Tổng quan về thị trường chứng khoán phái sinh - Pdf 31

1
LỜI MỞ ĐẦU Xuất hiện trên thị trường Việt Nam từ năm 1998 nhưng đến nay “chứng
khoán phái sinh” chưa được biết đến với tư cách là một công cụ bảo hiểm rủi ro
hữu hiệu cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư.
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đã gia nhập WTO, các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước
những khó khăn, những cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Bên cạnh đó, những
biến động bất thường về nền kinh tế toàn cầu, những tăng giảm đột ngột của giá
xăng, dầu thế giới, những bấp bênh của tỷ giá đồng USD… đang là những vấn
đề đáng lo lắng cho những nhà đầu tư, những doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Vậy
phải làm gì để giảm bớt rủi ro? Để tối thiểu tổn thất và tối đa hoá lợi nhuận?
Một đòi hỏi cấp thiết đối với thị trường là phải đa dạng hoá các sản phẩm
tài chính phái sinh, nâng cao chất lượng các dịch vụ hiện có, khuyến khích các
doanh nghiệp tích cực tham gia vào thị trường này để loại bỏ bớt những rủi ro
không đáng có.
2. Mục đích của đề tài
Đề tài này tập trung nghiên cứu thực trạng về thị trường chứng khoán phái
sinh ở Việt Nam, tìm ra nguyên nhân, tồn tại và kiến nghị những giải pháp, định
hướng cho sự phát triển của thị trường chứng khoán phái sinh Việt Nam trong
tương lai.
2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu:
- Quá trình hình thành và của dụng các công cụ tài chính phái sinh ở Việt
Nam.

UBCK: Uỷ ban chứng khoán
TCTD: Tổ chức tín dụng
Khoá luận được thực hiện vào thời điểm thị trường chứng khoán phái sinh
Việt Nam còn rất mới mẻ, chưa đựơc nhiều người đón nhận và đang bước từng
bước nhỏ trong giai đoạn phát triển. Chính vì vậy khoá luận của em còn rất nhiều
thiếu sót, em mong muốn nhận được sự tham gia góp ý của các thầy cô và các
bạn để khoá luận thêm hoàn thiện.
Em xin chân thành cảm ơn sự tận tình chỉ bảo của Tiến sĩ Nguyễn Đình
Thọ, khoa Tài Chính Ngân Hàng, trường Đại học Ngoại Thương, Hà Nội, đã
giúp đỡ em trong suốt quá trình em thực hiện khoá luận. Sinh viên thực hiện
Tạ Thị Huyền
4
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH Thị trường tài chính phái sinh xuất hiện là kết quả của một quá trình phát
triển cấu trúc thị trường trong thời gian dài. Trong những thập kỷ gần đây, thị
trường tài chính phái sinh phát triển mạnh về khối lượng giao dịch cũng như
mức độ quan trọng. Khi nhắc đến thị trường tập trung và thị trường OTC – phi
tập trung, người ta chỉ nghĩ đến đó là nơi giao dịch chứng khoán, hàng hoá… mà
ít ai nghĩ đến đó còn là nơi diễn ra các giao dịch tài chính phái sinh - một công
cụ phòng ngừa rủi ro cho các doanh nghiệp. Việc sử dụng các sản phẩm phái
sinh hiện nay là một nhu cầu thiết yếu đối với các nhà đầu tư nhằm tối đa hoá lợi
nhuận của mình.

I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHÁI

chính vì vậy trên thị trường tài chính quốc tế, nghiệp vụ này đã phát triển rất
mạnh với các nghiệp vụ phái sinh đa dạng và thị trường phái sinh đóng vai trò
quan trọng trong hệ thống tài chính toàn cầu.

