Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bất kì một chế độ xã hội nào, thuế luôn luôn là một công cụ thể hiện quyền
lực của Nhà nước và là nguồn tài chính chủ yếu. Với xu thế nhất thể hóa các khu vực
và toàn cầu hóa nhằm khai thác tối đa lợi thế so sánh của mỗi quốc gia nói riêng và
khu vực nói chung, đã đặt các nhà hoạch định chính sách kinh tế, tài chính trước
những thách thức lớn lao đòi hỏi phải cải cách toàn diện.
Nghị Quyết Đại hội Đảng IX và X đã xác định “Áp dụng thuế thu nhập cá nhân
thống nhất và thuận lợi cho mọi đối tượng chịu thuế, bảo đảm công bằng xã hội và
tạo động lực phát triển” và “Hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế theo nguyên tắc
công bằng, thống nhất và đồng bộ… Điều chỉnh chính sách thuế theo hướng giảm và
ổn định thuế suất, mở rộng đối tượng thu, điều tiết hợp lý thu nhập”. Cụ thể hoá Nghị
quyết đại hội Đảng, Bộ Chính trị đã thông qua Chiến lược cải cách thuế đến năm
2010, trong đó đặt ra yêu cầu: “Cần sớm xác định các bước đi thích hợp để tăng tỷ
trọng các nguồn thu trong nuớc cho phù hợp với tiến trình hội nhập. Mở rộng diện
thuế trực thu và tăng tỷ lệ thu từ thuế trực thu”. Việc ban hành kịp thời Luật này là
góp phần thể chế hoá chính sách thuế của Đảng.
Để đạt được mục tiêu gia nhập vào WTO, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia,
tất cả các chính sách thuế hiện hành đều đã được thay đổi theo hướng giảm nghĩa vụ
thuế. Chẳng hạn từ năm 2000 đến nay, thuế chuyển quyền sử dụng đất được giảm tới
25 lần, thuế trước bạ giảm 50%. Hiện nay ngành thuế cũng đã xóa bỏ trên 300 loại
phí không cần thiết, một số loại như phí đường bộ, hàng hải.. giảm tới 30%-40%.
Theo tính toán ban đầu, khi cắt giảm các loại thuế và chi phí này, Nhà nước bị thất thu
trên 1.000 tỷ đồng. Hiện ngân sách Nhà nước phụ thuộc vào 3 khoản thu chủ yếu gồm
xuất nhập khẩu chiếm 25% ngân sách, tương đương khoảng 60.000 tỷ đồng mỗi năm.
Số thu từ xuất khẩu dầu thô cũng vào khoảng 25%. Như vậy còn khoảng 50% ngân
sách Nhà nước là các khoản thu nội địa, nhưng khoản thu nội địa này cũng đang một
ngày giảm do chính sách thuế liên tục được thay đổi để thực hiện theo cam kết. Tính
những năm qua, những khó khăn, tồn tại chủ quan lẫn khách quan mà các cơ quan
quản lí thuế gặp phải, qua đó có một số đề xuất nhằm tìm ra những tồn tại và nguyên
nhân trong công tác quản lí hiện nay đồng thời đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu
quả quản lí. Hy vọng qua bài viết này, giúp người đọc hiểu thêm về thuế TNCN cũng
như công tác quản lí thuế TNCN ở Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đầu tiên người viết sẽ nên lên khái quát chung về thuế thu nhập cá nhân, từ đó đi
sâu nghiên cứu vào thực trạng trong công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân từ khi luật
thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện đề tài này, người viết sử dụng chủ yếu là phương pháp phân tích và
tổng hợp, các phương pháp định tính, định lượng, các công cụ thống kê, và sưu tầm
các tài liệu liên quan.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục đề tài tham khảo, và phụ lục,
những nội dung chính của đề tài được trình bài trong ba chương:
* Chương I: Những vấn đề chung về thuế thu nhập cá nhân và công tác quản lý
về thuế thu nhập cá nhân.
GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu
Trang 2
SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân
* Chương II: Nội dung công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân.
* Chương III: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập
tiến trình tiến triển của lịch sử, hiện nay thuế vẫn được sử dụng với đúng mụch đích
của nó nhưng bản chất của Thuế ở các nước lại không giống nhau, nó tùy thộc vào
bản chất Nhà nước và cách thức sử dụng nguồn thu từ thuế. Do đó, cũng tồn tại nhiều
khái niệm khác nhau về thuế do quan điểm về Thuế ở các nước khác nhau như:
Thuế là một khoản thu của nhà nước đối với các tổ chức và mọi thành viên trong xã
hội, Thuế là khoản thu có tính bắt buộc và không hoàn trả trực tiếp theo luật định.
Marx viết(1) “Thuế là cở sở kinh tế của bộ máy Nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho
bạc thu được tiền hay tài sản của người dân để dùng vào việc chi tiêu của nhà nước".
