Một số giải pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Sài Gòn - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐẶNG NGỌC THÔNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGHỆ AN - 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐẶNG NGỌC THÔNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS. TS. NGUYỄN VIẾT NGOẠN


MỤC LỤC
Trang



DANH MỤC VIẾT TẮT
CBQL

Cán bộ quản lý

CSVC

Cơ sở vật chất

CVHT

Cố vấn học tập

GD - ĐT

Giáo dục - Đào tạo

HĐTH

Hoạt động tự học

SV

Sinh viên

động tự học của sinh viên hệ vừa làm vừa học tại Trường Đại học Sài Gòn
để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Xuất phát từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề chất lượng đào
tạo, vấn đề tự học, tự nghiên cứu của sinh viên Đại học hệ VLVH, luận văn đi
sâu nghiên cứu thực trạng quá trình tự học, tự nghiên cứu của sinh viên hệ
VLVH và công tác quản lý hệ VLVH tại trường Đại học Sài Gòn, nhằm góp
phần phục vụ cho nghiên cứu, quản lý và giảng dạy ở các trường Đại học
đang đào tạo SV hệ VLVH nói chung và Đại học Sài Gòn nói riêng.
Thông qua cơ sở lý luận, luận văn sẽ đưa ra kết quả: Chứng minh rằng
việc quản lý tự học, tự nghiên cứu của sinh viên là hoạt động vô cùng cần


thiết, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo hệ VLVH, góp phần rút ngắn
khoản cách nhìn nhận và phân biệt giữa các hệ đào tạo trong Giáo dục - Đào
tạo (GD-ĐT). Từ đó đưa ra những kiến nghị, những giải pháp quản lý tự học
của SV hệ VLVH tại trường Đại học Sài Gòn trong những năm tới.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động tự học của SV hệ VLVH ở các trường đại học.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp quản lý hoạt động tự học của SV hệ VLVH tại Trường Đại
học Sài Gòn.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu tìm được giải pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên hệ
VLVH tại trường Đại học Sài Gòn phù hợp thì chất lượng học tập của sinh
viên sẽ được nâng cao, đáp ứng mục tiêu đào tạo của nhà trường trong giai
đoạn hiện nay.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề quản lý hoạt động tự học của

nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu của SV hệ VLVH tại Trường Đại học
Sài Gòn.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục nghiên cứu.
Luận văn có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý hoạt động tự học.
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của vấn đề quản lý hoạt động tự học của
sinh viên hệ vừa làm vừa học tại Trường Đại học Sài Gòn.
Chương 3: Một số giải pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên hệ
vừa làm vừa học tại Trường Đại học Sài Gòn.


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài
Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về tự học và các tổ chức
hoạt động tự học.Tự họclà một vấn đề đã được nhiều nhà giáo dục học trên
thế giới quan tâm dưới các góc độ khác nhau: phát huy tính tích cực, tính độc
lập, tính tự giác, tính sáng tạo của người học như các nhà khoa học giáo dục
Xôcơrat, Khổng Tử, Cômenxki, Đixtecvec, Usinxki. Ngay từ những năm
trước công nguyên, XôCơRát (469 - 339 TCN) đã đưa ra quan niệm rất nổi
tiếng: Giáo dục nhằm giúp con người tự khẳng định chính mình. Vận dụng
quan điểm đó vào dạy học, ông cho rằng cần phải để cho người học tự suy
nghĩ, tự tìm tòi, cần giúp người học tự phát hiện thấy sai lầm của mình và tự
khắc phục những sai lầm đó. Đến thế kỷ 17, J.A.Cômenxki (1592-1670) đã
tìm ra phương pháp cho phép giáo viên, giảng viên giảng dạy ít hơn, học sinh
học nhiều hơn. Ông đề ra một số nguyên tắc dạy học mà cho đến nay vẫn có
tác dụng nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh là: Nguyên tắc đảm

hướng: Phát huy tính tích cực, tính tự giác của học sinh trong học tập dưới sự
hướng dẫn, điều khiển trực tiếp của thầy, kết hợp với quản lý và tự quản lý
hoạt động học tập của học sinh.
Đáp ứng với xu thế phát triển của thời đại, đáp ứng những yêu cầu đổi
mới của các quốc gia trên thế giới, các nhà giáo dục học ở các nước phát triển
đã đi sâu nghiên cứu để tối ưu hóa việc học, hình thành, phát triển năng lực tự
học để người học có thể học thường xuyên, học suốt đời. Makiguchi,


