Chương I
TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU
1.1. TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1.1. Những nhận thức về xói mòn.
1.1.1.1. Khái niệm.
Thuật ngữ xói mòn (erosion) có nguồn gốc từ tiếng Latinh “erosion” nghĩa
là cào mòn. Hiểu với nghĩa khái quát thì xói mòn là sự chuyển dời vật lý lớp đất
mạt từ cao xuống thấp hoặc từ nơi này đến nơi khác do các tác nhân khác nhau như
nước chảy, gió, sức kéo trọng lực. Quá trình di chuyển lớp đất do nước đều kéo
theo các vật liệu tan và không tan [7]. Trong đó, xói mòn do nước là quá trình phá
huỷ lớp phủ thổ nhưỡng dưới hình thức cuốn trôi các phần tử đất từ nơi cao đến
nơi thấp dưới tác động của mưa và dòng chảy, làm giảm độ phì đất và gây thoái
hoá đất.
1.1.1.2. Đặc điểm
Quá trình xói mòn diễn ra chủ yếu ở lớp bề mặt trên cùng của lớp thổ
nhưỡng do lực tương tác của các tác nhân bên ngoài lên các phần tử đất trên cùng.
Lực tác động này chủ yếu là động lực của cường độ mưa và lực tác dụng của gió.
Theo nhiều nhà nghien cứu thì quá trình di chuyển các vật liệu bề mặt từ nơi này
đến nơi khác do tác nhân xói mòn có thể phân thành 3 giai đoạn (03 pha) [7].
a. Pha thứ nhất: Tách các cấu tử đất ra khỏi khối đất.
Pha này xảy ra khi có sự tác động của xung lực hạt mưa hoặc lực tác dụng
của gió lên các phần tử đất trên cùng của bề mặt đất. Lực tác động này thắng lực
liên kết của hạt đất với khối đất làm cho các phần tử tách ra khỏi lớp đất. Lúc này
chúng mới chỉ bị tách ra khỏi khối đất bề mặt và rơi xuống tại các vị trí xung quanh
khu vực chịu lực tác động chứ chưa di chuyển ra xa vị trí ban đầu.
b. Pha thứ hai: Di chuyển các phần tử tách ra đến nơi khác.
Các phần tử bị tách ra khỏi khối đất lúc này sẽ không còn sự liên kết với lớp
a. Xói mòn theo diện (Sheet erosion, interill erosion):
Đây là sự di chuyển cả lớp đất mỏng dưới 3cm trên một diện rộng. Loại xói
mòn này làm cho tầng mùn bị bào mòn dần, các phần tử sét mịn của đất bị cuốn
trôi làm cho đất nhẹ đi về thành phần cơ giới, ở những vùng đất có độ dốc lớn xói
mòn này có thể bóc hẳn đi cả tầng đất và bỏ phong hoá, làm lộ ra cả lớp đá mẹ bên
dưới.
Xói mòn bề mặt xuất hiện trong những trường hợp cường độ dòng chảy mặt
yếu và xuất hiện các rãnh rất nhỏ một cách liên tục, có sự dịch chuyển về vị trí.
b. Xói mòn theo dòng:
+ Xói mòn tạo rãnh nhỏ (Rill erosion):
Xói mòn này do nước tập trung dòng chảy đào mòn thành các mương rãnh
có độ sâu dưới 30 cm. Nguyên nhân là do lúc đầu địa hình mặt đất không bằng
phẳng, có những chỗ trũng, nước đã tập trung lại và tạo thành dòng chảy mạnh
khoét sâu xuống đất tạo thành rãnh nhỏ, từ đó cứ bào mòn dần thành rãnh lớn hơn
sau những trận mưa. Các đặc điểm của rãnh xói nhỏ như sau:
- Là kết quả của mưa lớn trên bề mặt đất không có độ che phủ, như vừa làm
đất xong hay các điểm xây dựng;
- Là một đường dẫn nước chảy bề mặt thẳng và nông dưới 30cm, bị xói sâu
bởi dòng chảy mặt đậm đặc;
- Vì độ sâu không quá 30cm nên không làm cản trở công việc làm đất bình
thường, mà chỉ ảnh hưởng đến độ sâu của tầng đất cày.
- Các rãnh nhỏ tiếp tục phát triển theo 2 hướng: Đào sâu (rãnh xói bị đào sâu
- xâm thực dọc) để trở thành rãnh lớn (gully); mở rộng và uốn khúc (xâm thực
ngang). Trường hợp này cũng phát triển thành rãnh lớn.
