Thực trạng xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở Việt Nam - Pdf 31

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời Mở đầu
Từ giữa năm 1975, sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu n-
ớc, cả nớc độc lập thống nhất dới sự lãnh đạo của Đảng, bớc vào thời kỳ quá
độ tiến lên chủ nghĩa xã hội.Bớc chuyển biến cách mạng lịch sử này đã và
đang diễn ra cho đến nay đợc hai thập kỷ song đã gặp không ít những thuận
lợi, khó khăn chồng chất không lờng trớc đợc xảy ra cả trong nớc cũng nh
trên thế giới, ảnh hởng rất lớn đến tiến trình đi lên của cách mạng nớc ta.
Trong thời kỳ 1975-1985 là thời kỳ sử dụng mô hình kinh tế cũ mà đặc
trng là: Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, các thành phần kinh tế phi XHCN
(t bản, cá thể) sớm bị xoá bỏ ở mức cao và mở rộng trong phạm vi cả nớc.
Những nhợc điểm và khuyết điểm của mô hình đó đã trở thành sức cản lớn
đối với sự phát triển KT XH, dẫn đến khủng hoảng kinh tế xã hội gay gắt.
Chính những khó khăn, thách thức trong giai đoạn này đã tạo điều kiện
để t duy mới từng bớc hình thành và phát triển tiệm tiến từng mặt, từng phần,
ban đầu là những thể nghiệm đáng chú ý: Qua nghị quyết trung ơng IV (khoá
6) với chính sách làm cho sản xuất bung ra, nghị quyết đại hội V với việc xác
định thứ tự trong phát triển kinh tế khẳng định nông nghiệp là mặt trận hàng
đầu, nghị quyết trung ơng VIII về giá lơng tiền, nghị quyết Bộ chính trị khoá
V về các quan điểm kinh tế. Và đến đại hội VI ( năm 1986) đã có một bớc
chuyển biến, đặc biệt trong đờng lối phát triển kinh tế: bớc đầu tạo ra một cơ
cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển xã hội.
Song trong thời kỳ quá độ từ một nớc phong kiến lên một nớc XHCN
không kinh qua chế độ t bản chủ nghĩa, cái cũ cha mất đi, cái mới cha mạnh
lên, cha có đủ sức chống lại sự chống phá của các thế lực thù địch, chính vì
vậy trong giai đoạn này còn tồn tại những mâu thuẫn giữa các thành phần
kinh tế, những vấn đề bất cập cần phải đợc giải quyết.
Cũng chính vì lý do này mà trong bài tiểu luận này em xin đợc đề cập
đến sự hình thành tất yếu của nền kinh tế thị trờng (hay nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần) trong chế độ hiện nay, những mâu thuẫn và những phơng
hớng giải quyết.

phổ biến, đợc thể hiện: Sự vật hiện tợng là tiền đề, điều kiện tồn tại và phát triển
của nhau, nơng tựa, phụ thuộc ràng buộc lẫn nhau, thờng xuyên thâm nhập,
chuyển hoá lẫn nhau làm cho ranh giới giữa các lớp sự vật không bao giờ là tuyệt
đối, giữa chúng bao giờ cũng có một lớp trung gian chuyển tiếp, và mối liên hệ
giữa các sự vật diễn ra không chỉ giữa các sự vật với nhau mà còn diễn ra trong
bản thân từng sự vật. Sự vật có rất nhiều mối liên hệ, nhng vị trí, vai trò của từng
mối liên hệ không giống nhau. Trong tổng số những mối liên hệ mà sự vật có,
những mối liên hệ bên trong, bản chất bao giờ cũng cũng có ý nghĩa quyết định
đến sự tồn tại và phát triển của sự vật, còn những mối liên hệ bên ngoài không
bản chất bao giờ cũng chỉ có những ảnh hởng nhất định.
Theo nguyên lý này, các yếu tố, bộ phận của quá trình tạo nên sự vật, hiện t-
ợng của thế giới khách quan thờng xuyên liên hệ, tác động lẫn nhau tạo thành
những xu hớng, phát triển trái ngợc nhau và gọi là các mặt đối lập. Các mặt đối
lập hợp thành mâu thuẫn của sự vật. Do đó mâu thuẫn là sự liên hệ tác động lẫn
nhau giữa các mặt đối lập trong bản thân sự vật hay giữa các sự vật với nhau. Vì
Phạm Thị Ngọc Anh Kiểm toán 43A Trang
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
vậy bất kỳ ở đâu, lúc nào, sự vật cũng đều có những mâu thuẫn, và khi một mâu
thuẫn nào đó đợc giải quyết thì sự vật lại xuất hiện một mâu thuẫn mới. Do vậy
mâu thuẫn là hiện tợng khách quan phổ biến của sự vật.