B.P.Exipov, khi nghiên cứu bản chất tự học của SV, các tác giả đã chỉ ra rằng:
bản chất tự học của SV là hoạt động nhận thức bằng hành động tìm tòi,
nghiên cứu, khám phá. Đây chính là cơ sở lý luận của vấn đề tổ chức hoạt
động tự học cho SV.
Cuối thế kỉ XX ảnh hưởng của sự phát triển khoa học kỹ thuật, đặc biệt
là ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghệ, phần lớn các nhà giáo dục học
đã nghiên cứu tự học theo hai hướng chính: Hướng thứ nhất là nghiên cứu áp
dụng công nghệ dạy học, nhằm thay đổi vị trí của thầy và trò trong quá trình
dạy học, từ chuyên gia về việc dạy, giáo viên phải chuyển sang chuyên gia về
việc học của người học; Hướng thứ hai là dạy học phân hoá, dạy học tiến
hành theo nhịp độ cá nhân người học để đạt tới năng suất và hiệu quả cao nhất
trong việc học, dạy học cần phải được tổ chức hướng vào người học. Tiêu
biểu cho các hướng nghiên cứu trên là Raja Roy Singh. Ông đã nghiên cứu
vai trò của năng lực tự học trong việc học tập thường xuyên và học tập suốt
đời, đề cao vai trò chuyên gia cố vấn của người thầy trong việc học tập
thường xuyên, học tập suốt đời, trong việc hình thành phát triển năng lực tự
học của người học.
Năm 1986, Sharma và R. Ahmed đã nghiên cứu hoạt động tự học như
là một hình thức tổ chức dạy học bằng cách dạy phương pháp cho người học.
Theo tác giả Sharma và R. Ahmed, người ta có thể dạy phương pháp tự học
cho SV bằng nhiều hình thức khác nhau tùy theo điều kiện, hoàn cảnh, tùy

sinh quan, thế giới quan để chiếm các lĩnh vực thành sở hữu của mình”.
- Theo GS Vũ Văn Tảo (Tạp chí Tháng 4/2001) “Học, cốt lõi là tự học,
là quá trình phát triển nội tại, trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình…”.
- Theo TS Võ Quang Phúc (Tạp chí Tháng 4/2001): “Học, một khi
được hiểu như là sự chiếm lĩnh kinh nghiệm của nhân loại, thì tự nó bao gồm


cả HĐTH. Nói khác đi, tự học là bộ phận của học, nó cũng được tạo thành bởi
những thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của người học trong hệ thống
tương tác của hoạt động dạy học. Tự học phản ánh rõ nhất nhu cầu bức xúc về
học tập của người học, phản ánh năng lực tổ chức và tự điều khiển của người
học nhằm đạt kết quả nhất định trong hoàn cảnh nhất định với một nội dung
học tập nhất định”.
Trong một số công trình nghiên cứu về tự học và tổ chức hoạt động tự
học thì tính tích cực, tính độc lập, động cơ học tập của người học giữ một vai
trò rất quan trọng đối với chất lượng và hiệu quả của hoạt động tự học
(Nguyễn Ngọc Bảo, Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức). Kiểm tra đánh giá là khâu
then chốt nhằm giúp người thầy điều chỉnh, điều khiển hoạt động dạy của
mình, điều khiển, điều chỉnh hoạt động học của trò, đồng thời giúp người học
tự điều khiển, tự điều chỉnh hoạt động học tập nhằm nâng cao chất lượng,
hiệu quả của hoạt động dạy học. Bên cạnh đó, kiểm tra đánh giá còn là một
nhân tố phát huy tính tích cực của người học trong quá trình tự học và hình
thành kỹ năng tự đánh giá ở SV.
Qua các quan điểm về tự học nêu trên, chúng tôi hiểu rằng, tự học là
hoạt động tổ chức nhận thức độc lập của từng người học, tự phát huy năng
lực cá nhân để thực hiện các nhiệm vụ tự học xác định. Tự học là “tự động
học tập”, thể hiện tính tự lực, tự giác, tích cực cao trong quá trình lĩnh hội
kiến thức, rèn luyện kỹ năng. Vì vậy, tự học mang đậm sắc thái cá nhân, biểu
hiện ở: tự xác định mục tiêu chiếm lĩnh kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hoàn
thành các nhiệm vụ tự học cụ thể đặt ra trong từng giờ học, buổi học; tự lập