2. Công cụ tài chính phái sinh
2.1. Khái niệm
6
Công cụ tài chính phái sinh được hiểu là những công cụ được phát hành
trên cơ sở những công cụ tài chính đã có nhằm hiều mục tiêu khác nhau như
phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo ra lợi nhuận. Giá trị của công cụ phái
sinh bắt nguồn từ một số công cụ cơ sở khác như tỉ giá, trị giá cổ phiếu, trái
phiếu, chỉ số chứng khoán, lãi suất….Công cụ tài chính phái sinh xuất hiện lần
đầu tiên nhằm giảm thiểu hoặc loại bỏ hoàn toàn rủi ro, trong đó thường được sử
dụng nhiều nhất là hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, quyền chọn và hợp
đồng hoán đổi. Những công cụ trên sẽ là đòn bẩy, làm tăng nhiều lần giá trị các
đối tượng đầu tư như cổ phiếu, trái phiếu hoặc để đảm bảo rằng nếu giá của cổ
phiếu, trái phiếu có thay đổi bao nhiêu thì giá của các công cụ phái sinh vẫn sẽ
được duy trì ở mức ban đầu.
Ingersoll – tác giả cuốn sách Theory of Financial Decision Making – Lý
thuyết quyết định tài chính (1987) đã đưa ra định nghĩa về chứng khoán phái
sinh như sau:
Một hợp đồng tài chính được gọi là một chứng khoán phái sinh (derivative
security), hoặc một tài sản tài chính có giá trị phụ thuộc(contingent claim), nếu
giá trị của hợp đồng tài chính đó tại thời điểm đáo hạn T có thể xác định hoàn
toàn bởi giá trị thị trường (thị giá) của công cụ tiền mặt (hay tài sản cơ bản).
Theo cách hiểu này, tại thời điểm đáo hạn của hợp đồng phái sinh chứng
khoán, ta ký hiệu đó là thời điểm T, thì giá của tài sản phái sinh F(T) được xác
định hoàn toàn bởi S(T) là giá thị trường của “tài sản cơ bản”. Sau thời điểm đáo
hạn này, cuộc đời của phái sinh chứng khoán cũng kết thúc. Tính chất này rõ
ràng và dễ hiểu, là việc con người quy ước với nhau qua hợp đồng. Tuy đơn giản