Các nhà nguyên cứu kinh tế khác cho rằng(2) “Thuế là hình thức phân phối thu nhập
tài chính của Nhà nước để thực hiện chức năng của mình, dựa vào quyền lực chính trị,
tiến hành phân phối sản phẩm thặng dư của xã hội một cách cưỡng chế và không hoàn
lại”.
Mặc dù có nhiều cách định nghĩa về Thuế khác nhau nhưng chúng ta cũng nhận thấy
những điểm tương đồng sau: Thuế là khoản thu mang tính bắt buộc mà các tổ chức, cá
nhân phải nộp cho Nhà nước khi có những điều kiện nhất định. Thuế mang tính bắt
buộc và không mang tính hoàn trả trực tiếp, ngang giá. Một phần thuế nộp vào ngân
sách Nhà nước được trả về với người dân một cách gián tiếp dưới nhiều hình thức
khác nhau như trợ cấp xã hội, phúc lợi xã hội và quỹ tiêu dùng khác.
(1)
Nguồn: Hệ thống chính sách thuế Việt Nam hiện hành, Tác giả- Pts Nguyễn Thị Kim Tuyển, Pts Phan
Mỹ Hạnh, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1998.( từ trang 267-305).
(2)
Nguồn: Phát biểu của chủ tịch ủy ban Thuế của chính phủ Nhật bản, trên www.vibonline.com.vn
GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu
Trang 4
chịu thuế TNCN không có khả năng chuyển giao gánh nặng thuế sang cho các đối
tượng khác tại thời điểm đánh thuế.
- Thuế TNCN có diện đánh thuế rất rộng, thể hiện trên hai khía cạnh:
Thứ nhất, đối tượng đánh thuế TNCN là toàn bộ các khoản thu nhập của cá nhân
thuộc diện đánh thuế, không phân biệt thu nhập đó có nguồn gốc phát sinh trong nước
hay ở nước ngoài.
Thứ hai, đối tượng phải kê khai nộp thuế TNCN là toàn bộ những người có thu
nhập, bao gồm tất cả công dân của nước sở tại và những người nước ngoài cư trú
(3)
Giáo trình luật tài chính 2, Ts Lê Nguyệt châu, tr. 22
GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu
Trang 5
SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân
thường xuyên hay không thường xuyên nhưng có số ngày có mặt, làm việc, có thu
nhập theo mức độ quy định của pháp luật thuế TNCN.
- Thuế TNCN là một hình thức động viên mang tính bắt buộc trên nguyên tắc theo
luật định. Phân phối khoản thu nhập qua thuế TNCN gắn với quyền lực, sức mạnh của
Nhà nước.
- Thuế thu nhập cá nhân là khoản đóng góp không hoàn trả trực tiếp cho người nộp.
Nó vận động một chiều, không phải là khoản thù lao mà người nộp thuế phải trả cho
Nhà nước do được hưởng các dịch vụ Nhà nước cung cấp.
- Thuế TNCN luôn gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia. Hầu hết các quốc
SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân
được tính với diện rộng, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách rất lớn. Bên cạnh đó,
thuế TNCN tác động trực tiếp vào thu nhập của dân cư mà người dân của bất kỳ quốc
gia nào cũng đều mong muốn và cố gắng có thu nhập ngày càng cao để nâng cao đời
sống vật chất tinh thần. Thuế TNCN luôn có sự gia tăng nhanh chóng cùng với sự
tăng lên của thu nhập bình quân đầu người.
* Góp phần thực hiện công bằng xã hội
Trong mỗi quốc gia, thu nhập của mỗi cá nhân phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố
như khả năng và trình độ lao động, vị trí công tác, quyền sở hữu về tài sản của cá nhân
đó. Tuy nhiên, các yếu tố nói trên của mỗi cá nhân thường không giống nhau nên đã
tạo ra sự khác nhau về thu nhập của mỗi người. Chính sự khác nhau ấy là nguồn gốc
tạo ra sự phân cực giàu nghèo, là sự bất bình đẳng trong xã hội. Để giải quyết vấn đề
này, các nước đã dùng nhiều hình thức và biện pháp khác nhau trong đó thuế TNCN
được xem như một công cụ hữu hiệu để điều tiết bớt thu nhập của những người có thu
nhập cao, đảm bảo công bằng xã hội.
* Điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm
Thuế TNCN là một công cụ rất cần thiết để thực hiện việc kiểm soát thu nhập của
các tầng lớp dân cư, thực hiện công bằng xã hội và quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Để kiểm soát thu nhập dân cư, nhà nước phải sử dụng đồng thời cả hai cơ chế quản lý
quỹ tiền lương, tiền công, chế độ báo cáo quyết toán kinh doanh…và cơ chế kê khai
nộp thuế TNCN, tuy ban đầu có thể chưa chính xác, nhưng sẽ là căn cứ để thống kê
thu nhập dân cư phục vụ chương trình mục tiêu nghiên cứu quốc gia, hoạch định
chính sách phát triển phù hợp khi tính tuân thủ pháp luật, pháp chế xã hội được nâng
lên.