năng của mỗi cá nhân chỉ được hình thành bền vững và phát huy hiệu quả
thông qua các hoạt động tự thân ấy. Để có được kết quả và đạt tới sự hoàn
thiện thì mỗi SV phải tự thân tiếp nhận tri thức từ nhiều nguồn; Tự thân rèn
luyện các kỹ năng; Tự thân bồi dưỡng tâm hồn của mình ở mọi nơi mọi lúc.


Như vậy, hoạt động học là hoạt động của người học nhằm tổ chức các
điều kiện bên trong và bên ngoài đảm bảo cho việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo có hiệu quả.
1.2.1.2. Khái niệm hoạt động
“Hoạt động là sự tương tác tích cực của chủ thể và đối tượng nhằm biến
đổi đối tượng theo mục đích mà chủ thể tự giác đặt ra để thỏa mãn nhu cầu
của bản thân”. Hoạt động nảy sinh từ nhu cầu nhưng lại được điều chỉnh bởi
mục tiêu mà chủ thể nhận thức được, nghĩa là nhu cầu, là cơ sở xuất phát, là
động cơ của hoạt động, nhưng nội dung, hình thái của hoạt động lại chịu sự
chi phối bởi mô hình lý tưởng của kết quả mong muốn, của sự biến đổi đối
tượng. Cấu trúc hoạt động gồm ba cấp độ từ thấp đến cao: cấp bậc thao tác,
cử động; cấp bậc hành động và cấp bậc hoạt động. Hoạt động gồm hai thành
tố cơ bản là chủ thể và đối tượng, đồng thời có hai đặc trưng đó là:
- Tính đối tượng: là đối tượng khách quan có khả năng thỏa mãn nhu
cầu và được chủ thể chọn.
- Tính chủ thể: là khi cá nhân trở thành chủ thể của hoạt động, là những
tác động tích cực để biến đổi chiếm lĩnh đối tượng và qua đó, chủ thể và đối
tượng được cải tạo.
1.2.1.3. Hoạt động tự học
HĐTH là quá trình tổ chức nhận thức độc lập, tự phát huy năng lực cá
nhân một cách tích cực, tự giác, tự lực chiếm lĩnh tri thức khoa học. HĐTH về
bản chất là sự tiếp thu, tự xử lý thông tin, chủ yếu bằng các thao tác trí tuệ
- Cấu trúc hệ thống của HĐTH
+ Động cơ: là lực đẩy trực tiếp, là nhu cầu hứng thú tạo ra sự chú ý liên