+ Xói mòn xẻ rãnh lớn (Gully erosion) :
Là quá trình xói mòn mà nước tập trung vào các đường dẫn nước hẹp trong
một khoảng thời gian ngắn và vận chuyển đi nơi khác, độ sâu có thể đạt từ 0,3 đến
20cm. Quá trình hình thành rãnh chủ yếu liên quan đến hoạt động phá huỷ, tân
kiến tạo, cấu trúc không đồng nhất của các lớp đất,...
nhanh hơn.
Chiều dài của sườn cũng ảnh hưởng tương tự đối với lượng đất mất đi. Trên
một sườn dài, dòng chảy sẽ dày và tốc độ lớn hơn; và những dòng chảy nhỏ có thể
phát triển nhanh hơn so với sườn ngắn.
Cường độ xói mòn tỷ lệ thuận với độ dốc. Nhìn chung xói mòn có thể gây ra
ở 3 , nếu độ dốc tăng lên 2 lần thì cường độ xói mòn sẽ tăng lên 4 lần, nếu độ dốc
tăng lên 4 lần thì dòng chảy mặt tăng 2 lần và khối lượng vật chất bị cuốn trôi tăng
64 lần (theo luật Ery).
0
d. Thảm phủ thực vật:
Thực vật có khả năng bù đắp những ảnh hưởng xói mòn của những nhân tố
khác như: khí hậu, địa hình và đặc tính của đất. Những ảnh hưởng chính của thảm
thực vật bao gồm:
- Ngăn cản mưa bằng hệ thống tán lá;
- Giảm tốc độ dòng chảy mặt, do đó chặn hoạt động của nước và khả năng
vận chuyển trầm tích;
- Hệ thống rễ tăng khả năng chống chịu cơ học, liên kết hạt, và tính xốp của
đất;
- Những hoạt động của vi sinh vật kết hợp với sự phát triển thực vật và
những ảnh hưởng của chúng lên độ xốp của đất;
- Sự bốc hơi nước, dẫn đến khô đất;
e. Con người:
Ngoài các yếu tố thiên nhiên thì yếu tố con người cũng đã gây ảnh hưởng rất
lớn đến sự xói mòn đất bởi các hoạt động sau:
- Khai thác đất bừa bãi, khai hoang vô ý thức, không bảo vệ rừng đầu nguồn,
khai phá chặt cây bừa bãi ở những khu vực có độ dốc lớn, đốt cháy rừng làm rẫy
để trống đất dốc không có cây che phủ,...
này ở từng điều kiện lãnh thổ cụ thể. Một số tác giả có đóng góp đáng chú ý là
S.S.Sobolev (1961), Zakharov (1971), Eguazarov (1963), S.E.Mirskhulava từ 1960
đến 1976, I.Stanev (1979), A.Biotrev (1974).
Có nhiều công trình nghiên cứu xói mòn đất đã được tiến hành tại các nước
Châu Á (Xrilanca, Ấn Độ, Nhật Bản, Thái Lan, Philipin...) và Ôxtrâylia song chủ
yếu tập trung vào nghiên cứu ứng dụng.
Từ thập kỷ 90, nghiên cứu xói mòn đất mới phát triển rất mạnh. Trong đó,
sự phát triển mạnh mẽ của phương pháp mô hình mô phỏng bằng toán học dưới sự
trợ giúp của khoa học công nghệ. Quá trình mô phỏng hiện tượng xói mòn chủ yếu
thông qua chương trình mất đất phổ dụng (Universal Soil Loss Equation) do
Wischmeier tiến hành vào năm 1958. Và tuỳ thuộc vào đặc điểm lãnh thổ mà nó
được cải tiến cho phù hợp thông qua việc xác định các tham số của phương trình.
Tuy nhiên việc lựa chọn áp dụng mô hình nào là tuỳ thuộc vào từng khu vực, từng
điều kiện, phương tiện nghiên cứu và yêu cầu về độ chính xác.