Thông qua các cơ chế và công cụ quản lý đó mà nhà nước sẽ có giải pháp tăng
cường hoặc giảm bớt điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư làm cho tổng cầu xã
Giữa hai loại thuế này luôn luôn tồn tại mối quan hệ gắn bó với nhau. Thuế TNCN
còn góp phần khắc phục sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp khi có sự thông đồng
giữa các doanh nghiệp hay giữa doanh nghiệp với cá nhân. Trong trường hợp doanh
nghiệp kê khai cao hơn thực tế những chi phí phải trả cho các cá nhân để làm giảm
thu nhập tính thuế của doanh nghiệp hòng trốn thuế thu nhập doanh nghiệp thì các cá
nhân nhận được những khoản trả nói trên sẽ phải nộp thêm thuế thu nhập cá nhân đối
với phần thu nhập nhận được kê khai tăng thêm đó. Thu nhập của doanh nghiệp tăng
thường kéo theo sự tăng lên của thuế TNCN và thuế thu nhập doanh nghiệp.
* Góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế
Xây dựng và phát triển, hoàn thiện chính sách thuế TNCN là góp phần hoàn thiện
hệ thống chính sách thuế, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập với kinh tế
thế giới. Việc ban hành Luật thuế TNCN là bước thể chế hoá đường lối chính sách
của Đảng về lĩnh vực tài chính tiền tệ đồng thời là bước đi phù hợp lộ trình cải cách
thuế theo mục tiêu chiến lược Chính phủ đã hoạch định.
Nhận thức đúng vai trò vị trí hiện tại cũng như hướng phát triển hoàn chỉnh của
chính sách thuế TNCN, quán triệt đầy đủ nội dung yêu cầu của Luật thuế thu nhập cá
nhân mới ban hành để tuyên truyền, giáo dục pháp luật thuế, vận động toàn dân hiểu
biết, chấp hành là nghĩa vụ và trách nhiệm của các tổ chức, cơ quan, đơn vị và cán bộ,
công chức, công dân theo quy định của Luật Quản lý thuế, ban hành ngày 29/11/2006.
Tóm lại, Thuế TNCN đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của mỗi
quốc gia, ngày càng trở thành nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước. Dù
không phải là mục tiêu chủ yếu, song thực hiện phát triển chính sách thuế trực thu nói
chung, thuế TNCN nói riêng chính là là việc tạo lập và phát triển nguồn thu vững chắc
GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu
Trang 8
SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
thuế từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng tài sản, thu nhập từ thừa kế,
quà tặng. Sự thay đổi này, trước hết đảm bảo tính công bằng trong điều tiết thu nhập
bởi đã là cá nhân có thu nhập chịu thuế thì dù thu nhập từ bất kì nguồn nào cũng đều
được đối xử như nhau, tức là đều chịu thuế TNCN. Thêm vào đó, việc điều tiết thu
nhập của cá nhân kinh doanh theo Luật thuế TNCN thực hiện theo phương pháp luỹ
tiến sẽ đảm bảo điều tiết hợp lý thu nhập dân cư. Điều này rất có ý nghĩa đối với các
hộ kinh doanh nhỏ ở Việt Nam vì theo quy định trước đây họ phải nộp thuế thu nhập
GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu
Trang 9
SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân
doanh nghiệp với thuế suất chung bằng với các doanh nghiệp (thông thường là những
đơn vị kinh doanh có quy mô lớn).
Về đối tượng nộp thuế, còn một điểm mới nữa là việc định nghĩa rõ hơn đối
tượng cư trú (đối tượng phải nộp thuế TNCN cho Việt Nam đối với toàn bộ thu nhập,
kể cả thu nhập phát sinh ở Việt Nam và nước ngoài). Nếu như trước đây, đối tượng cư
trú chỉ là cá nhân có mặt ở Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong năm dương lịch hoặc
tính theo 12 tháng liên tục kể từ khi đến Việt Nam thì Luật thuế TNCN đã bổ sung
thêm một điều kiện nữa được coi là cư trú ở Việt Nam, đó là “cá nhân có nơi ở thường
xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở lại
Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn”(4). Quy định như vậy làm cho việc xác định
đối tượng nộp thuế được thuận lợi hơn, bao quát hết các đối tượng nộp thuế và mở
rộng đối tượng nộp thuế một cách hợp lý.