HĐTH rất phong phú, có thể kể đến: nghiên cứu bút ký, đọc và nghiên cứu


giáo trình, tài liệu, ghi chép tài liệu học tập, ghi nhớ tài liệu học tập, chuẩn bị
cho các buổi học sau, bài học sau, trao đổi, tranh luận học hỏi; ôn luyện…
+ Về nội dung tự học mở rộng: ngoài những nội dung tự học bắt buộc
theo mục tiêu, yêu cầu, chương trình đào tạo của Nhà trường, người học có
thể tự học, tự nghiên cứu những lĩnh vực tri thức theo sở thích, sở trường cá
nhân. Nội dung tự học thường xuyên có ý nghĩa là phương tiện từng bước
thực hiện và hướng tới nội dung tự học cơ bản. Nội dung tự học cơ bản biểu
hiện cụ thể và được thực hiện thông qua nội dung tự học thường xuyên. Nội
dung tự học mở rộng có tác động tích cực, bổ sung, làm phong phú hơn cho
nội dung tự học cơ bản và nội dung tự học thường xuyên.
1.2.2. Sinh viên hệ vừa làm vừa học
Phần lớn SV hệ Đại học VLVH là những người vừa đi làm, vừa đi học,
nên họ chịu áp lực công việc, áp lực gia đình. Bên cạnh đó, tuổi tác cũng có
ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng học tập. Việc đến lớp đầy đủ đã là một
cố gắng lớn, việc làm bài tập và tự nghiên cứu thêm ở nhà chắc chắn là phải
cần có một lòng quyết tâm cao độ. Việc tự học, tự nghiên cứu chỉ phát huy tốt
khi mà việc học tập thực sự cần thiết cho công việc của người học. Tuy nhiên,
cónhiều SV hệ Đại học VLVH là những người trẻ tuổi, những người chưa có
việc làm, nên học đầu tư và chăm chỉ học và nghiên cứu mang lại chất lượng
học tập cao.
1.2.3. Giải pháp quản lý hoạt động tự học
Muốn nâng cao hiệu quả của hoạt động tự học của SV đòi hỏi người
thầy giáo ngoài chức năng tổ chức, hướng dẫn, truyền đạt... cần phải dạy cách
thao tác với đối tượng, cách chiếm lĩnh đối tượng cho SV, hay nói cách khác
là hướng dẫn phương pháp học, cách học cho SV.
Tự học có hiệu quả cao khi tạo được môi trường học tập cho người học,
khi người học không ngừng rèn luyện cho mình một hệ thống kỹ năng tự học.


trong dạy học. Hoạt động học gắn chặt với HĐTH, tự học là cốt lõi của việc
học. Qua tự học sẽ giúp người học tự kiểm tra mức độ kết quả lĩnh hội kiến
thức, kỹ năng, kỹ xảo để người học tự điều chỉnh hoạt động học tập của mình.
Tự học còn giúp SV hình thành niềm tin khoa học và rèn luyện ý chí
phấn đấu, đức tính kiên trì, phê phán, bồi dưỡng hứng thú học tập, lòng say
mê nghiên cứu khoa học. Qua HĐTH SV mới tìm ra những vấn đề cần nghiên
cứu sâu, có những chính kiến của bản thân và tìm những luận cứ để chứng
minh hay phản biện các vấn đề khoa học, từ đó hình thành những đức tính tốt
đối với một nhà khoa học thực thụ. Những đức tính đó không thể được truyền
từ người dạy qua người học mà chính người học phải tích cực lao động bằng
trí óc mới có thể hình thành.
Tự học không những giúp SV không ngừng nâng cao chất lượng và
hiệu quả học tập từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn có thể hình thành
phương pháp, niềm tin, thái độ tự học, tự nghiên cứu suốt đời để thích ứng với
sự biến đổi nhanh chóng, toàn diện, tốc độ cao của xã hội.
Tự học giúp nâng cao chất lượng GD - ĐT của nhà trường. Mục tiêu
của giáo dục đào tạo là biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Quá
trình đào tạo phải tạo ra những người biết tự học, có phương pháp tự học và
tự học một cách có hiệu quả chứ không phải dạy học một cách nhồi nhét, thụ
động, áp đặt. Nhất là trong dạy học ở bậc đại học thì mục tiêu đó càng trở nên
quan trọng và có ý nghĩa, vì thực chất học ở bậc đại học là học phương pháp
và chỉ học những kiến thức cơ bản mang tính chất nền tảng. Tự học một cách
sáng tạo sẽ giúp nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập của người học, từ đó
sẽ nâng cao chất lượng của quá trình GD - ĐT.
Như vậy, tự học đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình
nhận thức của cá nhân, góp phần nâng cao chất lượng GD - ĐT. Vấn đề là
HĐTH có cần được quản lý hay không? Nếu có thì phải quản lý như thế nào