1.2.2. Sự phát triển nghiên cứu đánh giá xói mòn đất ở Việt Nam.
Việc nghiên cứu đánh giá xói mòn ở Việt Nam chỉ bắt đầu từ những năm
1960. Một số tác giả đã nghiên cứu xói mòn đất ở Đông Bắc, Tây Bắc bằng các
phương pháp đơn giản và trực quan như đóng cọc, dùng dây dọi... hoặc mô tả,
đánh giá định tính quá trình xói mòn từ năm 1961 đến 1964. Sau đó, do chiến tranh
(1965-1976), vấn đề xói mòn ít được quan tâm nghiên cứu. Những công trình đầu
tiên nghiên cứu đánh giá xói mòn ở Việt Nam đáng chú ý là của tác giả Nguyễn
Quý Khải (1962), Nguyễn Xuân Khoát (1963), Tôn Gia Huyên (1963, 1964), Bùi
Quang Toản (1965), Trần An Phong (1967)... Trong những năm 1977, 1978, các
đề tài nghiên cứu xói mòn được triển khai trong nhiều chương trình khoa học cấp
nhà nước như các chương trình Tây Nguyên, Tây Bắc,...Những công trình này đã
đi sâu nghiên cứu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tự nhiên đến xói mòn; phương pháp
nghiên cứu có tính định lượng bằng quan trắc, cân đo chính xác nên có sức thuyết
phục hơn. Đáng chú ý là các công trình của Bùi Quang Toản (1985), Đỗ Hưng
thường là trở ngại chính trong việc lựa chọn. RMMF được sử dụng vì không cần
quá nhiều dữ liệu và dựa vào các cơ chế động lực, được hiểu một cách dễ dàng hơn
những mô hình khác (Morgan, 2005; Shrestha và các cộng sự, 2004; Vigiak,2005).
Gần đây, mô hình được sửa lại bằng cách thêm vào ảnh hưởng của dòng chảy mặt
đến khả năng tách hạt đất. Phiên bản mới là mô hình vật lý được cải tiến với nhiều
thông số đầu vào, có thể được áp dụng cho lưu vực sông (Morgan, 2001). Mô hình
được chia thành 2 quá trình: pha nước và pha vận chuyển. Mô hình RMMF đòi hỏi
15 thông số.
Bảng 1.1: Các thông số đầu vào của mô hình RMMF (Morgan 2000)
Pha nước:
Trong pha nước, năng lượng mưa và tốc độ dòng chảy mặt sẽ được tính
toán. Lượng mưa trung bình năm tính thành lượng mưa hữu hiệu ( ER- Effective
Rainfall), với phần nhỏ (0 đến 1) lượng mưa trung bình không bị chắn bởi tán lá.
Lượng mưa hữu hiệu được chia thành lượng mưa rơi trực tiếp đến mặt đất mà
không bị ngăn bởi tán lá (DT - Direct Throughfall); và lượng mưa theo lá xuống bề
mặt (LD - Leaf Drainage), tức là bị ngăn cản bởi lá cây và đến bề mặt theo dòng
chảy trên thân lá hoặc chảy nhỏ giọt từ lá. Sự phân chia đó là do ảnh hưởng của độ
che phủ (CC; 0 - 1).
Năng lượng của mưa trực tiếp (KEDT) là một hàm của cường độ mưa (I,
mm/h) và DT. Tương tự, năng lượng mưa theo lá xuống bề mặt là một hàm của Độ
cao cây (PH) và Độ che phủ (CC- Canopy Cover). Tổng 2 năng lượng này quyết
định đến khả năng tách các phần tử đất ra khỏi bề mặt. Trên các cánh đồng, lưu
lượng dòng chảy mặt (Q) được tính toán trong điều kiện no nước: Dòng chảy phát
sinh khi lượng mưa ngày vượt quá khả năng trữ ẩm của đất.
b. Pha vận chuyển:
Lưu lượng dòng chảy mặt (Q) được sử dụng để tính toán sự tách rời các
phần tử đất bởi khả năng tách các hạt đất do dòng chảy (H) và khả năng vận
Bước 1: Khảo sát, đo đạc, phân tích các điều kiện tự nhiên và nhân sinh ảnh
hưởng trực tiếp đến quá trình xói mòn làm cơ sở cho việc xác định các thông số
đầu vào của mô hình RMMF. Nội dung chính bao gồm: Phân tích các yếu tố ảnh
hưởng trực tiếp đến xói mòn tiềm năng; xác định các thông số đầu vào cho mô
hình bằng công tác trong phòng và thực địa.
Bước 2: Chạy mô hình tính toán lượng đất xói mòn và phân hạng xói mòn.