1.2. Sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập:
Các mặt đối lập là những mặt có xu hớng phát triển trái ngợc nhau nhng
chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau, chúng vừa thống nhất với nhau, lại vừa đấu
tranh, tiêu diệt lẫn nhau. Trong đó thống nhất chỉ là tạm thời, tơng đối, còn đấu
tranh là vĩnh viễn tuyệt đối.
1.2.1. Sự thống nhất giữa các mặt đối lập:
Hai mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn biện chứng, tồn tại trong sự thống nhất
với nhau. Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nơng tựa, ràng buộc, phụ thuộc
lẫn nhau, tồn tại không tách rời nhau, là tiền đề điều kiện tồn tại của nhau, chúng
thờng xuyên xâm nhập chuyển hóa lẫn cho nhau và sự tồn tại của mặt này có sự

đấu tranh của các mặt đối lập không tách rời nhau, trong quá trình vận động phát
triển của sự vật. Sự thống nhất gắn liền với với sự đứng im, với ổn định tạm thời
của sự vật. Sự đấu tranh gắn liền với tính tuyệt đối của sự vận động và phát triển.
Điều đó có nghĩa là sự thống nhất của các mặt đối lập là tơng đối, tạm thời, sự
đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối. V.I.Lenin viết: Sự thống nhất () của
các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tơng đối, sự đấu tranh của
các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng nh sự phát triển vận động là
tuyệt đối.
Trong sự vận động qua lại của các mặt đối lập thì đấu tranh của các mặt đối
lập quy định một cách tất yếu sự thay đổi của các mặt đang tác động làm cho
mâu thuẫn phát triển. Lúc đầu mới xuất hiện, mâu thuẫn đó chỉ là sự khác nhau
căn bản, nhng theo khuynh hớng trái ngợc nhau. Sự khác nhau đó càng ngày càng
phát triển và đi đến đối lập. Khi hai mặt đối lập xung đột gay gắt đã đủ điều kiện,
chúng sẽ chuyển hoá lẫn nhau, mâu thuẫn đợc giải quyết. Nhờ đó mà thể thống
nhất cũ đợc thay thế bằng thể thống nhất mới, sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời,
thay thế. V.I.Lê-nin viết:Sự phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối
lập. Tuy nhiên không có thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập thì cũng
không có đấu tranh giữa chúng. Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là
không thể tách rời nhau trong mâu thuẫn biện chứng. Sự vận độngvà phát triển
bao giờ cũng là sự thống nhất giữa tính ổn định và tính thay đổi. Sự thống nhất và
đấu tranh của các mặt đối lập trong quy định tính ổn định và sự thay đổi của sự
Phạm Thị Ngọc Anh Kiểm toán 43A Trang
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
vật. Do đó mâu thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động phát triển của sự vận
động phát triển.
1.3. ý nghĩa phơng pháp luận của quy luật:
Việc nghiên cứu quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập có ý
nghĩa quan trọng trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Để nhận thức đúng bản chất sự vật và tìm ra phơng hớng và giải pháp đúng
cho hoạt động thực tiễn phải đi sâu nghiên cứu phát hiện ra mâu thuẫn của sự vật.

chiếm hữu. Quan hệ giữa con ngời với con ngời trong việc chiếm hữu của cải đó
là quan hệ sở hữu. Trong quan hệ giữa của cải vật chất, thì quan hệ sở hữu về
TLSX giữ vai trò quyết định.
Trong lịch sử, mỗi PTSX có một loại hình sở hữu t liệu sản xuất đặc trng,
chẳng hạn sở hữu phong kiến, sở hữu TBCN. Nhng điều đó không có nghĩa là
mỗi PTSX chỉ có một hình thức sở hữu TLSX, mà có thể có nhiều loại hình sở
hữu TLSX khác nhau cùng tồn tại.
Trong lịch sử phát triển của nền sản xuất XH chung quy lại có hai loại hình
sở hữu cơ bản về TLSX là sở hữu công cộng và sở hữu t nhân. Bên cạnh hai loại
hình đó là hình thức sở hữu hỗn hợp. Một loại hình sở hữu TLSX có thể bao gồm
một số hình thức sở hữu. Chẳng hạn, loại hình sở hữu công cộng về TLSX gồm có
hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể.
Sự xã hội hoá của các hình thức sở hữu TLSX do tính chất và trình độ phát
triển của các LLSX quy định. LLSX không ngừng vận động, biến đổi làm cho
QHSX cũng không ngừng vận động biến đổi. Trong lịch sử phát triển của sản
xuất XH, sở hữu t nhân về TLSX, từ chỗ phù hợp, thúc đẩy sự phát triển của
LLSX dần dần trở thành lạc hậu lỗi thời, cản trở sự phát triển của LLSX. Sự thay
thế sở hữu t nhân bằng sở hữu công cộng về TLSX, mở đờng cho sự phát triển
hơn nữa của LLSX là tất yếu khách quan.
Thời kỳ quá độ lên CNXH là thời kỳ chuyển biến từ sở hữu t nhân thành sở
hữu công cộng về TLSX. Nhng sự chuyển biến đó mang lại tính khách quan tuỳ
Phạm Thị Ngọc Anh Kiểm toán 43A Trang
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thuộc vào trình độ phát triển của LLSX. Do đó sự nóng vội chủ quan, duy ý chí
trong việc xoá bỏ sở hữu t nhân, xác lập sở hữu công cộng về TLSX đều trái với
yêu cầu của quy định QHSX phải phù hợp tính chất và trình độ phát triển của
LLSX và phải trả giá.
Đặc điểm to lớn nhất của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam là điểm
xuất phát rất thấp, sản xuất nhỏ là phổ biến, bỏ qua chế độ TBCN. Điều đó có
nghĩa là trình độ của LLSX nớc ta còn rất thấp kém do vậy sở hữu t nhân về

khác.
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, sở hữu t bản t nhân không còn là hình thức
sở hữu thống trị, nhng vẫn còn là hình thức sở hữu thống trị, nhng vẫn tồn tại đan
xen với sở hữu nhà nớc, kể cả trong các thành phần kinh tế then chốt nh ngân
hàng, bảo hiểm,Trong các khu vực kinh tế mà trình độ của LLSX thấp kém hơn
thì tồn tại dới hình thức sở hữu cá thể, sở hữu tập thể.
Các hình thức sở hữu là cơ sở để thực hiện lợi ích của các chủ thể kinh tế và
tác động với nhau trên tất cả các phơng diện và tổ chức quản lý, phân phối thu
nhập, năng suất, chất lợng, hiệu quảLợi ích của các chủ thể còn đòi hỏi các
hình thức sở hữu liên kết với nhau và từ đó hình thức sở hữu hỗn hợp xuất hiện.
2.2. Nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở
Việt Nam
2.2.1. Phạm trù thành phần kinh tế
Thành phần kinh tế (TPKT) là một loại hình tổ chức hoạt động kinh tế với
một QHSX xác định, có mối liên hệ chặt chẽ với LLSX nhất định đã ra đời, nhng
cha phát triển tới độ bao trùm và thống trị tuyệt đối trong nền kinh tế hoặc đang
bị thủ tiêu dần, không còn đủ t cách là một PTSX hoàn chỉnh.
Nghĩa là, TPKT phản ánh mối quan hệ chặt chẽ giữa QHSX và LLSX, đặc
trng cho một kiểu tổ chức hoạt động kinh tế hớng tới việc thực hiện một PTSX
nhất định hoặc là đang nảy sinh, hoặc là đang bị thủ tiêu dần.
Mặc dù khái niệm PTSX và khái niệm TPKT đều bao trùm sự thống nhất biện
chứng giữa QHSX và LLSX, nhng hai khái niệm này không đồng nhất. Chỉ khi nào
mối quan hệ của một loại hình QHSX nhất định gắn với một LLSX tơng ứng đạt trình
độ hoàn chỉnh chín muồi, giữ địa vị thống trị và quyết định xu hớng vận động phát
triển của nền kinh tế thì nó mới trở thành PTSX. Còn khi mối liên hệ giữa QHSX và
LLSX chỉ dừng lại ở mức độ cha phát triển chín muồi, cha trở thành thống trị và chỉ
mới có ảnh hởng nhất định đến xu hớng vận động của nền kinh tế, thì khi đó mới chỉ
là hoạt động với t cách là một TPKT.
Phạm Thị Ngọc Anh Kiểm toán 43A Trang
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Khi nền kinh tế quá độ với cơ cấu nhiều thành phần đã chuyển hoá thành
nền kinh tế mà trong đó một TPKT đã trở thành PTSX thống trị các TPKT khác
yếu dần thành những hình thức kinh tế lệ thuộc, thì lúc đó tính chất quá độ của
1
V.I. Lênin toàn tập, tập 43, Nxb Tiến bộ, M.1978, Tr 248
Phạm Thị Ngọc Anh Kiểm toán 43A Trang 10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nền kinh tế kết thúc trở thành nền kinh tế đã trởng thành hoàn chỉnh của một chế
độ XH mới, của hình thái KT-XH mới; khi đó xét về phơng diện kinh tế thì thời
kỳ quá độ sẽ kết thúc. Trong mỗi chế độ XH, trong mỗi hình thái kinh tế XH đều
chỉ có một PTSX thống trị và nhiều hình thức kinh tế phụ thuộc.
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, nền kinh tế còn tồn tại nhiều thành phần,
trong đó TPKT nhà nớc giữ vai trò chủ đạo và cùng với sự lớn mạnh của kinh tế
tập thể làm nền tảng cho sự phát triển của nền KTQD theo định hớng XHCN. Các
TPKT t nhân, cá thể đợc sử dụng và cải tạo theo CNXH.
Thời kỳ quá độ là một thời kỳ lịch sử đặc biệt, trong đó nền kinh tế là nền
kinh tế qúa độ nhiều thành phần. V.I.Lênin chỉ ra rằng, ở các nớc đi lên CNXH,
phổ biến có ba thành phần kinh tế cơ bản: Kinh tế XHCN, kinh tế TBCN và kinh
tế sản xuất hàng hoá nhỏ.
2.2.2. Thực tiễn nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam:
Vận dụng t tởng của Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, Đảng ta
khẳng định nớc ta hiện có các TPKT sau: Kinh tế nhà nớc, kinh tế tập thể, kinh
tế cá thể, kinh tế TBTN, kinh tế TB NN và kinh tế có vốn đầu t của nớc ngoài. Sự
tồn tại của nhiều TPKT trong nền kinh tế quá độ là một tất yếu khách quan,tính
rất yếu đó đợc quy định bởi các điểm sau:
Do LLSX xã hội phát triển không đồng đều giữa các cùng, các ngành và
trong nội bộ từng vùng Tơng ứng với mỗi trình độ của LLSX có một loại hình
QHSX, do đó có một TPKT tồn tại. Có bao nhiêu trình độ phát triển LLSX thì có
bấy nhiêu loại hình QHSX, do đó có bấy nhiêu TPKT. Sự xuất hiện, phát triển và
tiêu vong của các TPKT phụ thuộc vào trình độ phát triển của LLSX.

nghiệp, dịch vụ Những TPKT này vẫn đang tồn tại và phát huy tác dụng bên
cạnh những TPKT mới.
Thứ hai: Quá trình xã hội hoá nền kinh tế không chỉ thể hiện ở ở sự
phát triển của phân công lao động, sự liên kết hợp tác, đan xen giữa các TPKT
nhiều tầng năng động mà còn phản ánh sự dịch chuyển không ngừng, thay đổi
cấu trúc không ngừng và chuyển hoá lẫn nhau giữa các TPKT để duy trì XH hóa
thực tế.
Sự cùng tồn tại của nhiều TPKT là một tất yếu kinh tế. Bởi lẽ nền kinh tế
nhiều thành phần tạo ra một động lực rất quan trọng về nhiều mặt:
Giải quyết đợc mọi sức sản xuất tiềm tàng và mọi tiềm năng của đất
nớc để phát triển nền KTQD, tập hợp mọi nguồn lực rộng rãi trong toàn xã hội về
lao động, trí tuệ cho công cuộc phát triển một cách nhanh nhất, có hiệu quả nhất.
2
() Góp phần phê phán chính trị kinh tế học- Nxb Sự thật, H. 1971, Tr.8.
Phạm Thị Ngọc Anh Kiểm toán 43A Trang 12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status