8
Ví dụ: Vào ngày 01/04 , A ký hợp đồng kỳ hạn mua của B 10 tấn cà phê kỳ hạn
3 tháng với giá 925USD/tấn. Sau 3 tháng, tức vào ngày 01/07, B phải bán cho A
10 tấn cà phê với giá 925USD/tấn và A phải mua 10 tấn cà phê của B với giá đó,
cho dù giá cà phê trên thị trường lúc đó là bao nhiêu đi nữa.
Bản thân hợp đồng kỳ hạn mang trong mình 3 loại rủi ro:
Thứ 1, nếu giá thực tế vào ngày đáo hạn hợp đồng cao hơn giá mong đợi,
rủi ro vốn có của công ty sẽ làm giảm giá trị công ty nhưng sự sụt giảm này sẽ
được đền bù bằng lợi nhuận của hợp đồng kỳ hạn. Vì vậy hợp đồng kỳ hạn cung
cấp một cách phòng ngừa rủi ro hoàn hảo.
Thứ 2, rủi ro tín dụng hay rủi ro không có khả năng chi trả của hợp đồng.
Rủi ro này có hai chiều, người sở hữu hợp đồng hoặc là người nhận được hoặc là
người chi trả, phụ thuộc vào biến động giá cả thực tế của tài sản cơ sở.
Thứ 3, giá trị của hợp đồng kỳ hạn chỉ được giao nhận vào ngày nào đáo
hạn của hợp đồng, không có khoản chi trả nào được thực hiện vào ngày ký kết
hoặc trong thời hạn của hợp đồng. Vậy nên bản thân những hợp đồng kỳ hạn có
chứa nhiều rủi ro nhất trong các công cụ phái sinh.
2.2.2. Hợp đồng tương lai
Hợp đồng tương lai (hay còn gọi là hợp đồng giao sau) là hợp đồng giữa
hai bên, người mua và người bán, để mua bán tài sản vào một ngày trong tương
lai với giá đã thoả thuận ngày hôm nay mà không phụ thuộc vào giá ở thời điểm
thực hiện hợp đồng.
Ví dụ: vào đầu năm 2002, công ty A ký hợp đồng tương lai với công ty B
mua 100 tấn gạo với giá 2USD/kg với thời điểm mua vào cuối năm 2003. Như
vậy vào thời điểm mua, công ty B phải bán cho công ty A 100 tấn gạo với giá
2USD/kg và công ty A phải mua 100 tấn gạo của công ty B với giá đó, cho dù
giá gạo trên thị trường vào cuối năm 2003 là bao nhiêu chăng nữa.
9
• Hợp đồng tương lai được thoả thuận và mua bán qua người môi giới.
Hợp đồng kỳ hạn được thoả thuận và mua bán trực tiếp giữa hai bên kí kết hợp
đồng.
• Hợp đồng tương lai được mua bán trên thị trường chứng khoán tập trung.
Hợp đồng kỳ hạn được mua bán trên thị trường phi tập trung.
• Tính thị trường: Hợp đồng kỳ hạn tiêu chuẩn thường không có giao dịch
thứ cấp, tức là khi muốn thay đổi các bên đối tác tham gia hợp đồng kỳ hạn, phải
đàm phán tìm đối tác khác thay thế, điều này làm tăng chi phí, thời gian thực
hiện hợp đồng bị kéo dài. Ngược lại, hợp đồng tương lai được chuẩn hoá và giao
dịch liên tục trên TTCK.
• Rủi ro: Hợp đồng kỳ hạn có thể gặp rủi ro lớn khi bên đối tác không đủ
khả năng thực hiện hợp đồng là khoảng thời gian trong tương lai, trong khi hợp
đồng tương lai do giao dịch tại các Sở giao dịch chứng khoán, nên rủi ro sẽ thấp
hơn hoặc có cơ chế bảo hiểm khi xảy ra rủi ro.
• Thời điểm thực hiện hợp đồng: Hợp đồng tương lai thường xác định thời
điểm thực hiện hợp đồng là khoảng thời gian trong tương lai, trong khi hợp đồng
kỳ hạn xác định chính xác thời điểm thực hiện hợp đồng.
• Căn cứ thị trường của hai loại hợp đồng cũng có khác biệt, hợp đồng kỳ
hạn chỉ có một thời điểm thanh toán khi kết thúc hợp đồng, còn hợp đồng tương
lai yêu cầu các bên tham gia phải có chi phí gắn với diễn biến thị trường. Trong
thời hạn của hợp đồng tương lai có thể phát sinh dòng tiền, thu nhập trong quá
11
trình thực hiện hợp đồng. Ví dụ hợp đồng tương lai đối với trái phiếu thì chủ sở
hữu thực vẫn nhận được các khoản thu nhập từ trái phiếu trong thời gian hợp
đồng chưa có hiệu lực. Đây là khác biệt căn bản của hợp đồng kỳ hạn và hợp
đồng tương lai.
• Hợp đồng tương lai được tính hàng ngày theo giá thị trường. Hợp đồng
kỳ hạn được thanh toán vào ngày đáo hạn.
• Giống như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng giao sau cũng có rủi ro hai chiều,
rủi ro tín dụng, tức người sở hữu hợp đồng hoặc là người được nhận hoặc là

tự tìm đến với nhau, loại thị trường này gọi là thị trường OTC – loại thị trường
quyền chọn xuất hiện đầu tiên. Hầu hết các quyền chọn chúng ta quan tâm là
mua bán các loại tài sản tài chính chẳng hạn như cổ phiếu, trái phiếu.... Mặc dù
vậy, cũng xuất hiện một hình thức khác của quyền chọn đó là loại thoả thuận tài
chính như hạn mức tín dụng, đảm bảo khoản vay, và bảo hiểm. Ngoài ra, bản
thân cổ phiếu cũng là quyền chọn trên tài sản công ty.
Quyền chọn cũng có những nét giống với một hợp đồng kỳ hạn nhưng
quyền chọn không bắt buộc phải thực hiện giao dịch còn người sở hữu hợp đồng
kỳ hạn bắt buộc bắt buộc phải thực hiện giao dịch. Hai bên trong hợp đồng kỳ
hạn có nghĩa vụ phải mua và bán hàng hoá, nhưng người nắm giữ quyền chọn có
thể quyết định mua hoặc bán tài sản với giá cố định nếu giá trị của nó thay đổi.
Có hai kiểu thực hiện quyền chọn:
• Theo kiểu Mỹ: thực hiện quyền chọn vào bất cứ ngày nào trước ngày đáo
hạn.
• Theo kiểu châu Âu: thực hiện quyền chọn chỉ trong ngày đáo hạn.
13
Có hai loại quyền chọn:
Quyền chọn mua:
Người mua quyền chọn trả một khoản tiền (gọi là phí quyền chọn) cho
người bán. Người mua sẽ có quyền được mua một lượng tài sản nhất định theo
một mức giá thoả thuận trước, tại một thời điểm xác định trong tương lai. Người
bán nhận phí quyền chọn có trách nhiệm phải bán một lượng tài sản như đã thoả
thuận cho người mua, theo mức giá đã thoả thuận, vào thời điểm xác định trong
tương lai ( hoặc trước thời điểm đó) khi người mua muốn thực hiện quyền chọn
mua.
Ví dụ: Giá cổ phiếu ngân hàng AB tại thời điểm hiện tại là 100.000đồng/cổ
phiếu, nhà đầu tư sau khi phân tích đưa ra dự báo giá cổ phiếu sẽ tăng lên
khoảng 200.000đồng. Hiện tại, nếu muốn mua 1000 cổ phiếu của AB thì nhà đầu
tư phải bỏ ra 100.000.000đ để mua nó.
Giả sử sau một thời gian giá cổ phiếu không như dự báo, giảm xuống còn