Nội dung chính bao gồm: Xử lý dữ liệu 15 thông số đầu vào của mô hình RMMF;
Tính toán các công thức trong mô hình, Kết quả đánh giá và phân dạng lượng đất
xói mòn. Các nội dung này thực hiện dựa vào sự trợ giúp của phần mềm Mapinfo
và AcrGis 9.3.1.
Hình
Bước 3: Đề xuất các biện pháp sử dụng tài nguyên đất. Bước này bao gồm 3
nội dung chính: Phân tích kết quả tính toán xói mòn trên từng khu vực của lãnh thổ
nghiên cứu; phân tích các cơ sở khoa học khác liên quan đến sử dụng tài nguyên
đất ở lãnh thổ; Đề xuất các biện pháp sử dụng hợp lý tài nguyên đất một cách lâu
bền cho lãnh thổ nghiên cứu.
1.4. QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
1.4.1. Các quan điểm tiếp cận.
1.4.1.1. Quan điểm lịch sử.
Khi nghiên cứu một lãnh thổ thì việc xem xét mối quan hệ lịch sử, sự phân
hoá lãnh thổ đã diễn ra trong quá khứ về mặt phát sinh tự nhiên và cả kinh tế - xã
hội là một việc cần thiết. Một đơn vị lãnh thổ tự nhiên cấp thấp luôn được phát
sinh từ một cấp cao hơn dưới tác động của các quy luật địa lý tự nhiên. Vì vậy, các
thành phần tự nhiên, trong đó có các nhân tố ảnh hưởng trực đến xói mòn có tác
động lẫn nhau không những trong phạm vi lãnh thổ nghiên cứu mà còn có quan hệ
rất chặt chẽ giữa lãnh thổ này với lãnh thổ khác. Do đó, khi nghiên cứu một lãnh
thổ nhất thiết phải nghiên cứu mối quan hệ từ trên xuống và từ dưới lên.
hiện thông qua việc đảm bảo chất lượng các thành phần môi trường bao gồm các
hệ sinh thái...; Mức độ duy trì các tài nguyên tái tạo, việc khai thác và sử dụng hợp
lý các tài nguyên không tái tạo; Mức độ đầu tư đầy đủ của xã hội cho các hoạt
động bảo vệ môi trường; Nâng cao khả năng kiểm soát đối với các hoạt động phát
triển kinh tế - xã hội tiềm ẩn những tác động xấu đến môi trường; nhận thức và ý
thức bảo vệ môi trường của cộng đồng...[17].
Đối với từng lãnh thổ, các mục tiêu cho phát triển bền vững là không giống
nhau tuỳ theo mức độ phát triển và các chính sách ưu tiên của chính phủ. Huyện
Đăkrông là một huyện miền núi, để hướng tới phát triển bền vững cần phải nâng
cao mức sống của người dân trên cơ sở duy trì và phát triển rừng; sử dụng và bảo
tồn đất đai hợp lý. Trong đó, quản lý xói mòn là một nội dung quan trọng cần tiến
hành ở lãnh thổ nghiên cứu.
1.4.2. Phương pháp nghiên cứu.
Để thực hiện tốt mục tiêu và nội dung của đề tài, tác giả đã sử dụng các hệ
thống phương pháp nghiên cứu:
1.4.2.1. Phương pháp thống kê, thu thập số liệu.
Dựa vào số liệu thống kê về các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của
huyện Đăkrông, tác giả đã có những thông tin khái quát về lãnh thổ nghiên cứu.
Hơn nữa, để thực hiện các nội dung nghiên cứu đạt kết quả cao, tác giả đã hệ thống
hoá các bản đồ, tài liệu,...đã thu thập được. Nguồn dữ liệu thống kê bao gồm:
- Thống kê qua tài liệu, báo cáo và sổ sách lưu trữ;
- Thống kê qua khảo sát, đo đạc thảm phủ thực vật, phân tích một số chỉ tiêu
về thổ nhưỡng;
- Thống kê qua đo đếm, tính toán trên bản đồ. Đây là phương pháp rất quan
trọng vì các số liệu thu thập được có tính đồng bộ và tương đối đầy đủ.