Theo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thu nhập được phân
Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân
thi có thưởng và các hình thức trúng thưởng khác (trước đây chỉ tính đối với trúng
thưởng xổ số và khuyến mại). Tất nhiên, những khoản thu nhập này chỉ bị đánh thuế
khi thu nhập phát sinh lớn (từ trên 10 triệu đồng cho một hợp đồng hoặc một lần phát
sinh). Liên quan đến thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng, kế thừa, quà tặng, có một
quy định đáng chú ý là Luật thuế thu nhập cá nhân quy định miễn thuế đối với thu
nhập từ chuyển nhượng, thừa kế, quà tặng giữa vợ với chồng; cha mẹ đẻ; cha mẹ nuôi;
mẹ nuôi với con đẻ, con nuôi; cha chồng mẹ chồng với con dâu; cha vợ mẹ vợ với con
rể; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại với cháu nội, cháu ngoại; anh chị em ruột với
nhau. Một số khoản thu nhập trước đây tạm thời chưa thu thuế như thu nhập từ đầu tư
vốn (gồm lãi cho vay, lợi tức cổ phần và thu nhập từ đầu tư vốn dưới các hình thức
khác); thu nhập từ chuyển nhượng vốn bao gồm cả chuyển nhượng chứng khoán. Tuy
nhiên, phần thu nhập từ lãi tiền gửi tại các tổ chức tín dụng (ngân hàng, các quỹ tín
dụng và các tổ chức tín dụng khác) và lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ được miễn
thuế thu nhập cá nhân. Việc miễn thuế này nhằm mục đích thu hút khoản tiền nhàn rỗi
nhỏ lẻ trong dân cư vào các kênh tín dụng, để từ đó sử dụng vốn của nền kinh tế vào
hoạt động sản xuất kinh doanh, khuyến khích sử dụng có hiệu quả mọi đồn vốn của xã
hội.
Trên cơ sở kế thừa các khoản thu nhập không thuộc diện chịu thuế của Pháp lệnh
thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, Luật thuế TNCN đã bổ sung các khoản
thu nhập sau vào diện miễn thuế từ thu nhập như thu nhập từ tiền lương làm việc ban
đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn lương làm việc ban ngày, làm việc trong giờ;
lương hưu; tiền thưởng cho cá nhân về việc phát hiện, khai báo cơ quan nhà nước có
thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật; học bổng nhận từ ngân sách Nhà nước và
từ các tổ chức trong và ngoài nước theo quy định của Chính phủ; thu nhập từ viện trợ,
từ thiện với điều kiện các quỹ từ thiện này phải được Nhà nước cho phép thành lập
hoặc công nhận hoạt động vì mục đích nhân đạo không nhằm mục đích thu lợi nhuận;
thu nhập từ lãi trái phiếu chính phủ. Đối với khoản đóng góp từ thiện nhân đạo được
xác định nghĩa vụ thuế. Việc giảm trừ cho người phụ thuộc được thực hiện theo
nguyên tắc mỗi người phụ thuộc được tính giảm trừ một lần vào một đối tượng nộp
thuế. Những người phụ thuộc được giảm trừ khá rộng, bao gồm: con chưa thành niên,
con đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, con tàn tật không có khả
năng lao động; các cá nhân khác không có thu nhập hoặc có thu nhập nhưng thấp hơn
mức quy định của Chính phủ hoặc không có nơi nương tựa mà người nộp thuế phải
trực tiếp nuôi dưỡng (gồm cha, mẹ, vợ chồng, cô, dì, chú, bác, cháu…). Đây chính là
vấn đề được ủng hộ của đông đảo nhân dân nhiều nhất, xuất phát từ cơ sở là, thay vì
áp dụng mức khởi điểm chịu thuế chung cho mọi đối tượng nộp thuế (có tính riêng
đối với người Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam) thì chuyển sang áp
dụng giảm trừ gia cảnh, tức là có tính đến hoàn cảnh cá nhân của đối tượng nộp thuế.
Điều này làm cho việc xác định nghĩa vụ thuế của mỗi đối tượng nộp thuế được công
bằng hơn.
Theo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, áp dụng chịu thuế
theo thu nhập thường xuyên, tính thuế theo biểu thuế luỹ tiến từng phần với bốn mức
thuế suất, thấp nhất là 10% và cao nhất là 40%. Đối với Luật thuế thu nhập cá nhân thì
áp dụng biểu thuế luỹ tiến từng phần áp dụng cho thu nhập từ kinh doanh và từ tiền
lương, tiền công, mức thuế suất thấp nhất còn 5% và mức thuế suất cao nhất là 35%,
với số lượng bậc thuế nâng lên thành bảy bậc áp dụng chung cho cả người Việt Nam
và người nước ngoài (cụ thể như bảng 1)
GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu
Trang 12
SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân
Trên 10 đến 20
15
4
Trên 240 đến 420
Trên 20 đến 35
20
5
Trên 420 đến 660
Trên 35 đến 55
25
6
Trên 660 đến 960
Trên 55 đến 80
30
7
5
3
Thu nhập từ trúng thưởng
10
4
Thu nhập từ thừa kế, quà tặng
10
5
Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản
25
Trường hợp không xác định được thu nhập tính thuế thì áp
2
dụng thuế suất tính trên gía bán
6
Thu nhập từ chuyển nhượng vốn
Về nội dung chức năng, quản lý bao gồm các việc như xây dụng kế hoạch xắp
xếp tổ chức, chỉ đạo điều hành và kiểm soát tiến trình hoạt động.
Về phạm vi tác động và hình thức thể hiện: quản lý là một phạm trù rộng, để tiến
hành quản lý, chủ thể quản lý phải tiến hành đồng bộ rất nhiều chức năng, trong đó có
chức năng lãnh đạo.
Như vậy quản lý thuế TNCN là sự tác động có chủ đích của các cơ quan chức
năng trong bộ máy nhà nước đối với quá trình tính và thu thuế thu nhập cá nhân, để
thay đổi quá trình này nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách và đạt được các mục tiêu
nhà nước đặt ra.
1.2.2 Nội dung công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân
Công tác quản lý thuế TNCN là một phần quan trọng của quản lý tài chính Nhà
nước, Công tác này cần được nhìn nhận ở tầm vĩ mô và phải bao gồm toàn bộ các
công việc thuộc các lĩnh vực lập pháp và hành pháp, tư pháp về thuế TNCN. Nội
dung của công tác quản lý thuế TNCN bao gồm :
1.2.2.1. Quản lý các đối tượng nộp thuế, tính thuế và các khoản được khấu
trừ theo quy định
a. Xác định đối tượng nộp thuế
Thuế TNCN thuộc loại thuế trực thu nên đối tượng chịu thuế cũng đồng thời là
đối tượng nộp thuế. Xác định đối tượng nộp thuế là một trong những nội dung quan
trọng của thuế TNCN, từ đó mới có thể vận dụng cách tính thuế cho phù hợp. Khi tiến
hành xác định đối tượng nộp thuế, người ta thường dựa vào hai tiêu thức là “nơi cư
trú” và “nguồn phát sinh thu nhập”.
Theo tiêu thức “nơi cư trú", một cá nhân được xác định là cư trú ở một nước phải
nộp thuế tại đó đối với mọi khoản thu nhập phát sinh từ khắp nơi trên thế giới, còn
một cá nhân được xác định là không cư trú ở một nước chỉ phải nộp thuế cho phần thu
nhập phát sinh tại nước đó.
GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu
Trang 14
gốc từ nước ngoài nhưng được trả tại Nhât Bản hoặc chuyển đến Nhật Bản. Các cá
nhân không cư trú chỉ phải nộp thuế đối với thu nhập có nguồn gốc từ Nhật Bản.(5)
Ở Trung Quốc quy định, một cá nhân đang cư trú trong biên giới của Trung Quốc
hoặc những người không cư trú, nhưng cuộc sống bên trong biên giới của Trung Quốc
cho không ít hơn một năm phải nộp thuế thu nhập cá nhân trên bấc kỳ thu nhập thu
được từ bên trong hay bên ngoài biên giới Trung Quốc. Một cá nhân không phải là
người cư trú cũng như cuộc sống bên trong biên giới của Trung Quốc hoặc những
(5)
http://www2.gol.com/users/jpc/Japan/taxes.htm
GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu
Trang 15
SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân
người không cư trú và sống bên trong biên giới ít hơn một năm phải nộp thuế thu
nhập cá nhân trên bất kỳ thu nhập thu được từ bên trong biên giới Trung Quốc.(6)
Luật thuế TNCN ở Việt Nam quy định, cá nhân bao gồm cá nhân cư trú và không
cư trú. Đối với cá nhân cư trú thì phải có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính
trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt
tại Việt Nam hoặc có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở
đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng
thuê có thời hạn, có thu nhập chịu thuế phát sinh bấc cứ trong và ngoài lãnh thổ
Việt Nam điều phải nộp thuế còn cá nhân không cư trú thì không đáp ứng về điều
Trang 16
SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân
nhân nào đó trong một khoảng thời gian nhất định không phân biệt nguồn gốc phát
sinh. Giá trị đó có thể được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hay các giá trị vật chất, phi
vật chất nhưng có thước đo chung là tiền tệ”.(7)
Từ những quan niệm trên, có thể nói rằng TNCN là giá trị một cá nhân kiếm được
trong một khoảng thời gian (thường là một năm) sau khi đã khấu trừ đi các chi phí để
tạo ra thu nhập đó. Mặc dù luật thuế TNCN quy định 10 nhóm thu nhập chịu thuế ta
có thể chia thành hai nhóm: Thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên.
Thu nhập thường xuyên: Được hiểu là các khoản thu nhập phát sinh thường
xuyên, có tính chất đều đặn và ổn định trong tháng, trong năm và có thể dự tính được,
bao gồm:
- Thu nhập từ kinh doanh: Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá,
dịch vụ; Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc
chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật.
- Thu nhập từ tiền lương, tiền công: Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất
tiền lương, tiền công; Các khoản phụ cấp, trợ cấp, trừ các khoản phụ cấp, trợ cấp theo
quy định của pháp luật về ưu đãi người có công, phụ cấp quốc phòng, an ninh, phụ
cấp độc hại, nguy hiểm đối với những ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có
yếu tố độc hại, nguy hiểm, phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp
luật, trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp
một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động,
trợ cấp hưu trí một lần, tiền tuất hàng tháng, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm
theo quy định của Bộ luật lao động, các khoản trợ cấp khác do Bảo hiểm xã hội chi trả,
trợ cấp giải quyết tệ nạn xã hội; Tiền thù lao dưới các hình thức; Tiền nhận được từ
trong các tổ chức kinh tế; Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán; Thu nhập từ
chuyển nhượng vốn dưới các hình thức khác.
- Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, bao gồm: Thu nhập từ chuyển nhượng
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sở
hữu hoặc sử dụng nhà ở; Thu nhập từ chuyển nhượng quyền thuê đất, thuê mặt nước;
Các khoản thu nhập khác nhận được từ chuyển nhượng bất động sản.
- Thu nhập từ trúng thưởng, bao gồm: Trúng thưởng xổ số; Trúng thưởng trong các
hình thức khuyến mại; Trúng thưởng trong các hình thức cá cược, casino; Trúng
thưởng trong các trò chơi, cuộc thi có thưởng và các hình thức trúng thưởng khác.
- Thu nhập từ bản quyền, bao gồm: Thu nhập từ chuyển giao, chuyển quyền sử dụng
các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ; Thu nhập từ chuyển giao công nghệ;
- Thu nhập từ nhượng quyền thương mại;
- Thu nhập từ nhận thừa kế là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ
sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử
dụng;
- Thu nhập từ nhận quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ
sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử
dụng.
Từ những quan niệm trên, có thể nói rằng TNCN là giá trị một cá nhân kiếm được
trong một khoảng thời gian (thường là một năm) sau khi đã khấu trừ đi các chi phí để
tạo ra thu nhập đó. Tuy nhiên không phải nước nào cũng đưa tất cả các nguồn thu
nhập ở trên vào diện thu nhậo tính thuế.
c. Xác định các khoản khấu trừ để tính thuế
Một trong những nguyên tắc cơ bản khi tính thuế TNCN là đối tượng tính thuế
phải là thu nhập do người đóng thuế toàn quyền sử dụng theo quy định của pháp luật.
GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu
Trang 18
với những người không phải chi những khoản chi phí này.
Các khoản chi phí nuôi người phụ thuộc mang tính chất gánh nặng gia đình cũng
được quy định thành một khoản khấu trừ tùy theo quy đđịnh của Nhà nước. Tất cả
các khoản chi phí trên thường được các nước quy định một giới hạn khấu trừ cụ thể
gọi là suất miễn thu.
Các khoản chi phí cá nhân khác nhằm tái tạo sức lao động, chi phí đảm bảo điều
kiện sống tối thiểu của cá nhân.
GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu
Trang 19
SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân
Đây là một trong những đặc điểm của thuế TNCN là có quan tâm đến sinh hoạt
của đối tượng nộp thuế và tính thuế theo khả năng. Điều này cũng cho thấy thu nhập
cá nhân luôn gắn với các chính sách xã hội.
1.2.2.2. Tuyên truyền, phổ biến chính sách thuế
Ngoài những quy định trong văn bản pháp quy có được hoàn hảo hay không thì
sự thành công trong việc thực hiện các chính sách thuế, còn phụ thuộc rất lớn vào sự
hiểu biết sâu sắc và ý thức chấp hành nghiêm túc của cán bộ thuế, cũng như người
nộp thuế. Để nội dung của chính sách thuế đến với mọi người dân trong xã hội, cơ
quan thuế cần phải tiến hành công tác tuyên truyền, phổ biến về chính sách thuế..
Công tác tập huấn về tuyên truyền thuế TNCN sẽ được tổ chức theo từng cấp.
Công tác này cần phải được thực hiện trước hết từ cán bộ thuế, theo đó mỗi địa
phương sẽ cử một đại diện lãnh đạo Cục Thuế, một lãnh đạo phòng thuế thu nhập cá
nhân hoặc một lãnh đạo phòng có kiến thức am hiểu sâu về thuế thu nhập cá nhân, có
thi tìm hiểu về thuế TNCN(8) …để nhân dân nắm bắt các quy định về đối tượng thuộc
diện nộp thuế, quyền và nghĩa vụ của các đối tượng đồng thời tạo trong cán bộ và các
tầng lớp nhân dân, tổ chức ý thức tự giác chấp hành quy định của Luật, ủng hộ, tự
giác và đồng tình trong việc chi trả thu nhập… qua đó kịp thời biểu dương các cá
nhân tự giác thực hiện và chấp hành nghiêm túc các quy định về nộp thuế; phát hiện,
phê phán kịp thời những hiện tượng, hành vi vi phạm quy định của Luật thuế thu nhập
cá nhân cũng như bảo đảm sự công bằng, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ thực hiện
Luật thuế thu nhập cá nhân trong cộng đồng xã hội.
1.2.2.3. Công tác đào tạo cán bộ công chức trong quản lý thuế(9)
Từ khi mới thành lập ngành thuế đã xác định công tác đào, tạo bồi dưỡng nâng
cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho công chức thuế là một trong những nhiệm vụ
trọng tâm hàng đầu. Hơn 16 năm qua cơ quan thuế từ Trung ương đến địa phương đã
đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nhiều hình thức: vừa đào tạo chính quy vừa
tăng cường tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý thuế và học hỏi các nước trên thế
giới và tiến hành như sau:
Thực hiện được mục tiêu trên, đội ngũ cán bộ công chức ngành thuế sẽ được đào
tạo, bồi dưỡng tập trung theo ba nội dung cơ bản: Một là giáo dục đạo đức, tác phong
nghề nghiệp, trách nhiệm pháp luật và phương pháp giao tiếp, ứng xử. Hai là đào tạo,
bồi dưỡng các kiến thức kinh tế, pháp luật liên quan nhằm nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ quản lý. Ba là đào tạo, bồi dưỡng các kiến thức và kỹ năng quản lý
thuế theo cấp độ từ cơ bản đến chuyên sâu và nâng cao từng loại công chức thực hiện
các chức năng và lĩnh vực quản lý thuế khác nhau, trước mắt tập trung vào các kỹ
năng tuyên truyền pháp luật thuế và hỗ trợ người nộp thuế; thanh tra kiểm tra, kiểm tra;
quản lý kê khai và kế toán thuế; quản lý nợ thuế và cưỡng chế thu nợ thuế; dự báo thu
ngân sách nhà nước về thuế, quản lý thuế thu nhập cá nhân… Theo Tổng cục thuế,
tổng nhu cầu đào tạo về nghiệp vụ quản lý thuế hiện nay là khoảng 264.000 (năm
2010) lượt người bình quân 66.000 lượt người/năm. Trong đó nhu cầu đào tạo, bồi
dưỡng cho công chức lãnh đạo cấp Ban, cấp Cục Thuế khoảng 1.700 lượt người, bình
quân 430 lượt người/năm.
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân
pháp, có thể tạo ra những phản ứng xã hội.
Một chính sách thuế được cho là công bằng, nếu không có biện pháp quản lý khả
thi tất yếu sẽ dẫn tới bất công trong thực tế. Thực tế thu thuế thu nhập cá nhân hiện
hành đối với những người hành nghề tự do cho thấy rõ như vậy.
Để bảo đảm sự thống nhất giữa chính sách và biện pháp ngay từ đầu, đòi hỏi các
nhà soạn thảo luật giải trình biện pháp và Quốc hội chỉ thông qua từng chính sách khi
biện pháp được giải trình có tính khả thi, trả lời được rõ ràng, cụ thể và có sức thuyết
phục những câu hỏi còn vướng mắt khi áp dụng chính sách thuế Tính thuế thế nào?
Chẵng hạn như:
- Theo luật thuế TNCN, thu nhập chịu thuế từ kinh doanh của hộ nhỏ được xác định
bằng cách lấy doanh thu trừ đi chi phí. Như vậy đối với các hộ nhỏ trước nay vẫn thu
Thuế Giá trị gia tăng và Thuế Thu nhập doanh nghiệp bằng cách khoán thì cách tính
doanh thu và chi phí những hộ này thế nào?
- Đối với thu nhập từ lao động của những người thu nộp tại nguồn, cách thu đối với
những người có thu nhập ở nhiều nơi, cách quyết toán và hoàn thuế như thế nào để
bảo đảm đơn giản về thủ tục mà lại không thất thu, giải quyết nhanh gọn, không phiền
hà cho người nộp thuế. Cách thu đối với những người hành nghề tự do làm sao đơn
giản thủ tục nhưng đặt được thu nhập của họ vào tầm kiểm soát của cơ quan thuế. Đây
là hai vấn đề về mặt biện pháp cần được giải quyết ổn thỏa.
