Website: Email : Tel : 0918.775.368
lời nói đầu
Từ sau Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam toàn quốc lần thứ VI đến nay, nớc
ta có nhiều đổi mới quan trọng, đặc biệt là chuyển đổi nền kinh tế tập trung, hành
chính, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, mở cửa vận
hành theo nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc. Nền kinh tế mở cửa đã
tạo điều kiện cho nhiều lĩnh vực kinh tế hoạt động, giao lu và hội nhập những khoa
học công nghệ tiên tiến trên thế giới, bớc đầu đã gặt hái đợc những thành công
đáng kể nh kiềm chế đợc lạm phát trong điều kiện nền kinh tế phải đối phó với
nhiều khó khăn và nguồn viện trợ từ bên ngoài rất hạn chế, lạm phát năm 1986 là
487% đến năm 1994 chỉ còn 14%.
Trong nông nghiệp, thu nhập tăng 60% khoảng từ năm 1993-1998, ngoài ra
hiện nay Việt nam là nớc xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới sau Thái Lan.
Quan hệ kinh tế- thơng mại quốc tế tăng nhanh, mở rộng giao lu với nhiều bạn
hàng trên thế giới, đặc biệt tăng cờng mối quan hệ Việt- Mỹ. Kim nghạch xuất
nhập khẩu tăng 28% trong những năm 1989-1991. Thu hút ngày càng nhiều nguồn
vốn đầu t trực tiếp từ nớc ngoài FDI vào Việt Nam, mỗi năm có khoảng 400 dự án
với số vốn đăng kí khoảng 3 tỷ USD.
Tuy nhiên bên cạnh những thành công, Việt Nam còn gặp không ít những
hạn chế nh vẫn còn khoảng 85% số ngời nghèo sống ở nông thôn và 79% số ngời
nghèo lao động trong nông nghiệp, chiếm 1/4 GDP và 1/3 tổng kim nghạch xuất
nhập khẩu .
Tổng số nợ của các doanh nghiệp nhà nớc làm ăn kém hiệu quả hoặc
không có lãi đến cuối năm 1999 theo ớc tính chính thức là 126 nghìn tỷ VND (
tơng đơng gần 9 tỷ USD hay chiếm 32% GDP ) và làm suy yếu các hệ thống ngân
hàng Thơng mại quốc doanh, ít nhiều làm suy giảm nền kinh tế đất nớc.
Những hạn chế trên là do nớc ta từ một nớc nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng
lên CNXH bỏ qua giai đoạn TBCN. Mặt khác sau ngày giả pháng ( 30-4-1975)
chúng ta áp dụng máy móc phơng thức sảm xuất của Liên xô (cũ), xoá bỏ nền
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Kết luận
Tất nhiên đề tài này chỉ là một phần đóng góp nhỏ bé của tôi trong công
cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay, nhất là Đảng vừa họp đại hội khoá IX đã đề ra
cơng lĩnh chính trị, kinh tế... nhằm phát triển xã hội đa cả nớc tiến lên con đờng
CNXH.
Trong quá trình nghiên cứu không thể tránh khỏi những thiếu sót, mong bạn
đọc thông cảm và chỉ dẫn tôi hoàn chỉnh đề tài này đợc tốt hơn.Tôi xin chân thành
cảm ơn các thầy cô giáo và bạn bè đã giúp đỡ tôi làm đề tài này.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chơng I
sự cần thiết phải nghiên cứu những mâu thuẫn chủ yếu
trong việc phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần định hớng xhcn ở việt nam.
I. tính tất yếu khách quan của việc phát triển kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần.
1. Vì sao lại phát triển KTHH nhiều thành phần?
Nớc ta quá độ lên CNXH từ một xã hội vốn là thuộc địa nửa phong kiến, lực
lợng sản xuất rất thấp. Sau ngày giải phóng miền Nam nớc ta tồn tại ba loại hình
kinh tế chủ yếu: kinh tế hàng hoá (đặc trng ở miền Nam) kinh tế cổ truyền (tự
cung, tự cấp), kinh tế kế hoạch tập trung (đặc trng ở miền Bắc) và chúng ta vẫn
tiếp tục chủ trơng xây dựng nền kinh tế tập trung theo cơ chế kế hoạch hoá trong
phạm vi cả nớc. Cơ chế kế hoạch gắn liền với việc quản lý quan liêu, bao cấp đã
không phù hợp với tình hình thực tế. Do chủ quan cứng nhắc chúng ta không thể
quản lý đợc hiệu quả nguồn lực của quốc gia và khi nền kinh tế quan liêu phát
triển, phổ rộng trên cả nớc thì nền kinh tế dẫn đến khủng hoảng trầm trọng, hệ
thống XHCN có nguy cơ sụp đổ. Tài nguyên bị phá hoại, môi trờng bị ô nhiễm,
nhà nớc bao cấp tiến hành bù lỗ trên diện rộng gây nên các hậu quả của nên kinh
Bởi lẽ trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa ở nớc ta, do lực lợng sản xuất cha
phát triển cao nên còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu và cha thể thủ tiêu hoàn toàn
chế độ t hữu và thiét lập chế độ công hữu, chúng ta cần phải có tác động tích cực
đến lực lợng sản xuất. Những thành phần kinh tế của xã hội cũ chỉ có thể mất đi
khi không còn tác dụng đối với phát triển của lực lợng sản xuất và những thành
phần kinh tế mới đặc trng cho phơng thức sản xuất mới sẽ ngày càng phát triển và
dẫn dắt, chuyển hoá các thành phần kinh tế khác hội nhập vào phơng thức sản xuất
mới.