biết một kiến thức nào đó và bằng nỗ lực của bản thân cố gắng chiếm lĩnh
được kiến thức đó.
Ở các trường đại học, tự học là cần thiết và là cách học ở đại học. Đó là
một hình thức tổ chức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm chiếm lĩnh hệ
thống tri thức và kỹ năng do chính bản thân người học tiến hành. Khi SV tự
mình huy động mọi phẩm chất, năng lực của bản thân để tiến hành các hoạt
động tìm tòi, khám phá độc lập nhằm mục đích chiếm lĩnh tri thức là họ tiến
hành hoạt động tự học.
1.3.4. Điều kiện để thực hiện hoạt động tự học
Tự học là yếu tố quyết định chất lượng học tập, chất lượng đào tạo, là
con đường nhanh chóng đưa sự nghiệp giáo dục nước ta tiến kịp các nước
trong khu vực và trên thế giới.
Tự học được xuất phát từ chính nhu cầu muốn học hỏi, muốn gia tăng
sự hiểu biết để làm việc và sống tốt hơn của mỗi người, là hình thức học tập
không thể thiếu được của SV đang học tập tại các trường đại học. Thực tế
giảng dạy tại các trường đại học cho thấy, nếu SV không chịu khó học tập,
đào sâu nghiên cứu, mở rộng thêm kiến thức bằng cách học tập độc lập thì các
thầy giáo, cô giáo có dạy giỏi, có kiến thức sâu rộng và trình độ nghiệp vụ
vững vàng đến mấy chất lượng học tập cũng không thể cao.
Hiện nay, xã hội đặt ra cho giáo dục và đào tạo ngày càng khắt khe, đòi
hỏi các trường đại học không chỉ đào tạo ra nguồn nhân lực thông thạo về lý
thuyết mà còn phải biết vận dụng, ứng dụng những kiến thức đó vào thực tiễn
đời sống. Để đáp ứng yêu cầu đó, các trường đại học đã phát động đổi mới
phương pháp học tập. Tuy các đội ngũ giảng viên đã tiến hành ứng dụng
nhưng chuyển biến về chất lượng trong giờ dạy chưa thật sự có kết quả cao.
Bởi SV quen với việc thụ động trong việc tiếp nhận, áp đặt. Trong bài giảng


của thầy giáo, cô giáo đều có phần định hướng, tổ chức tự học cho SV nhưng
nhiều khi SV chỉ thực hiện một cách sơ sài. Như vậy, việc tự học của SV được

giảng, lúc mà thầy cô láy đi láy lại nhiều lần. Và khi đã nắm được cái “thần”
bài giảng của thầy cô thì chính là lúc đã lớn lên trong ta niềm tin khoa học và
tự tin hơn.
Ghi chép cẩn thận khi gặp những vấn đề liên quan đến ngành học của
mình - đây là hoạt động tự mình lượm lặt tri thức mà tri thức này nằm rải rác
ở nhiều nơi, trong giáo trình, ở sách báo tham khảo, trên mạng, trong hội thảo,
trong cuộc sống hàng ngày. Ghi chép cũng cần ngắn gọn, cô đọng, cần nhấn
mạnh bằng ký hiệu của chính bản thân mà mình cho là tâm đắc, sâu sắc và cả
thích thú nữa. Đánh dấu những vấn đề mà còn chưa hiểu, nghi hoặc hay cần
mở rộng và đào sâu. Với các ngành khoa học xã hội và nhân văn nên chú ý
việc đưa ra các hình ảnh minh họa, phân tích hình ảnh minh họa của thầy cô.
Ghi chép ngắn gọn là kết quả của sự lắng đọng của bản thân khi tiếp cận tri
thức. Phải biết cách ghi chép cho riêng mình.
- Tự đọc, tự nghiên cứu làm căn bản. Xem, nhìn, nghe, đọc là các
khâu quan trọng mở đầu, sau đó là nghiên cứu, là trao đổi. Nói cách khác là
các hoạt động này phải có hướng đích. Đọc sách ngày nay dường như được
xếp dưới nghe, nhìn, nhưng nếu không đọc thì sẽ là một hẫng hụt lớn và là
sai lầm nghiêm trọng. Khâu đọc lả rất cần thiết, cách đọc là quan trọng. Đọc
bao giờ cũng mang lại cảm giác khác với nghe, nhìn. Đó là quá trình thẩm
thấu các con chữ với sức nặng của tầng sâu tri thức. Ta suy nghĩ đằng sau
chữ ấy, cách lập luận ấy, các tác giả muốn nói gì, toát ra nội dung gì, truyền
báo thông điệp gì.


Trích đoạn Xem trên mạng Internet 
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status