1.4.2.2. Phương pháp bản đồ và viễn thám .
Việc xác định các thông số đầu vào cho mô hình để tính toán lượng đất xói
mòn tiềm năng đòi hỏi phải sử dụng bản đồ. Đặc biệt, trong đánh giá định lượng
Đây là phương pháp truyền thống được sử dụng rộng rãi trong địa lý và có
thể xem là một phương pháp không thể thiếu được khi nghiên cứu chi tiết một lãnh
thổ. Trong quá trình thu thập số liệu là luận văn, tác giả đã:
- Tiến hành khảo sát, đo đạc và thu thập các số liệu về thảm thực vật, hiện
trạng xói mòn;
- Lấy 19 mẫu đất phân tích để xác định các thông số thổ nhưỡng;
- Kiểm định và khẳng định những kết quả đạt được từ qua trình suy diễn hay
tính toán trong phòng; đặc biệt là đối chiếu với các kết quả phân tích đất từ các
công trình trước trên địa bàn và lấy mẫu đất bổ sung cho những khu vực còn thiếu.
Công tác khảo sát thực địa được thực hiện theo 3 tuyến:
- Tuyến dọc đường 9 chạy qua huyện Đăkrông;
- Tuyến Mò Ó - Hải Phúc;
- Tuyến các xã dọc đường Hồ Chí Minh (Từ cầu Đăkrông đến các xã giáp
Tỉnh Thừa Thiên Huế).
Chương 2
ĐẶC ĐIỂM CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN XÓI MÒN
TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRANG XÓI MÒN ĐẤT Ở LÃNH
THỔ NGHIÊN CỨU.
2.1. TỔNG QUÁT VỊ TRÍ ĐỊA LÝ.
Đăkrông là một huyện miền núi phía Tây tỉnh Quảng Trị, trung tâm huyện ly
cách thành phố Đông Hà 41km, với hơn 53,8 km đường biên giới chung với nước
CHĐCN Lào, có cửa khẩu quốc gia LaLay, chiến khu cách mạng Ba Lòng trong
hai thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Lãnh thổ Đakrông được giới hạn bởi toạ độ địa lý từ 160 17’55’’
- Phía Bắc giáp huyện Gio Linh và Cam Lộ thuộc tình Quảng Trị;
- Phía Nam giáp tỉnh Thừa Thiên Huế và nước CHDCND Lào;
(56.71%), bao phủ rộng khắp khu vực nghiên cứu.
- Kiểu địa hình đồi cao: chiếm 21.92% diện tích, phân bố xung quanh các
khu vực sườn dọc các thung lũng sông Quảng Trị và Đăkrông.
- Kiểu địa hình đồi thấp: tập trung ở những khu vực thấp của sườn dọc theo
các thung lũng sông Quảng Trị và Đăkrông.
Nét đặc trưng của địa hình là mức độ chia cắt sâu lớn (300 – 400 m) và mức
độ chia cắt ngang mạnh (1.0 - 1.2 km/km 2). Trong khu vực có sự phân bậc độ cao
địa hình tương đối rõ nét. Các đỉnh núi cao trên dưới 1.000m nối liền thành các dãy
chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam tạo nên đường phân thủy và đồng thời cũng
là ranh giới tự nhiên của hai tiểu vùng khí hậu Đông - Tây Trường Sơn.
HÌNH 2.2: SƠ ĐÔ ĐỊA HÌNH HUYỆN ĐĂKRÔNG TỈNH QUẢNG TRỊ
Do địa hình lãnh thổ chủ yếu là đồi núi nên độ dốc bề mặt cũng rất lớn với
độ dốc trung bình toàn lãnh thổ khoảng 21 0, phân thành 5 cấp (Hình 2.4 và bảng
2.2). Trong đó, chiếm đa số là bề mặt có độ dốc từ cấp 4 và cấp 5 (chiếm 68.22%
diện tích tự nhiên). Các phần tử đất ở bên trên sẽ khó vững và dễ dàng tách ra khỏi
bề mặt dưới tác động của lực hạt mưa và dòng chảy mặt; đồng thời khả năng cuốn
đi và di chuyển các vật liệu bởi dòng chảy mặt là rất lớn.
Bảng 2.2 Diện tích các cấp độ dốc ở huyện Đăkrông
2.2.2 Khí hậu.
Đặc điểm chung các yếu tố khí hậu chủ yếu được quan trắc ở các trạm có
liên quan đến lãnh thổ nghiên cứu trình bày ở bảng 2.3. Qua đó cho thấy, lãnh thổ
Đăkrông có nền nhiệt cao, độ ẩm không khí lớn và lượng mưa tương đối dồi dào.
Tuy nhiên, gió Tây Nam khô nóng trong các tháng mùa hè ở vùng đồi thấp với
khoảng 50 ngày có nhiệt độ trên 350 C và độ ẩm dưới 55%.
Bảng 2.3: Giá trị trung bình năm một số yếu tố khí hậu ở các trạm
- Về chế độ mưa: Ở đây có một mùa mưa nhiều và một mùa mưa ít, đồng
thời có sự khác biệt sâu sắc giữa 2 sườn Đông và Tây Trường Sơn. Phía Đông
Trường Sơn có mùa mưa kéo dài 5 tháng ( từ tháng VIII đến tháng XII), còn phía
11 ngày có lượng mưa đạt trên 200mm (tháng X có 4 ngày).
1 ngày có lượng mưa trên 300mm ( rơi vào tháng IX/1990).
Không có ngày nào xuất hiện mưa trên 400mm.
Như vậy, ở miền Tây Đakrông khả năng mưa lớn thấp hơn nhiều so với
phần Đông, kể cả con số thống kê về số ngày lương mưa trên 100mm. Sự
phân hóa về khả năng mưa lớn giữa 2 khu vực có thể thấy rõ ở Bảng 2.5
[15]:
Bảng 2.5: Lượng mưa ngày lớn nhất (mm) tại trạm Đông Hà và Khe
Sanh
2.2.3 Nhân tố thổ nhưỡng
Kết quả điều tra và xây dựng bản đồ đất Quảng Trị của Nguyễn Khang
(2000) cho thấy trong phạm vi lãnh thổ Đakrông phát triển 14 loại đất. Đặc điểm
hình thái về độ dốc, tầng dày, thành phần cơ giới các loại đất được trình bày rõ ở
phụ lục 1, còn trong các loại đất trình bày rõ những đặc điểm hóa tính như mùn,
pHKCl..
1.
Bãi cát ven sông (Ký hiệu Cb – Haplic Arenosols (Arh)
Nhóm đất cát ở khu vực do sự bồi lắng chủ yếu từ sản phẩm thô (granit) của
dải Trường Sơn cùng với sự hoạt động của các hệ thống sông đặc thù. Đất này chủ
yếu phân bố ven sông Đăkrông với diện tích nhỏ.
2.
Đất phù sa được bồi (Pb) – Dystric Fluvisols (FLd)
Phân bố chủ yếu ở ven sông Quảng Trị. Có đặc điểm là đất chua, pH KCl tầng
và bảo vệ loại đất này. Kết quả phân tích cho thấy thành phần cơ giới của đất mặt
nhẹ, tỷ lệ cấp hạt sét trung bình 9,8 – 32,4%; đất chua (pH KCl 3,95 – 4,74); hàm
lượng mùn tổng số trung bình thấp (1,32 – 2,68%) và giảm theo chiều sâu; lân và
kali dễ tiêu ở các tầng đất nghèo. Cation kiềm trao đổi rất thấp ở tất cả các tầng
(
Đất đa số tầng mỏng, cơ giới nhẹ, nghèo dinh dưỡng, phân bố ở địa hình
chia cắt mạnh, có nhiều kết von đá ong.
Kết quả nghiêm cứu trước đây cho thấy thành phần cơ giới của đất nhẹ (tỷ lệ
cấp hạt sét và limon 18,2 – 34,8%, cát >65%), hàm lượng mùn tổng số tầng mặt
khá (>1,95%). Dung lựng Cation kiềm trao đổi thấp ở tất cả các tầng (3meq/100g
đất), dung tích hấp thu CEC kém trừ đơn vị đất phụ Đất vàng nhạt trên đá cát, đá
nông.
11.
Đất nâu vàng trên phù sa cổ (Fp) – Ferralic Acrisols (ACf)
Phân bố rải rác ở một số xã: A Ngo, A Bung và Tà Rụt với diện tích không
đáng kể. Đất có địa hình lượn sóng, được canh tác lâu đời, tầng mặt bị rửa trôi các
chất dinh dưỡng. Đất có thành phần cơ giới nhẹ (>90% cát tầng mặt), đất chua
(pHKCl ở các tầng trong khoảng 3,92 – 4,3); hàm lượng mùn, đạm, lân tổng số và
lân dê tiêu đều có sự dao động lớn tùy theo đơn vị phụ đất; kali dễ tiêu thấp ở các
tầng. Dung lượng Cation kiềm trao đổi thấp ở tất cả các tầng, dung tích hấp thu dao
động (1 – 9,83meq/100g đất), khả năng giữ nước kém.
12.
Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước (Ft) – Plinthin Acrisols (ACpt)
Phân bố rải rác ở ven các khe suối trong khu vực. Đất này được hình thành
tại chỗ, nhưng do chế độ canh tác lúa nước lâu đời làm thay đổi hẳn tính chất của
đất cả về mặt lý, hóa, sinh học mà chủ yếu là tính chất lý học. Hình thái phẫu diện
của đất mang cả tính chất của đất feralic, cả tính chất của đất lúa. Hàm lượng mùn
tổng số khá giàu (3,075%), kali tổng số thấp (0,34%) trong khi kali dễ tiêu nghèo
(0,6mg/100g đất)
13.
Sao mặt quỷ (Hopeamollissima), Bưởi bung (Macclyrodendron), Bứa (Garcunia
planchonii), Muồng đen (Cassia siamea), các loài Sung, Đa (Ficus sp).
+ Rừng rậm thường xanh nhiệt đới gió mùa, cây lá rộng, ít bị tác động với
các quần xã ưu thế: Gụ (Sindora tonkinensis), Xoay (Dialium cochinchinensis),
Lim xẹt (Peltophorum pterocarpum), Huỷnh (Heritiera cochinchinensis), Vấp
(Mesua frerea), Sau sau (Liqui dambra), Bằng lăng (Lagerstoemia calyculata).
Nhìn chung, rừng có độ che phủ và tầng lá khá lớn (>85%), cây có chiều cao
trên 10m nên đã giảm phần lớn động năng của hạt mưa và dòng chảy lên lớp đất bề
mặt. Do đó, rừng phân bố ở độ dốc lớn nhưng khả năng xói mòn thấp.
b. Thảm thực vật thứ sinh
Sau khi thảm thực vật nguyên sinh bị phá hủy, lớp phủ thực vật thứ sinh sẽ
phát triển tạo nên thảm thực vật khác hẳn so với ban đầu.
+ Trảng cây bụi thứ sinh, thường xanh cây lá rộng có cây gỗ rải rác với quần
xã ưu thế: Hu, Thành Ngạnh, Thao Kén, Mán Đỉa, Lá sến, Sim, Mua, Mâm Xôi.
+ Trảng cây bụi thứ sinh, thường xanh cây lá rộng không có cây gỗ với quần
xã ưu thế: Sim, Mua, cỏ Lào, Chổi xể.
+ Trảng cỏ thứ sinh.
Cây bụi thứ sinh xuất hiện nhiều ở xã A Bung, A Vao và A Bung; số còn lại
phân bố rải rác. Do cây bụi tái sinh sau khi rừng nguyên sinh bị khai thác nên sinh
khối, độ che phủ tán đã giảm (khoảng 50%), nhưng bề mặt vẫn có độ che phủ khá
lớn (khoảng 75%) do các cây bụi phát triển nhiều. Điều này góp phần làm giảm tác
động của hạt mưa, giảm dòng chảy mặt, lượng đất xói mòn cũng ít hơn.
2.2.4.2. Thảm thực vật nhân tác
Dưới sự tác động của con người, thảm thực vật nguyên sinh bị thay thế bởi
các thảm thực vật nhân tác, bao gồm:
a.
Các loại cây trồng hằng năm:
vẫn còn ở mức cao 1,7%, tỷ lệ hộ nghèo chiếm đến 34,7%. Về thành phần dân tộc,
người dân tộc Pa Cô, Vân Kiều chiếm đến trên 80% tổng dân số, phân bố chủ yếu
ở các khu vực đồi núi; người Kinh chủ yếu sinh sống ở thị trấn Krong Klang và
trung tâm các xã, nơi có địa hình tương đối bằng phẳng.
Hiện nay người dân đã tiến hành canh tác ở những diện tích đất bằng và
những sườn đồi gần khu vực dân cư. Tuy nhiên, với trình độ dân trí thấp, tập quán
canh tác lạc hậu nên hầu hết các diện tích đất canh tác đồi núi đều tồn tại những bất
cập.
- Người dân tộc vẫn còn thói quen khai hoang diện tích đồi núi để trồng trọt
bằng phương pháp đốt nương làm rẫy, sau một vài vụ lại bỏ hoang.
- Trồng các loại cây hằng năm trên diện tích đồi núi có độ dốc lớn (phổ biến
trên 150) nhưng hầu hết không có các biện pháp chống xói mòn.