động trên OTC, và họ sẽ thực hiện vị thế đối nghịch trong giao dịch. Tuỳ thuộc
vào lãi suất hay giá sau đó như thế nào mà 1 bên sẽ thu được lợi nhuận hay là bị
lỗ. Lãi của bên này chính là lỗ của bên kia.
Thông thường giao dịch hoán đổi bao gồm các thanh toán lãi, trong một số
trường hợp là thanh toán nợ gốc.
Có 4 loại hoán đổi là hoán đổi tiền tệ, hoán đổi lãi suất , hoán đổi chứng
khoán và hoán đổi hàng hoá. Hoán đổi được xem như là sự kết hợp giữa các hợp
đồng kỳ hạn.
15
2.2.5. Một số loại chứng khoán phái sinh khác
2.2.5.1. Bán khống chứng khoán
Đây là một nghiệp vụ trên thị trường tài chính được thực hiện nhằm mục
đích lợi nhuận thông qua giá chứng khoán giảm. Nhà đầu tư sẽ vay cổ phiếu khi
giá đang cao để bán, khi giá xuống thấp thì nhà đầu tư mua lại để trả.
Khi đặt lệnh bán chứng khoán, nhà đầu tư không có chứng khoán trong tài
khoản, họ mong đợi giá sẽ giảm trong tương lai, khi đó họ sẽ mua được chứng
kháon với giá thấp hơn để trả cho công ty chứng khoán. Khoản chênh lệch là lợi
nhuận của nhà đầu tư, song nếu chứng khoán tăng thì họ sẽ bị lỗ.
2.2.5.2. Repo chứng khoán
Repo chứng khoán được hiểu là một giao dịch trong đó các chứng khoán
được mua ở tỉ lệ giao ngay và được mua lại ở tỉ lệ kì hạn. Về bản chất thì nghiệp
vụ repo giống như một khoản vay có bảo đảm bằng các chứng khoán và các tài
sản bảo đảm khác. Về hình thức biểu hiện thì repo chứng khoán sử dụng một hợp
đồng mua lại trong đó quy định các điều khoản mà mỗi bên tham gia phải tôn
trọng.
Một hợp đồng repo sẽ quy định rõ các điều khoản về:
• Tư cách của các bên tham gia giao dịch
• Quyền hạn và nghĩa vụ của mỗi bên
• Tài sản đảm bảo
• Tài sản dùng để repo: trái phiếu, cổ phiếu hay các chứng khoán khác.

Bên cạnh đó, thị trường phái sinh không dẫn vốn trong nền kinh tế vào
những âm mưu đầu cơ khủng khiếp. Những nhà đầu cơ thay vì giao dịch cổ
17
phiếu họ lại giao dịch các sản phẩm phái sinh và chính việc đầu tư vào công cụ
tài chính phái sinh tạo điều kiện cho việc phòng ngừa các rủi ro ít tốn kém hơn
và hiệu quả hơn. Thị trường phái sinh không tạo ra và cũng không thể phá huỷ
được tài sản, chúng chỉ là những phương tiện chuyển giao rủi ro trên thị trường,
những rủi ro sẵn có của thị trường tài sản, chuyển những khoản rủi ro đó từ
những người không đủ khả năng chấp nhận nó sang những người sẵn sàng tiếp
nhận nó. Không có thêm bất kì một rủi ro nào được sinh ra trên thị trường này,
và lợi ích từ thị trường không chỉ bó hẹp trong lợi ích của những nhà đầu cơ mà
nó lan toả ra toàn xã hội. 2. Thông tin hiệu quả hình thành giá
Thị trường kỳ hạn và tương lai là nguồn thông tin quan trọng đối với việc
hình thành giá cả.
Có rất nhiều hàng hoá được giao dịch trên thị trường tương lai nhưng thị
trường giao ngay của nó rất rộng lớn và phân tán nên rất khó có thể xác định giá
giao ngay của chúng, vì vậy thị trường tương lai được xem là một công cụ chủ
yếu để xác định giá giao ngay của tài sản và thường là giá tương lai của những
giao dịch sớm nhất sẽ được xác định là giá giao ngay của chúng. Ngoài ra thị
trường giao sau trên thế giới thường nhộn nhịp hơn nên các thông tin cung cấp
trên thị trường này có tính tin cậy cao hơn. Những thông tin được cung cấp trên
thị trường phái sinh dù trực tiếp hay gián tiếp đều góp phần hình thành giá giao
ngay trong tương lai một cách có hiệu quả mà những người tham gia thị trường
có thể chốt lại trong giới hạn chấp nhận của mình.

3. Các lợi thế về hoạt động và tính hiệu quả
18

trạng thái mở, các rủi ro tài chính.
Xét ở góc độ hoạt động kinh doanh của các tổ chức tài chính: Các lợi ích
thu được khi ứng dụng công cụ phái sinh cũng tương tự doanh nghiệp. Hơn thế
nữa, với vai trò của trung gian tài chính, các tổ chức này có thể tăng nguồn thu từ
chi phí với tư cách của người môi giới. Đặc biệt, khả năng mở rộng, phát triển
các hoạt động khác của tổ chức tài chính như huy động vốn, cho vay, dịch vụ
thanh toán, tư vấn .... cũng tăng cao và hiệu quả hơn.
Như vậy, công cụ tài chính phái sinh là sản phẩm của nền kinh tế hiện đại, kỹ
thuật tài chính này đòi hỏi một trình độ hiểu biết và phát triển nhất định của bất
kì nền kinh tế nào.

III. KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
PHÁI SINH CỦA MỘT SỐ NƯỚC
1. Sự ra đời của thị trường quyền chọn
Có rất nhiều loại công cụ tài chính phái sinh khác nhau trên thị trường
nhưng có thể thấy giao dịch quyền chọn là giao dịch được ưu tiên hơn cả về
những ích lợi mà nó đem đến.
Điểm lại lịch sử hình thành quyền chọn trên thị trường ta có thể thấy sự
phát triển của thị trường này trên thế giới, qua đó thấy được nhu cầu của những
nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán.
Giao dịch đầu tiên về quyền chọn bán và quyền chọn mua bắt đầu ở Châu
Âu và Mỹ từ đầu thế kỉ XVIII. Những năm đầu thị trường hoạt động thất bại vì
nạn tham nhũng.
20
Vào đầu những năm 1900, một nhóm công ty đã thành lập Hiệp hội những
nhà môi giới và kinh doanh quyền chọn. Mục đích của hiệp hội này là cung cấp
kỹ thuật nhằm đưa những người mua và những người bán lại với nhau. Nhà đầu
tư muốn mua Quyền chọn liên hệ với một công ty thành viên, công ty này sẽ cố
gắng tìm người bán quyền chọn từ những khách hàng của họ hoặc của công ty
thành viên khác, nếu không có người bán, công ty sẽ tự phát hành quyền chọn