- Biện pháp thu thuế trong những trường hợp chuyển nhượng chứng khoán. Đối với
những chứng khoán giao dịch qua thị trường chứng khoán, dự luật quy định thu tại
GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu
Trang 22
SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân
nhân tố rất hữu ích cho cơ quan thuế trong việc quản lý thu thuế hiệu quả, chính xác,
kịp thời và tiết kiệm chi phí. Nếu như các khoản thu nhập được thanh toán qua hệ
thống ngân hàng dưới hình thức tài khoản séc hoặc bằng thẻ ATM cá nhân thì sẽ rất
thuận tiện cho cơ quan thuế trong việc giám sát. Phương pháp thu thuế TNCN thông
qua hệ thống ngân hàng, điều này vừa giúp giảm bớt công việc và chi phí cho cơ quan
GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu
Trang 23
SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân
thuế, vừa kiểm soát chặt chẽ hơn thu nhập của đối tượng nộp thuế. Chính vì vậy, sự
phát triển của hệ thống ngân hàng đi kèm với việc phát triển hình thức thanh toán qua
tài khoản sẽ là một điều kiện tất yếu để có thể thực hiện tốt công tác quản lý thuế
TNCN và xây dựng mạng thông tin nội bộ và phần mềm ứng dụng để quản lý cơ sở
dữ liệu sẽ đòi hỏi những chi phí bước đầu tương đối lớn, nhưng xét về dài hạn thì điều
này sẽ tiết kiệm chi phí hơn rất nhiều so với việc quản lý dữ liệu theo kiểu thủ công.
1.2.3.3 Trình độ và phẩm chất đạo đức của đội ngũ lãnh đạo cán bộ thuế
Trình độ đội ngũ cán bộ thuế đóng vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý
thuế, đặc biệt là thuế TNCN. Nhân tố này tác động vào tất cả các nội dung của công
tác quản lý thuế TNCN, từ ban hành chính sách, tổ chức thực hiện chính sách tới
thanh tra thuế, tổ chức bộ máy quản lý thuế.
Để có thể ban hành những chính sách thuế đúng đắn, đáp ứng được yêu cầu của
những thay đổi kinh tế xã hội và đảm bảo được những mục tiêu của công tác quản lý
thuế TNCN thì đội ngũ cán bộ thuế cấp cao, ở tầm hoạch định chính sách cần phải có
trình độ cao về vấn đề thực tế cũng như cơ bản liên quan đến ngành thuế.
Hiệu quả của công tác quản lý thu thuế TNCN phụ thuộc không nhỏ vào mức độ
phát triển kinh tế và đời sống của dân cư. Cùng một đơn vị thu thuế trên một khu vực,
số đối tượng nộp thuế thu nhập nhiều sẽ giảm bớt chi phí trên một đồng thuế thu được,
ngược lại có ít đối tượng nộp thuế và số thuế thu được ít thì chi phí cho một đồng
thuế thu được sẽ cao. Sự phát triển kinh tế sẽ đồng hành với sự phát triển của cơ sở
hạ tầng phục vụ cho công tác quản lý nói chung và công tác quản lý thuế nói riêng,
khi cơ sở hạ tầng tốt thì khả năng quản lý thuế cũng sẽ được đơn giản và hiệu quả
hơn.
Trình độ của người dân tác động mạnh mẽ đến ý thức chấp hành pháp luật nói
chung và pháp luật thuế nói riêng, tỉ lệ thuận với ý thức và trách nhiệm nộp thuế. Khi
người dân có ý thức chấp hành luật thuế tốt, họ sẽ tự giác trong kê khai, nộp thuế.
Hành vi trốn thuế sẽ ít xảy ra. Chính vì vậy, công tác quản lý thu thuế và thanh tra
thuế sẽ gặp nhiều thuận lợi và đạt kết quả tốt hơn. Tóm lại, trình độ dân trí của người
dân càng cao thì ý thức chấp hành pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế càng lớn,
đồng thời nó cũng ảnh hưởng một phần tới công tác quản lý thuế TNCN.
1.2.4. Tổ chức bộ máy quản lý thuế
Nhà nước xây dựng bộ máy quản lý thuế để quản lý thuế TNCN cũng như các sắc
thuế khác. Tùy thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của từng nước, bộ máy
quản lý thuế cũng được xây dựng một cách tương ứng.
Ngày 7/8/1990, hội đồng Bộ trưởng đã ban hành nghị định số 218-HĐBT về việc
thành lập ngành thuế nhà nước, hợp nhất ba hệ thống tổ chức: Thu quốc danh, thuế
công thương nghiệp, thuế nông nghiệp. Ngành Thuế nhà nước được tổ chức qua ba
cấp từ tổng cục thuế, cục thuế đến chi cục thuế, được xác định rõ quyền hạn, trách
nhiệm và sự phân công cụ thể hợp lý giữa cơ quan thuế ngành dọc cấp trên và chính
quyền từng cấp trong tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm chỉnh chính sách
chế độ thuế chung cả nước và trên địa bàn lãnh thổ theo nguyên tắc “song hành lãnh
đạo”.
Sau một thời gian hoạt động, do nhận thấy những hạn chế trong hệ thống thuế nhà
nước và để phù hợp với tình hình mới, nên Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định
số 115/2009/QĐ-TTg, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức