị gồm chủ tịch và thành viên, số lượng thành
viên hội đồng quản trị được thành lập tối thiểu là 03 người, tối đa là 15 người các
chức danh trong Hội đồng quản trị, Ban giám đốc và thành viên do đại hội các
thành viên bầu trực tiếp bằng phiếu kín.
+ Thành lập Ban kiểm soát thì số lượng thành viên ban kiểm soát do đại hội
thành viên quyết định nhưng không quá 07 người đồng thời được tiến hành bầu
dựng phát triển đất nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay. Với sự
phát triến của hợp tác xã trên các lĩnh vực, ngành nghề và sự đa dạng về quy mô
phát triển của các họp tác xã ở nước ta hiện nay có thể lấy đó làm tiêu chí để tiến
hành phân chia họp tác xã thành các loại hình đó là:
- Căn cứ theo phạm vi lĩnh vực ngành có thể phân chia hợp tác xã, liên
minh họp tác xã theo loại hình sau:
+ Loại hình hợp tác xã, liên minh hợp tác xã hoạt động sản xuất nông, lâm,
ngư nghiệp;
+ Loại hình họp tác xã, liên minh hợp tác xã hoạt động sản xuất trong lĩnh
vực tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp bao gồm công nghiệp chế biến, công
nghiệp vụ gia công, công nghiệp khai thác, công nghiệp sản xuất...
+ Loại hình họp tác xã, liên minh họp tác xã hoạt động trong lĩnh vực kinh
doanh, dịch vụ, du lịch, tín dụng.
- Căn cứ theo quy mô số lượng thành viên và quy mô về vốn, quy mô về
hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có thể phân chia hợp tác xã, liên minh
họp tác xã theo các loại hình sau:
+ Loại hình hợp tác xã nhỏ và vừa: Đó là các hợp tác xã có số lượng thành
viên ít, quy mô vốn hoạt động không nhiều, khả năng sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ hạn chế, trình độ kỹ thuật thấp.
+ Loại hình hợp tác xã, liên minh hợp tác xã phát triển và lớn: Là các hợp
tác xã có số lượng thành viên đông, vốn hoạt động theo điều lệ lớn, quy mô sản
xuất, dịch vụ tham gia vào thị trường trong nước, khu vực, quốc tế rộng lớn, có
định mức kỹ thuật cao.
- Căn cứ vào tính chất ngành, nghề hoạt động sản xuất, kinh doanh của hợp
tác xã, liên hợp tác xã có thể phân chia loại hình hợp tác xã thành các loại hình
sau:
+ Loại hình hợp tác xã, liên minh hợp tác xã sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
đơn ngành, đơn cấp. Là các hợp tác xã, liên minh hợp tác xã chỉ thực hiện sản
mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thành viên, họp tác xã thành viên hoặc
theo công sức lao động đóng góp của thành viên đối với họp tác xã tạo việc làm.
- Họp tác xã, liên hiệp họp tác xã quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng
cho thành viên, hợp tác xã thành viên, cán bộ quản lý, người lao động trong hợp
tác xã, liên hiệp hợp tác xã và thông tin về bản chất, lợi ích của họp tác xã, liên
hiệp hợp tác xã.
- Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã chăm lo phát triển bền vững cộng đồng
thành viên, hợp tác xã thành viên và hợp tác với nhau nhằm phát triển phong trào
hợp tác xã trên quy mô địa phương, vùng, quốc gia và quốc tế.
1.3.