Mặt khác, thực trạng cơ cấu hạ tầng vật chất xã hội nớc ta còn thấp kém,
trình độ vật chất trong các doanh nghiệp còn lạc hậu, không có khả năng cạnh
tranh, sức mau của dân thấp, thu nhập theo đầu ngời còn nhỏ cha đủ ăn và chi tiêu
các nhu cầu khác. Đặc biệt chúng ta thiếu những ngời quản lý sản xất kinh doanh,
có khả năng tham ra cạnh tranh trong nớc cũng nh ngoài nớc.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Những năm qua do áp dụng máy móc vào nền kinh tế hàng hoá xã hội chủ
nghĩa, vào nớc ta đã làm sơ cứng các quy luật xa nay vẫn nhậy cảm nh quy luật
cung - cầu, quy luật giá cả quy luật giá trị, quy luật phân phối ...Do những hạn chế
và sai lầm trớc kia đã xuất hiện một vấn đề cấp bách là thay đổi và phát triển nền
kinh tế hàng hoán nhiều thành phần nhng phải đặt dới sự quản lý của nhà nớc.
2. Đặc điểm của kinh tế hàng hoá nhiều thành phần của nớc ta hiện nay.
Trớc hết cơ sở của kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đó là tồn tại nhiều
hình thức sở hữu khác nhau về t liệu sản xuất. Các thành phần kinh tế tiến hành
sản xuất hàng hoá tuy có bản chất khác nhau nhng chúng đều là những bộ phận
hoạt động trong các quy luật và thống nhất với các quan hệ Cung - Cầu, Tiền tệ,
giá cả chung ... Bởi vậy, chúng vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau, chúng vừa
phù hợp nhng đồng thời các thành phần kinh tế ấy vừa mâu thuẫn với nhau. Tuy
nhiên các thành phần kinh tế đều chịu tác động cuả các quy luật kinh tế khác,
chính những tác động khác nhau đó đã tạo nên những mâu thuẫn cơ bản và không
cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu và không chủ yếu, đối kháng và không đối kháng giữa
5. Kinh tế t bản t nhân.
6. Kinh tế 100% vốn đầu t của nớc ngòai.
II. Đặc trng của các thành phần kinh tế.
1. Kinh tế nhà nớc.
Kinh tế nhà nớc là thành phần kinh tế bao gồm các doanh nghiệp nhà nớc,
các tài nguyên quốc gia và tài sản thuộc sở hữu nhà nớc nh đất đai, hầm mỏ, rừng
biển, ngân sách, các quỹ dự trữ ngân hàng nhà nớc, hệ thống bảo hiểm, kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội; phần vốn nhà nớc góp vào các doanh ngiệp thuộc các thành
phần kinh tế khác.
Để từng bớc xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa , với trình độ phát
triển hiện nay và trong năm tới của lực lợng sản xuất ở nớc ta, kinh tế nhà nớc phải
giữ vai trò chủ đạo và là một công cụ quản lý vĩ mô của nhà nớc, phải không
ngừng đợc củng cố và phát triển trong những nghành, những lĩnh vực then chốt,
nắm những doanh nghiệp trọng yếu, và đợc thể hiện thông qua các mặt:
- Đi đầu về nâng cao năng suất, chất lợng và hiệu quả, nhờ đó mà thúc
đẩy sự tng trởng nhanh và bền vững của nèn kinh tế quốc dân.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Bằng nhiều hình thức hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát
triển theo đinh hớng xã hội chủ nghĩa.
- Tăng cờng sức mạnh vật chất làm chỗ dựa để nhà nớc để nhà nớc thực
hiện có hiệu lực chức năng điều tiết, quản lý nền kinh tế theo định hớng
xã hội chủ nghĩa..
2. Kinh tế tập thể.
Kinh tế tập thể mà thành phần trong nó có sự liên kết tự nguyện của những
ngời lao động nhằm kết hợp sức mạnh của từng cá nhân với sức mạnh của tập thể
và giải quyết có hiệu quả những vấn đề về sản xuất kinh doanh. Hợp tác xã đợc tổ
chức trên cơ sở đóng góp cổ phần và tham gia lao động trực tiếp của xã viên, phân
phối theo kết quả của cổ phần và lao động. Mỗi xã viên có quyền nh nhau đối với
công việc chung. Hợp tác xã đợc tổ chức theo nguyên tắc tự nguyện, bình dẳng,
nông thôn và thành thị. Có điều kiện phát huy nhanh và hiệu quả tiềm năng về
vốn, sức lao động và tay nghề của mỗi gia đình. đễ nhậy cảm và thay đổi theo cơ
chế thị trờng và dễ dàng phục vụ những nhu cầu trong xã hội. Do đó cần phải mở
rộng và phát huy nền kinh tế này.
Tuy nhiên do nền kinh tế này có nguồn vốn không lớn, sản xuất chủ yếu
bằng lao động thủ công, chân tay là chính. Không đáp ứng đợc nhu ccù to lớn của
thị trờng, nền kinh tế đó còn mang tính tự phát, mánh khoé. Trong cả nớc đang
tiến lên chủ nghĩa xã hội, vấn đề đặt ra cho các nhà chức trách một bài toán là càn
phải phát triển nền kinh té này trong moọt khoảng thời gian và thời gian đó là nh
thế nào cho phù hợp với tình hình đất nớc hiện nay và trong tơng lai ra sao. Thứ
nhất là cần phải kết hợp những gia đình này lại thành một hợp tác xã nhng chỉ
khoảng 5 - 5,5 gia đình mà thôi bởi lẽ nếu nhiều quá thì không kỉêm sóat đợc,
nhằm tạo điều kiện hình thành một cơ sở có sự mở rộng về vốn và chất lợng cũng
nh số lợng, phát huy tính tự chủ trong quần chúng nhân dân, tận dụng những trang
bị kĩ thuật tối tân trên thế giới hiện nay và sản xuất những mặt hàngđáp ứng thị tr-
ờng trong lẫn nh ngoài nớc.
5. Kinh tế t bản t nhân .
Là thành phần kinh tế mà sản xuất dựa chủ yếu vào quá trình bóc lột sức
lao động của giai cấp làm thuê và sự chiếm hữu về t liệu sản xuất.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trong thời kì quá độ do lực lợng sản xuất cha có thể phát triển đến trình độ
nhất định và cha thể hoàn thành nhiệm vụ thủ tiêu chế độ xã hội cũ, xây dựng một
xã hội mới tốt đẹp hơn. Do vậy kinh tế t bản t nhân, t bản nhà nớc cần phát triển và
khuyến khích giai cấp t sản bỏ vốn vào đầu t những nghành kinh tế không mang
tính chất chi phối quyết định với đời sống xã hội. Nhà nớc đã và đang xây dựng
sửa đổi và hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo họ quyền sở hữu, tạo điều kiện thuận
lợi phát triển kinh tế này về tín dụng, khoa học kĩ thuật, công nghệ, thông tin, kinh
tế tri thức.
Mặc dù nền kinh tế t bản t nhân có những thuận lợi nhng không thể để cho
mặt đối lập mà nó là sự tác động qua lại giữa các mặt đối lập, vì vậy, nó bao hàm
cả thống nhất giữa chúng. Thống nhất là điều kiện là cơ sở của đấu tranh, còn đấu
tranh đi tới chuyển hoá.
Nội dung cơ bản của quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
dợc làm sáng tỏ trong một loạt những phạm trù cơ bản: (mặt đối lập). Sự thống
nhất, và đấu tranh của các mặt đối lập.
Mặt đối lập là những yếu tố, những thuộc tính có đặc điểm hay có khuynh
hớng vận động ngợc chiều nhau; chúng không phải chỉ thống nhất với nhau, đấu
tranh với nhau mà còn chuyển hoá lẫn nhau. Hai mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn
biện chứng luôn luôn tồn tại trong sự thống nhất với nhau, với nghĩa chúng nơng
tựa vào nhau, đòi hỏi có nhau, sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt
kia làm điều kiện làm tiền đề. Nói cách khác, sự thống nhất của hai mặt đối lập tạo
thành mâu thuẫn biện chứng là tính không thể tách rời của hai mặt đó. Thống nhất
là sự liên kết với nhau, sự bổ xung cho nhau, là tiền đề, là cơ sở tồn tại của nhau.
Sự thống nhất không thể tách rời các mặt đối lập trong cùng một sự vật, cấu thành
mặt bản chất của sự vật đó. Sự thống nhất còn có ý nghĩa là là sự đồng nhất, sự
phù hợp, sự tác động ngang qua nhau. Sự thống nhất ở những giai đoạn nhất định
trong quá trình phát triển của sự vật
Với ý nghĩa đó : sự thống nhất giữa các mặt đối lập- còn bao hàm, sự đồng
nhất của các mặt đối lập. Lê nin cho rằng sự thống nhất chỉ là tơng đối, là tạm
thời, là thoáng qua là có điều kiện.Tồn tại trong một thể thống nhất hai mặt đối lập
luôn luôn ,đấu tranh, với nhau.
Website: Email : Tel : 0918.775.368