2. Sở giao dịch chứng khoán Philadelphia
Philadelphia là địa điểm giao dịch quyền chọn lớn nhất và giao dịch kì hạn
kì hạn lớn thứ 3 của Mỹ. Sau đây là đôi nét về quá trình hình thành của Sàn giao
dịch này.
Năm 1790 Sở giao dịch chứng khoán Philadelphia ra đời.
Năm 1972, nghề môi giới chứng khoán trở thành một nghề kinh doanh
phổ biến ở Philadelphia sau khi “Ban điều hành Philadelphia của những người
môi giới ra đời”.
Sự phát triển của máy vi tính trong những năm 1960 và 1970 đã làm thay
đổi mọi việc kinh doanh và kinh doanh chứng khoán cũng không phải là ngoại
lệ. Vào thời gian giữa của sự phát triển kĩ thuật cho việc giao dịch chứng khoán,
Sở giao dịch chứng khoán Philadelphia tiếp tục chương trình công kích của nó
về việc đổi mới sản phẩm bằng việc cho vào danh sách “quyền chọn cổ phiếu”
năm 1975. Vì vậy, Philadelphia trở thành sở giao dịch đầu tiên ghi vào danh sách
quyền chọn cổ phần cho việc mua bán.
22
Tháng 4 năm 1988, Sở giao dịch đã lợi dụng việc luôn bán kỹ thuật điện
dùng vào sàn giao dịch chứng khoán để xây dựng một hệ thống mới thích hợp
với việc giao dịch quyền chọn. Hệ thống thị trường quyền chọn tự động hoá cho
phép việc giao hàng điện tử những đơn đặt hàng từ phía các công ty thành viên
đến sàn giao dịch, tự động thực hiện và xác nhận đã hoàn thành những đơn đặt
hàng đó.
Tuy nhiên, sự phát minh phổ biến nhất của thập kỉ 20 là việc Sàn giao dịch
chứng khoán Philadelphia cho ra đời quyền chọn tiền tệ năm 1982. Đến năm
1988, giao dịch quyền chọn tiền tệ lên tới 4tỉ USD/ngày. Quyền chọn bán ở sở
giao dịch trên bản đồ quốc tế đã thu hút sự chú ý của châu Âu, Pacific và vùng
Viễn Đông, cũng từ đó những văn phòng đại diện sở giao dịch chứng khoán đầu
tiên đựơc hình thành ở khắp mọi nơi. Sự thành công của việc giao dịch quyền
chọn tiền tệ trên Sở giao dịch Philadelphia đã cho ra đời giao dịch tương lai và

Năm 1986, sự nghiệp đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo trong gần
20 năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn, mở ra một thời kỳ phát triển
mới cho nền kinh tế Việt Nam. Trong đó, vai trò của đổi mới hoạt động ngân
hàng đã đóng góp một phần rất quan trọng đối với nề kinh tế.
Ngày 26/03/1988, Chính phủ đã ban hành nghị định 53/HĐBT hình thành
hệ thống ngân hàng hai cấp, trong đó NHNN làm chức năng quản lý nhà nước về
tiền tệ, tín dụng và ngân hàng chuyên doanh trực tiếp kinh doanh tiền tệ và dịch
vụ ngân hàng.
25
Hai pháp lệnh về Ngân hàng năm 1990 đã đánh dấu sự ra đời của hệ thống
NHTM ở Việt Nam và góp phần đa dạng hoá hoạt động ngân hàng cả về mặt
hình thức sở hữu cũng như số lượng ngân hàng.
Sau đây là những số liệu cụ thể về số lượng và hình thức sở hữu ngân
hàng thương mại qua các giai đoạn.
Bảng 1: Phát triển NHTM Việt Nam từ 1991-1997
1991 1993 1995 1997
Ngân hàng quốc doanh 4 4 4 5
Ngân hàng cổ phần 4 41 48 51
Ngân hàng liên doanh 1 3 4 4
Chi nhánh NHNN 0 8 18 24
Tổng cộng 9 56 74 84
Nguồn: Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước
Với việc bình thường hoá các mối quan hệ với các tổ chức tài chính tiền tệ
quốc tế (IMF, WB, ADB) vào năm 1993 và năm 1995, Quốc hội thông qua nghị
quyết bỏ thuế doanh thu đối với hoạt động ngân hàng, thành lập ngân hàng phục
vụ người nghèo đã góp phần vào sự phát triển đa dạng các loại hình Ngân hàng
thương mại Việt Nam cả số lượng lẫn hình thức sở hữu, thúc đẩy nỗ lực cạnh
tranh giữa các NHTM, từ đó nâng cao trình độ nghiệp vụ và chất lượng phục vụ
sao cho ngày càng tiện ích cho khách hàng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status