Các yếu tố tác động ảnh hưỏng đến hiệu quả kinh tế của Họp
tác xã
Trong thực tiễn cho thấy hoạt động của các Hợp tác xã, liên minh hợp tác
xã ở nước ta hiện nay có đem lại hiệu quả kinh tế hay không phụ thuộc vào rất
nhiều yếu tố khác nhau tác động có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt
động của các Hợp tác xã, liên minh hợp tác xã. Đòi hỏi trong hoạt động định
hướng, phát triến, các Họp tác xã cần phải chú ý đến các yếu tố tác động ảnh
hưởng đến hoạt động của mình. Từ đó lựa chọn phát huy các yếu tố tích cực thúc
đẩy hoạt động của các hợp tác xã được hiệu quả, nâng cao vai trò vị trí kinh tế hợp
tác xã thực sự trở thành một bộ phận cấu thành nền tảng nền kinh tế quốc dân của
nước ta trong thời kỳ quá độ xây dựng phát triển đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Đồng thời có biện pháp khắc phục những hạn chế các yếu tố tác động ảnh hưởng
đến hoạt động của hợp tác xã trong thực hiện sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Vì
vậy, trong công tác định hướng, quản lý điều hành các hợp tác xã, liên minh họp
tác xã các nhà nghiên cứu hoạch định chính sách và quản lý họp tác xã ở mọi cấp,
mọi ngành, các địa phương ở nước ta phải chủ động phát hiện tìm hiểu làm rõ các
doanh chưa thật sự đa dạng nên thời kỳ này các họp tác xã hầu hết được xây dựng
và phát triển trong lĩnh vực ngành nông nghiệp. Từ năm 2000 trở lại đây kinh tế
nước ta luôn có tốc độ tăng trưởng khá GDP đạt bình quân từ 6% đến 7%/năm,
hoạt động sản xuất, kinh doanh phát triển mạnh, nhiều ngành nghề mới được hình
thành và phát triển tạo ra nhũng điều kiện kinh tế xã hội thuận lợi cho hợp tác xã,
liên minh hợp tác xã phát triển mạnh mẽ theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực và hoạt
động ngày một hiệu quả. Hoạt động của các họp tác xã gắn liền với lợi ích phát
triển kinh tế của các thành viên, trên cơ sở tự chủ về kinh tế và hoạt động tự hoạch
toán, tự kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về các hoạt động đó, là cơ sở khơi dậy
tích chủ động sáng tạo để các họp tác xã, liên minh hợp tác xã lựa chọn phương án
tối ưu trong toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ vì lợi ích của tập thể
gắn với sự phát triển của hợp tác xã và sự phồn vinh của xã hội.
* về vốn và khoa học công nghệ.
- Sự tiến bộ khoa học kỹ thuật và định mức khoa học kỹ thuật là tiêu chí
đánh giá nấc thang phát triển của lực lượng sản xuất, là cơ sở khách quan tác động
ảnh hưởng trục tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của các họp tác
xã, liên minh hợp tác xã. Nhũng vùng, những địa phương có điều kiện khoa học
kỹ thuật phát triển tiến bộ thường lao động ở những nơi đó có trình độ tay nghề
chuyên sâu, có khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật vào đời sống sản xuất xã hội
tốt. Do đó các họp tác xã, liên minh họp tác xã cũng có điều kiện phát triển thuận
lợi và dễ dàng úng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ vào hoạt động sản xuất,
kinh doanh được hiệu quả. Đặc biệt là trình độ tay nghề và năng lực ứng dụng
khoa học kỹ thuật, công nghệ của lao động là thành viên của các hợp tác xã trục
tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ sẽ thúc đấy hoạt động
của hợp tác xã được hiệu quả cao sẽ thúc đẩy hợp tác xã không ngừng phát triển.
-
về vốn: Vốn được biểu hiện dưới dạng tiền tệ đầu tư vào hoạt động sản xuất, kinh
bình đắng trước pháp luật với các đơn vị kinh tê khác; có trách nhiệm phát huy
tính mi việt của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa” [tr 3]. Với chủ trương, đường
lối đúng đắn đó đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để thành phần kinh tế tập thể Hợp tác xã phát triển đi vào chiều sâu nâng cao năng lực hoạt động sản xuất kinh
doanh của các hợp tác xã đã và đang góp phần quan trọng cùng với thành phần
kinh tế nhà nước định hướng xây dựng phát triển đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội
ở nước ta hiện nay.
Chương 2. THỤC TRẠNG VÈ HIỆU QUẢ KINH TÉ CỦA CÁC HỢP TÁC
XÃ Ở THÀNH PHÓ HÀ GIANG
2.1.
Đặc đỉễm tình hình kinh tế xã hội của Thành Phố Hà Giang
Thành phố Hà Giang là trung tâm kinh tế, chính trị của tỉnh Hà Giang, nằm
ở vị trí trung tâm của tỉnh, cách biên giới Việt Nam - Trung Quốc 23kmvà cách
Hà Nội 318 km. Ba phía Bắc, Tây và Nam giáp với huyện Vị Xuyên, phía Đông
giáp huyện Bắc Mê. Thành phố được thành lập ngày 27 tháng 9 năm 2010 trên cơ
sở mở rộng và nâng cấp thị xã Hà Giang. Hiện nay, thành phố có diện tích tự
nhiên là: 135,33 km2 và có 14.355 hộ với 52.135 nghìn nhân khẩu, gồm 22 dân
tộc cùng chung sống đoàn kết xây dựng và phát triển thành phố Hà Giang, trong
đó người Kinh chiếm 55,7% và người Tày chiếm 22% còn lại là các dân tộc khác.
Địa giới hành chính của thành phố được chia thành 8 đơn vị xã, phường; trong đó
có 5 phường nội thị gồm phường Nguyễn Trãi, Quang Trung, Trần Phú, Minh
Khai, Ngọc Hà và 3 xã Ngọc Đường, Phương Độ, Phương Thiện và tiếp tục thực
hiện hoàn thành việc quy hoạch mở rộng đô thị, triển khai các dự án đầu tư hạ
tầng kỹ thuật. Điều chỉnh địa giới hành chính thành lập thêm 2 phường mới, phấn
đấu từng bước nâng cấp hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị để nâng cấp
thành phố lên đô thị loại II theo quyết định 190 của Thủ tướng Chính phủ đang
tạo ra diện mạo mới thúc đẩy kinh tế- xã hội của thành phố Hà Giang phát triển
bền vũng đồng thời tạo động lực thúc đẩy phát triến kinh tế xã hội các khu vực lân
phương khác trong nước và nước ngoài do chi phí vận chuyển tăng làm cho giá
thành của sản phẩm cao giảm sức cạnh tranh sản phẩm hàng hóa cùng loại trên thị
trường.
Thành phố Hà Giang có điều kiện thuận lợi là trung tâm kinh tế, chính trị,
văn hóa xã hội của tỉnh Hà Giang. Tăng trưởng kinh tế trong nhiều năm qua luôn
đạt mức cao bình quân trên 10%, mức thu nhập bình quân đầu người đạt mức khá
bình quân đạt gần 30 triệu đồng/người/năm. Có trình độ dân trí phát triển cao, đa
số lao động trên địa thành phố Hà Giang đều được qua đào tạo nghề có năng lực
ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào hoạt động sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ. Hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị như giao thông, điện,
nước, thông tin liên lạc phát triển mạnh và đồng bộ. Vốn đầu tư toàn xã hội cho
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ liên tục gia tăng tạo ra nhiều việc làm mới nâng cao
thu nhập và không ngừng cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Đặc
biệt thành phố Hà Giang đang đầu tư thực hiện xây dựng phát triển nâng cấp
thành phố lên đố thị loại II vào năm 2020 theo quy hoạch tổng thể phát triển thành
phố Du lịch, dịch vụ. Những yếu tố đó đã tạo ra những cơ hội và thách thức mới
ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của các hợp tác
xã ở thành phố Hà Giang như: Tạo cơ hội cho các họp tác xã mở rộng phát triển
quy mô sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thuộc mọi lĩnh vực ngành nghề đặc biệt là
các ngành kinh doanh dịch vụ phục vụ cho phát triển du lịch như dịch vụ nhà
nghỉ, dịch vụ vui chơi giải trí, dịch vụ ăn uống, dịch vụ vận tải hàng hóa, hành
khách ... Đồng thời cũng là cơ hội để các cơ sở sản xuất trong lĩnh vực công
nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triến sản phẩm thương hiệu sản phẩm ra thị
trường ngoại tỉnh và nước ngoài. Tuy nhiên, cũng tạo ra những thách thức, khó
khăn nhất định cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của các cơ sở sản xuất
ở thành phố Hà Giang là: Đòi hỏi phải nâng cao chất lượng, giá thành của sản
phẩm hàng hóa và dịch vụ để nâng khả năng cạnh tranh trên thị trường, đó là điều
kiện cơ bản để các họp tác xã khắng định uy tín, vị trí của mình trên thị trường
dựng đạt 719,75 tỷ dồng; Nông lâm nghiệp, thủy sản dạt 223,64 tỷ dồng; Giảm tỷ
lệ hộ nghèo toàn thành phố còn 0,38%.
Với nhũng đặc điểm kinh tế xã hội của thành phố Hà Giang, nhũng năm
qua thành phố đã tạo ra những cơ hội thuận lợi hình thành phát triển thêm nhiều
loại hình hợp tác xã. Đồng thời hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của các
hợp tác xã đã góp phần trực tiếp quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của
thành phố Hà Giang trên con đường xây dựng phát triển thành phố theo hướng
hiện đại phồn thịnh, văn minh, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân
chủ, công bằng, văn minh” của Đảng, Nhà nước ta tại thành phố Hà Giang.
2.2.
Thực trạng về hiệu quả kinh tế của các hợp tác xã ở Thành phố Hà
Giang
Qua tìm hiểu, nghiên CÚ11 và khảo sát thực tiễn hoạt động của các hợp tác
xã tại thành phố Hà Giang giai đoạn (2011 - 2014) cho thấy một thực trạng của
các họp tác xã như sau: