Một số giải pháp quản lí công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm trường đại học Vinh - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-----------------

ĐẶNG THỊ BÍCH HẠNH

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÍ CÔNG TÁC
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO
SINH VIÊN SƯ PHẠM TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGHỆ AN – 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-----------------

ĐẶNG THỊ BÍCH HẠNH

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÍ CÔNG TÁC
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO
SINH VIÊN SƯ PHẠM TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Chuyên ngành: Quản lí giáo dục
Mã số : 60.14.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:


Quản lí nhà trường
Giáo dục

QLNT

Đạo đức
Đạo đức nghề nghiệp
Giáo dục đạo đức nghề nghiệp
Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm

GD
ĐĐ
ĐĐNN
GDĐĐNN
RLNVSP


MỤC LỤC


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Về mặt lý luận
Phát triển nguồn lực con người là phát triển đức và tài, hai mặt của nhân cách mà
nhà trường giữ vai trò quan trọng trong sự hình thành nhân cách. “Mục tiêu giáo dục là
đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện có đạo đức, tri thức, sức khỏe thẩm
mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình
thành và bồi dưỡng nhân cách phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Điều 2 Luật Giáo dục của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa

mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp,
ý thức trách nhiệm xã hội,… Đẩy mạnh đào tạo nghề theo nhu cầu phát triển của xã
hội; có cơ chế và chính sách thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp với
cơ sở đào tạo. Xây dựng và thực hiện các chương trình, đề án đào tạo nhân lực cho các
ngành, lĩnh vực mũi nhọn, ...nâng cao tỉ lệ lao động qua đào tạo’’.
Để phát triển giáo dục và đào tạo đạt hiệu quả cao, trước tiên phải nâng cao chất
lượng đội ngũ giáo viên. Giáo viên ở bất cứ cấp học nào, bậc học nào cũng là người
giữ trọng trách trước một thế hệ. Theo G.S -V.S Phạm Minh Hạc: “Giáo viên là nhân
tố quyết định chất lượng giáo dục và nhân cách người thầy giáo là một nhân tố đảm
bảo chất lượng giáo dục. Sứ mệnh ấy đặt lên vai người thầy giáo, đòi hỏi người thầy
không những phải có vốn kiến thức phong phú, sâu rộng mà còn phải có phẩm chất
đạo đức trong sáng để xứng đáng là người dẫn đường trên con đường dạy học và giáo
dục”.. Việc hình thành những phẩm chất đạo đức của người thầy giáo cho sinh viên là
một trong những nhiệm vụ rất quan trọng của nhà trường sư phạm cần được quan tâm
ngay từ khi họ bước vào trường vì: “Tri thức có thể có được bằng cách luyện cấp tốc
trong một thời gian ngắn nhưng phẩm chất kĩ năng nghề nghiệp thì không thể có được
trong ngày một ngày hai, ... Những phẩm chất đó muốn có phải được tổ chức giáo dục
chặt chẽ ngay từ khi sinh viên mới bước vào trường”[11].
Luật giáo dục của nhà nước ta xác định nội dung giáo dục là: “Phải tập trung vào
đào tạo năng lực nghề nghiệp, coi trọng giáo dục đạo đức nhằm đạt mục tiêu người lao
động vừa có kiến thức, kĩ năng nghề nghiệp, vừa có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp”.
Với những ý nghĩa trên, nghề dạy học đòi hỏi rất cao yêu cầu về cả phẩm chất và
năng lực, người giáo viên phải là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Chính vì thế
những sinh viên sư phạm, những người thầy, cô giáo trong tương lai cần phải học tập,
rèn luyện để có những phẩm chất đạo đức, năng lực cần thiết đáp ứng yêu cầu, nhiệm
vụ của người giáo viên trong giai đoạn cách mạng mới.
2


1.2. Về mặt thực tiễn


3


sư phạm ngành nói riêng là rất cần thiết. Là một người trực tiếp đảm nhận công việc
quản lí sinh viên khoa Toán học, tôi luôn nhận thức được vai trò quan trọng trong việc
hình thành nhân cách cho sinh viên, đào tạo sinh viên vừa có kiến thức và trình độ
chuyên môn nghiệp vụ cao, vừa phải có đạo đức tốt. Đặc biệt là giúp các giáo sinh yên
tâm với nghề mình đã chọn, để họ có thể trở thành những thầy, cô giáo giảng dạy vừa
có Đức, vừa có Tài, gắn bó cả đời mình với sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ.
Với những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu “Một số giải pháp quản lý
công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm trường Đại học
Vinh” làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp quản lí công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh
viên sư phạm trường Đại học Vinh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
của nhà trường.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên
sư phạm.
32. Đối tượng nghiên cứu: Một số giải pháp quản lí công tác giáo dục đạo đức
nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm trường Đại học Vinh.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được một số giải pháp có tính khoa học và khả thi, thì có thể nâng
cao hiệu quả quản lý công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm
trường Đại học Vinh
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lí công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp
cho sinh viên sư phạm.
5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lí công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp

gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lí công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho
sinh viên sư phạm.
Chương 2: Thực trạng quản lí công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh
viên sư phạm trường Đại học Vinh.
Chương 3: Một số giải pháp quản lí công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho
sinh viên sư phạm trường Đại học Vinh.

5


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ
NGHIỆP CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Trên thế giới
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội được hình thành rất sớm trong lịch sử phát
triển nhân loại và được mọi xã hội, mọi giai cấp, mọi thời đại quan tâm. Trong bất cứ
xã hội nào, thời đại nào cũng đều tồn tại mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa
cá nhân với xã hội. Tuỳ theo trình độ phát triển xã hội mà những lợi ích của cá nhân
phù hợp ít hay nhiều với lợi ích của xã hội. Giáo dục đạo đức cho con người là vấn đề
đã được đặt ra từ xa xưa và luôn được đổi mới để thích ứng với thực tiễn của thời đại.
Khổng Tử (551- 479) là người sáng lập ra thuyết đạo đức của Nho giáo. Theo ông
Nhân- Nghĩa là giường cột của đạo đức, nhân nghĩa được đánh giá theo hành vi. Bàn về
vấn đề vai trò của Nho giáo đối với đời sống xã hội và giáo dục, tác giả Quang Đạm đã
viết: “Nho giáo đã có những cố gắng to lớn bền bỉ, có những cống hiến tích cực trong
việc khuyên bảo dạy dỗ cho con người yêu thương đồng loại, cho con người có quan hệ
tốt với nhau: Đạo đức Nhân - Nghĩa- Lễ- Trí - Tín và Hiếu lễ tuy có phần mơ hồ do hạn
chế của những điều kiện lịch sử đương thời, đều biểu thị rõ tinh thần và ý chí tốt lành
thiết tha mong muốn làm cho con người tránh được, bớt được đau khổ”[10].

Ở Việt Nam đã có hơn một trăm cuốn sách về giáo dục đạo đức. Nội dung sách
dạy làm người và bổn phận của mỗi người đối với xã hội, cách giao tiếp trong xã hội,
thể hiện qua các tựa đề sách như: Huấn nữ ca ; Thơ dạy làm dâu ; Gia huấn ca ; Phong
hoá tập ; Phong hoá lễ nghi; Tập lễ phép; Phải trái ở đời; Lời mẹ dạy con; Đạo đức và
luân lí; Mấy lời khuyên học trò…Trong số những tác giả viết loại sách này phải kể đến
cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh.
Cụ Phan Bội Châu khi viết “Khổng đăng học”, cụ đã rút ra 6 tính tốt cần rèn
luyện gọi là lục ngôn: Nhân, Trí, Tín, Trực, Dũng, Cương. Trong thời đại ấy việc
giáo dục 6 đức tính đó có tác dụng như sự rèn luyện bản lĩnh cho con người.
Cụ Phan Chu Trinh trong bài “Đạo đức và luân lí” đã tìm ra sức mạnh cho dân
cho nước ở sức mạnh đạo đức, nhân cách, bản lĩnh con người. Theo Cụ từ xưa đến nay
bất cứ dân tộc nào đã đứng cạnh tranh hơn thua với các dân tộc trên thế giới thì chẳng
những thuần nhờ sức mạnh mà thôi mà phải nhờ có đạo đức làm gốc nữa. Nhất là dân

7


tộc nào đã bị té nhào xuống nay muốn đứng lên khỏi bị người ta đi lên trên thì lại phải
có một nền đạo đức vững chắc hơn dân tộc đang giàu mạnh hơn mình.
Sau này, chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nghiên cứu về vấn đề đạo đức và giáo
dục đạo đức. Tư tưởng đạo đức của Người cụ thể và gần gũi với mọi đối tượng. Đối
với trẻ thơ, Bác chỉ mong chúng “…biết ăn biết ngủ, biết học hành là ngoan”. Với
thiếu niên, nhi đồng, Bác dạy thành 5 điều. Bác dạy mỗi công dân nói chung phải tuân
theo pháp luật, kỉ luật lao động, giữ gìn trật tự, hăng hái lao động sản xuất, tiết kiệm,…
Đối với các chiến sĩ trong quân đội, Bác dạy phải “Trung với nước, hiếu với dân ,
nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh
thắng”. Đối với lực lượng công an, Bác dạy thành 6 điều theo 6 mối quan hệ với bản
thân, với đồng sự, với chính phủ, với nhân dân, với công việc và với cả kẻ địch. Còn
đối với người Đảng viên, cán bộ, Bác dạy phải “cần, kiệm, liêm, chính, chí, công, vô
tư”. Tư tưởng đạo đức của Bác Hồ thật gần gũi, dễ hiểu, dễ thực hiện nhưng cũng rất

dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Sư phạm trường Đại học Vinh là hết sức cần
thiết, và đây cũng là một vấn đề mới mẻ chưa có ai nghiên cứu.
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Quản lí, quản lí giáo dục, quản lí nhà trường
1.2.1.1. Quản lí
Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử
dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng
người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất.
Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt
động của con người. Quản lý là gì? Người quản lý cần làm gì và làm như thế nào?
Đó là những câu hỏi mà hầu hết những người làm công tác quản lý từng tự hỏi ít
nhất một lần.
Quản lý vừa là một nghệ thuật, vừa là một khoa học. Đó là nghệ thuật làm cho
người khác (nhân viên) làm việc hiệu quả hơn những điều bản thân họ sẽ làm được
nếu không có bạn. Còn khoa học chính là cách bạn làm thế nào để thực hiện được
nghệ thuật quản lý. Lên kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và giám sát là bốn điều căn bản
trong khoa học đó.
Quản lý được định nghĩa là một công việc mà một người lãnh đạo học suốt đời
không thấy chán và cũng là sự khởi đầu của những gì họ nghiên cứu. Quản lý được
giải thích như là nhiệm vụ của một nhà lãnh đạo thực thụ, nhưng không phải là sự khởi
đầu để họ triển khai công việc. Như vậy, có bao nhiêu nhà lãnh đạo tài ba thì có bấy
nhiêu kiểu định nghĩa và giải thích về quản lý.

9


Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng
và nghĩa hẹp. Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên
quản lý cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau. Cùng với sự phát triển của phương
thức xã hội hoá sản xuất và sự mở rộng trong nhận thức của con người thì sự khác biệt

là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học

11


sinh và cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực
lượng xã hội đóng góp vào do lao động xây dựng vốn tự có. Hướng vào việc đẩy
mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ.
Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên
trạng thái mới” [21, tr.43].
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là lao động của các cơ
quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, học sinh và các lực
lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao
chất lượng GD&ĐT trong nhà trường” [23, tr. 35].
Có thể khẳng định rằng, trong phạm vi trách nhiệm của mình, quản lý nhà trường
là thực hiện đường lối giáo dục tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo
dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục với thế hệ
trẻ và với từng học sinh, sinh viên.
Đối với giáo dục Đại học, trong Luật Giáo dục có một điều quan trọng nhất về
cơ chế quản lý mới đối với GDĐH là khẳng định quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội
(trong Luật gọi là tự chịu trách nhiệm) của trường đại học. Như đã nói, việc quản lý
GDĐH nước ta đang ở trong một thời kỳ chuyển tiếp. Quy luật chung của thời kỳ
chuyển tiếp là tồn tại đan xen cả hai cơ chế quả lý cũ và mới, và có một cuộc đấu tranh
về mọi mặt để dần dần xóa bỏ cơ chế quản lý cũ, khẳng định cơ chế quản lý mới.
Trong những năm qua, khả năng tổ chức giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh
viên sư phạm ở trường Đại học và quản lý vẫn là một điểm yếu lớn của khá nhiều
trường đại học, phổ biến trong khối đại học, liên quan đến việc thiết kế bộ máy và hệ
thống văn bản pháp chế sao cho khoa học, đồng bộ và có hiệu quả. Tiếp đến, cần thúc
đẩy khả năng tổ chức và quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm
ở trường Đại học, đồng thời, không thể xao lãng mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ

Hình thành nhân cách là quá trình phát triển con người về mặt sinh lí, tâm lí và
mặt xã hội, mang tính chất tăng trưởng về lượng và biến đổi chất. Qua trình này diễn
ra do ảnh hưởng của các nhân tố bên trong (bẩm sinh, di truyền, tính tích cực của chủ
thể...) và các nhân tố bên trong (ảnh hưởng của hoàn cảnh tự nhiên và hoàn cảnh xã
hội, tác động giáo dục), do ảnh hưởng của các tác động tự phát, ngẫu nhiên (tác động
bên trong, bên ngoài chưa được kiểm soát, điều khiển được). Quá trình này làm biến
đổi đứa trẻ với nghuwngc tư chất vốn có của con người thành một nhân cách.
Giáo dục là một hiện tượng xã hội, việc dẫn dắt người khác vượt ra khỏi cái
hiện tại để vươn tới cái tương lai là việc làm có tính mục đích rõ ràng. Việc này
cũng được hoạch định và thực hiện một cách có tổ chức với sự tham gia của cả
cộng đồng theo những phân công lao động chặt chẽ (nhiều khi được chuyên môn
hóa). Hơn nữa, trong quá trình thực hiện những hoạt động như hoạt động giáo
13


dục, con người luôn kiểm tra, đánh giá để điều chỉnh sao cho kế hoạch đặt ra đạt
được kết quả tốt nhất. Như thế giáo dục là hiện tượng xã hội, là hiện tượng xẩy ra
không phải ngẫu nhiên, nó có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có kiểm tra đánh
giá và được sự tham gia của cả cộng đồng [1].
1.2.2.2. Đạo đức
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội luôn được mọi giai cấp, trong mọi thời
đại quan tâm. Đạo đức là phép ứng xử có nhân phẩm giữa người này với người khác.
Đạo đức luôn luôn là mối quan hệ hai chiều, là một thể chế đặc thù của xã hội nhằm
điều chỉnh các hành vi của con người trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đạo đức
là phương thức xác lập mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa lợi ích xã hội và lợi
ích cá nhân.
C.Mác cho rằng:
“ Đạo đức chính là lực lượng bản chất của con người trong sự phát triển của nó
theo hướng ngày càng đạt tới giá trị đích thực của cái thiện”.
Theo ông, bất luận trong mối quan hệ xã hội nào thì đạo đức cũng là quan hệ

- Đạo đức bao gồm hệ thống các giá trị, quy tắc, chuẩn mực xã hội.
- Đạo đức là phương thức điều chỉnh hành vi của con người.
Tóm lại, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, bao gồm hệ thống các nguyên tắc, quy
tắc, chuẩn mực. Căn cứ vào hệ thống các nguyên tắc chuẩn mực đó để đánh giá hành
vi của cá nhân là hành vi đạo đức hay phi đạo đức. Hoặc cá nhân lựa chọn và điều
chỉnh cách ứng xử của mình cho phù hợp với yêu cầu của xã hội và cộng đồng.
1.2.2.3. Giáo dục đạo đức
Theo tác giả Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt:
“Giáo dục đạo đức là quá trình biến đổi hệ thống các chuẩn mực đạo đức từ
những đòi hỏi bên ngoài, bên trong của cá nhân thành niềm tin, nhu cầu, thói quen
của người được giáo dục.” .
Đạo đức bao giờ cũng gồm ý thức đạo đức, tình cảm và niềm tin đạo đức, hành vi
đạo đức. Do đó việc giáo dục đạo đức đều phải bao gồm cả ba mặt nhằm hình thành
những con người có bộ mặt đạo đức phù hợp với yêu cầu của xã hội.
Trong nhà trường XHCN, giáo dục đạo đức cho học sinh là phát triển mặt đạo
đức của nhân cách, là xây dựng các sản phẩm đạo đức XHCN trong mỗi cá nhân, là
hoàn thành ý thức đạo đức, tình cảm đạo đức, hành vi và thói quen đạo đức của học
sinh theo những nguyên tắc đạo đức cách mạng mà tấm gương sáng ngời là đạo đức
của chủ tịch Hồ Chí Minh.

15


Giáo dục đạo đức là bộ phận của nội dung giáo dục toàn diện con người, là quá
trình kết hợp nâng cao nhận thức với hình thành thái độ, xúc cảm, tình cảm, niềm tin
và hành vi thói quen đạo đức. Giáo dục đạo đức phải gắn chặt với giáo dục tư tưởng
chính trị. Giáo dục tư tưởng chính trị có tác dụng xây dựng cơ sở thế giới quan Mác Lê Nin và định hướng chính trị xã hội theo quan điểm và đường lối của Đảng cộng
sản, cho ý thức và hành động đạo đức. Ngoài ra giáo dục đạo đức còn phải kết hợp với
giáo dục pháp luật. Giáo dục pháp luật có tác dụng củng cố và thúc đẩy việc thực hiện
các yêu cầu đạo đức.

Đối với địch phải cương quyết khôn khéo.”
Đối với người Đảng viên, cán bộ, Bác dạy phải “cần, kiệm, liêm, chính, chí,
công, vô tư”. Đối với ngành giáo dục, một khẩu hiệu chung cho các cấp học là: “Tất cả
vì học sinh thân yêu”. Đó chính là đạo đức nghề nghiệp của người thầy giáo.
Đạo đức nghề nghiệp là thuật ngữ người ta gắn với những tiêu chuẩn hành xử
nhất định trong nghề dạy học. Để cho bất cứ nghề nào được tôn trọng và tự tôn, những
người làm nghề đó phải có và sống theo những chuẩn này. Có người cho rằng một
nghề chỉ có thể phát triển về tầm cỡ khi những người làm trong nghề đó tôn trọng
chính mình và có những đóng góp tích cực với tư cách là một nghề vào sự phát triển
của xã hội. Những chuẩn đạo đức nghề nghiệp đó có thể được dùng làm kim chỉ nam
cho những người bước vào nghề dạy học. Theo Claire Andre and Manuel Valasquez, ít
năm trước đây, một nhà xã hội đã hỏi các doanh nhân câu hỏi: Đạo đức là gì?
- Đạo đức có liên quan tới cái mà linh cảm.
- Đạo đức có liên quan tới tín ngưỡng tôn giáo
- Đạo đức là biết làm theo pháp luật
- Đạo đức là chuẩn hành vi mà xã hội ta chấp nhận.
Vì vậy, đạo đức nghề nghiệp được xem như là một nội dung quan trọng của công
tác giáo dục đạo đức nói riêng và công tác giáo dục đào tạo nói chung.
Tóm lại, từ nội hàm của khái niệm đạo đức nói chung và qua phân tích một số
đặc trưng về đạo đức của một vài nghề nghiệp, ta có thể hiểu:
Đạo đức nghề nghiệp là tổng hợp những nguyên tắc, qui tắc, những chuẩn mực
đạo đức xã hội mang tính đặc thù của một bộ phận xã hội nhất định nhằm định hướng
và điều chỉnh hành vi ứng xử và giải quyết những mối quan hệ giữa các thành viên và
xã hội, nó còn chịu sự chế ước của pháp luật.
1.2.3.2. Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm
Công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trong các nhà trường sư
phạm là hết sức quan trọng được các nhà trường chú ý và đặt song song với nhiệm vụ
bồi dưỡng tri thức khoa học. Thực chất của công tác này là công tác quản lí, giáo dục
17


ra.
Theo cuốn “Từ điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên, thì: “Giải pháp là cách
làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể”

18


Theo cuốn từ điển Việt tường giải và liên tưởng” của tác giả Nguyễn Văn Đạm:
“Giải pháp là cách làm, cách hành động đối phó để đi đến một mục đích nhất định”
Như vậy, nói đến giải pháp là nói đến những cách thức tác động nhằm thay đổi,
chuyển biến một hệ thống, một quá trình, một trạng thái nhất định... nhằm đạt được
mục đích hoạt động. Giải pháp càng thích hợp, càng tối ưu, càng giúp con người
nhanh chóng giải quyết được những vấn đề đặt ra. Tuy nhiên, để có những giải pháp
như vậy, cần dựa trên những cơ sở lí luận và thực tiễn đáng tin cậy
1.2.4.2. Giải pháp quản lí công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm
Giải pháp QL công tác GDĐĐNN là cách làm, các hành động cụ thể để nâng
cao hiệu quả QL công tác giáo dục GDĐĐNN cho SV ở bất kì nhà trường nào cũng
làm tốt hai nhiêm vụ “dạy chữ” và “dạy người”. QL hoạt động GDĐĐ trong nhà
trường là hướng tới việc phát triển toàn diện nhân cách cho người học. Trong nhà
trường đại học, nơi đào tạo ra nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao và có phẩm
chất ĐĐ đáp ứng yêu cầu của hoạt động nghề nghiệp, để quản lí công tác GDĐĐNN
cho SV, có nhiều hoạt động cùng xẩy ra đồng thời, liên tục, kế thừa và phối hợp nhiều
lực lượng, nhưng người thầy đóng vai trò quan trong nhất. Hoạt động QL GDĐĐNN
đòi hỏi người QL phải chủ động tổ chức cho các lực lượng giáo dục (nhà trường, gia
đình, doanh nghiệp, xã hội) cùng nắm vững mục tiêu, yêu cầu nội dung, phương pháp
GDĐĐ và GDĐĐNN cho sinh viên thông qua việc chủ động lập kế hoạch, tổ chức, chỉ
đạo và hướng dẫn, tạo điều kiện tốt cho mọi lực lượng cùng tham gia và thực hiện tốt
trách nhiệm của mình
1.3. Một số vấn đề lí luận về quản lí công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho
sinh viên sư phạm

Theo quan niệm của tâm lí học “lí tưởng là biểu hiện tập trung nhất của xu hướng
nhân cách, nó có chức năng xác định mục tiêu, chiều hướng phát triển của cá nhân, là
động lực thúc đẩy, điều khiển toàn bộ hoạt động của con người” [3]. Vì vậy có thể nói
lý tưởng nghề dạy học chính là biểu hiện xu hướng hoạt động sư phạm của người thầy
giáo, “ là điều kiện bên trong để hình thành lòng yêu nghề, yêu trẻ, nhờ đó mà thầy
giáo có thái độ say mê công việc giảng dạy và giáo dục trẻ em. Khuynh hướng này
ngày càng mở rộng, càng sâu sắc khi từng bước người chọn nghề thầy giáo đi sâu vào
nghiệp vụ sư phạm”.
Người làm nghề dạy học không phải là “ thợ dạy”, mà phải là nhà giáo thực thụ.
Nếu chỉ là “thợ dạy” thì trong chừng mực nào đó có thể dùng máy, dùng phương tiện
kĩ thuật hiện đại để thay thế, nhưng là nhà giáo thì chỉ có thể được thay thế bằng nhà
giáo khác và họ đều đạt chuẩn nhà giáo ở cấp học, bậc học cụ thể.
Lí tưởng nhà giáo là lí tưởng về sự nghiệp “quốc sách hàng đầu”, là lí tưởng về
sự nghiệp “trồng người”, là hạt nhân trong nhân cách người thầy giáo. Lí tưởng của
20


Trích đoạn Thực trạng kiểm tra, đánh giá công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm Nguyên nhân thực trạng Thuận lợi, khó khăn trong quản lý công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm trường Đại học Vinh Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn Nâng cao nhận thức về đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status