ĐÊ 1:
I)phân tu luan
Câu 1:phap luat la j?phap luat co nhung thuoc tinh j?
*Định nghĩa Pháp luật:
Pháp luật là hệ thống những qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước
ban hành hoặc thứa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống
trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội pháp triển phù hợp với lợi ích của
giai cấp mình.
*Các thuộc tính của Pháp luật:
- Tính bắt buộc chung (tính qui phạm phổ biến): Trước hết, qui phạm được hiểu là
những qui tắc xử sự chung, được coi là khuôn mẫu, chuẩn mực, mực thước đối với
hành vi của 1 phạm vi cá nhân, tổ chức. Pháp luật được biểu hiện cụ thể là
những qui phạm pháp luật. Do vậy nó cũng là qui tắc xử sự chung cho phạm vi cá
nhân hoặc tổ chức nhất định. Pháp luật được Nhà nước ban hành hay thừa nhận
không chỉ dành riêng cho một cá nhân, tổ chức cụ thể mà áp dụng cho tất cả các
chủ thể. Tuy nhiên, điểm khác biệt giữa Pháp luật với các loại qui phạm khác ở
chỗ:Pháp luật là qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung.
VD: Pháp luật qui định: mọi chủ thể kinh doanh phải nộp thuế.
- Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức: Yêu cầu của pháp luật là phải xác định
chặt chẽ về mặt hình thức, được biểu hiện ở:
+Lời văn: phải chính xác, cụ thể, dễ hiểu, không đa nghĩa. Nếu không đúng được
yêu cầu này, chủ thể sẽ hiểu sai, hiểu khác.
+Pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và thông qua cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền ban hành. Tuy nhiên mỗi một cơ quan/ loại cơ quan chỉ được ban
hành những loại văn bản nhất định có tên gọi xác định và theo một trình tự, thủ tục
nhất định.
VD: Hiếu pháp, bộ luật: Quốc hội mới có quyền ban hành
Nghị định: Chính phủ mới có quyền ban hành
+Sự xác định chặt chẽ trong cấu trúc của Pháp luật.
- Tính đảm bảo được thực hiện bằng Nhà nước: Pháp luật do Nhà nước ban hành
Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã
hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà nước; bảo đảm hiệu lực của bộ máy
nhà nước từ trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp
và pháp luật; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
nhân
dân.
Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Uỷ
ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước” . Và theo điều 109 Hiến pháp 1992
“ Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính Nhà
nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ”. Qua hai điều
trên ta thấy Chính phủ vừa là cơ quan chấp hành của Quốc hội, vừa là cơ quan
hành
chính
nhà
nước
cao
nhất
.
Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội thể hiện ở :
Thứ nhất Quốc hội thành lập ra Chính phủ, quy định cơ cấu tổ chức, chức năng,
nhiệm vụ và quyền hạn cho Chính phủ . Chính phủ hoạt động dưới sự giám sát của
Quốc
hội,
nhiệm
kì
theo
nhiệm
kì
của
2
Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất thể hiện ở :
Hoạt động quản lý nhà nước là hoạt động chủ yếu,bao trùm toàn bộ các lĩnh vực
thuộc chức năng của Chính phủ được Hiến pháp quy định, hoạt động quản lý nhà
nước của Chính phủ bao trùm toàn bộ các lĩnh vực trong phạm vi cả nước : kinh
tế, văn hóa,xã hội Chính phủ thực hiện vai trò lãnh đạo,chỉ đạo,hướng dẫn thực
hiện và kiểm tra hoạt động của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính
phủ và Uỷ ban nhân dân như vậy sẽ đảm bảo sự thống nhất trong hoạt động quản
lý nhà nước. Bảo đảm hiệu lực của bộ máy Nhà nước từ trung ương đến cơ sở; bảo
đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật; phát huy quyền làm chủ
của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm ổn định và
nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân .
2.
Chức
năng
của
Chính
phủ
Về chức năng, dù có tên gọi khác qua bốn bản Hiến pháp nhưng Chính phủ đều
được xác định là cơ quan Nhà nước có chức năng hành pháp và Chính phủ còn có
chức năng quan trọng là quản lí đất nước theo quy định của Hiến pháp và Pháp
luật.Chức năng của Chính phủ được thể hiện thông qua việc :
Thống nhất quản lí việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước.
Đảm bảo hiệu lực của bộ máy Nhà nước từ trung ương đến địa phương.
Đảm
bảo
tôn
trọng
Luật tổ chức toà án nhân dân 1960, Hiến pháp1980, Luật tổ chức toà án nhân dân
1981, Hiến pháp 1992 và Luật tổ chức toà án nhân dân 1992, tổ chức về hoạt động
của toà án nhân dân ngày càng có các căn cứ pháp lí và đạt được hiệu quả cao.
Mặc dù đất nước trải qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, từ giai đoạn 9 năm
kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954, giai đoạn xây dựng CNXH ở miền
Bắc, kháng chiến chống Mĩ cứu nước 1954-1975 đến giai đoạn đất nước thống
nhất, cả nước đi lên CNXH từ 1975 trở đi và nay là giai đoạn cả nước đang tiến
hành công cuộc đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng nhằm mục tiêu
xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, nhưng toà án ở nước ta vẫn luôn
thực hiện chức năng rất quan trọng là xét xử.
Trong hiến pháp đầu tiên của nước ta được thông qua vào ngày 9/11/1946, mặc dù
không có một điều luật cụ thể nào khẳng định toà án có chức năg xét xử, nhưng nội
dung của các điều luật đều toát lên một nội dung là ở nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà việc xét xử các việc hình sự, dân sự, thương sự đều thuộc thẩm quyền của toà
án. Chương VI của Hiến pháp 1946 với tên gọi "cơ quan tư pháp" có 7 điều quy
định về tổ chức bộ máy và các nguyên tắc hoạt động của ngành toà án. Điều 63
Hiến pháp 1946 quy định: "Cơ quan tư pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
gồm
có:
a, Toà án nhân dân tối cao;
b, Các toà phúc thẩm;
c, các toà đệ nhị cấp và sơ cấp."Vào thời kì đó, khái niệm cơ quan tư pháp được
hiểu theo nghĩa hẹp của từ này tức là xét sử, và vì vậy, có thể hiểu cơ quan tư pháp
chính là cơ quan xét xử. Sau này các Điều 97 Hiến pháp 1959, Điều 128 Hiến pháp
1980 và gần đây nhất là Điều 127 Hiến pháp 1992 đều khẳng định ở nước ta Toà
án nhân dân tối cao, các toà án nhân dân địa phương, các toà án quân sự và các toà
án khác do luật định đều là cơ quan xét xử. Nội dung các điều trên của các bản
hiến pháp đã được cụ thể hoá trong Điều 1 Luật tổ chức toà án nhân dân được
Quốc hội khoá IX thông qua ngày 6/10/1992 tại kì họp thứ nhất.
Xét xử là một chức năng chỉ thuộc về toà án, không một cơ quan nhà nước, một tổ
động của trọng tài kinh tế không còn phù hợp, việc giải quyết các tranh chấp kinh
tế cần thiết phải giao cho toà án. Vì thế Luật tổ chức toà án nhân dân năm 1992 đã
được sửa đổi bổ sung bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức toà
án nhân dân năm 1992 được Quốc hội thông qua ngày 28/12/1993 với nội dung các
toà kinh tế thuộc toà án nhân dân tối cao và các toà án nhân dân cấp tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương được thực hiện với chức năng giải quyết các tranh chấp
kinh tế khi có yêu cầu từ phía các bên tranh chấp. Tiếp theo, ngày 28/10/1995
Quốc hội lại thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức toà án
nhân dân năm 1992 và đã được sửa đổi, bổ sung năm 1993. Theo luật mới này,
trong Toà án nhân dân tối cao và các toà án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương thành lập thêm các toà chuyên trách là Toà hành chính và Toà lao động
để xét xử cá vụ án về hành chính và các vụ án về lao động. Như vậy, cho tới thời
điểm này, ở nước ta, với vai trò là cơ quan xét xử, toà án không chỉ đơn thuần xét
sử về hình sự và dân sự như trước đây mà thẩm quyền của toà án đã mở rộng hơn
và nó thực hiện chức năng xét xử cả các tranh chấp về kinh tế, hành chính và lao
động.
Giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, lao động, hành chính, kinh tế thực chất là quá
trình áp dụng pháp luật của toà án. Đây cũng là một khâu trung tâm của hoạt động
tư pháp và với vai trò nhân danh Nhà nước thực hiện chức năng xét sử, toà án ra
bản án hoặc quyết định có tính chất kết luận về vụ án với những nội dung quan
trọng như có hay không có sự kiên pháp lí (có tội phạm hoặc tranh chấp hay
không), ai hoặc bên nào là người có lỗi, trách nhiệm pháp lí của từng người hoặc
5
5
từng bên như thế nào. Tham gia vào giải quyết các vụ án nói trên có một số cơ
quan như cơ quan điều tra, viện kiểm sát, giám định, luật sư (trong tố tụng hình sự)
và viện kiểm sát, giám định, luật sư, công chứng (trong tố tụng hành chính, kinh tế,
hành chính, lao động, trước khi xét xử, các đương sự, các bên có quyền hoà giải
với nhau. Điều 2 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế quy định; 'Người
khởi kiện có quyền rút đơn khởi kiện, thay đổi nội dung đơn kiện, các đương sự có
quyền hoà giải với nhau." và Điều 36 quy định: "Trước khi mở phiên toà, toà án
tiến hành hoà giải để các đương sự có thể hoà giải với nhau về việc giải quyết vụ
án...khi các đương sự thoả thuận được với nhau về viêch giải quyết vụ ánthì toà ná
6
6
lập biên bản hoà giải thành và ra quyết định cộng nhận sự thoả thuận của các
đượng sự và quyết định này có hiệu lực pháp luật". Trong các văn bản quy định về
thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, hành chính, lao động cùng có các quy định về
thủ tục hoà giải tương tự. Như vậy, có thể nói quá trình giải quyết các vụ án kinh
tế, dân sự, hành chính, lao động, hoà giải được coi là bắt buộc. Tham gia vào quá
trình hoà giải của các đương sự hoặc các bên, toà án hướng dẫn, giải thích cho họ
để họ có những thoả thuận hoàn toàn theo ý chí của mình nhưng không trái với các
quy định của pháp luật. Trong thực tế, sự thoả thuận của các bên, các đương sự
trong quá trình hòa giải rất có thể bị vi phạm hoặc không được thực hiện, vì vậy, để
thoả thuận ấy trở thành hiện thực và hai bên phải có nghĩa vụ tuân theo thì thoả
thuận đó phải được "pháp luật hoá" bởi một quyết định công nhận của toà án.
Quyết định này cũng như các quyết định khác hoặc bản án của toà án có hiệu lực
pháp luật và các bên tham gia hoà giải có nghĩa vụ thực hiện. Vì vậy, có thể nói
rằng, trong quá trình hoà giải giữa các đương sự, ngoài nhiệm vụ làm người hướng
dẫn, định hướng, giải thích pháp luật cho các bên toà án còn thực hiện nhiệm vụ
của một cơ quan nhân danh Nhà nước pháp luật hoá hay nói cách khác là ghi nhận
sự thoả thuận của các bên trong quá trình hoà giải.
Phiên toà xét xử bất kể là vụ án gì, hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính, lao độngthì
nó vẫn là một trong những hình thức tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật cho
đổi, bổ sung năm 2001):
+ Về chức năng công tố: Viện kiểm sát là cơ quan nhà nước duy nhất được giao
trách nhiệm thực hành quyền công tố, đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ lợi
ích của Nhà nước, của xã hội và của công dân. Nội dung cơ bản của chức năng
công tố là truy tố bị can ra trước Toà án (đưa ra lời buộc tội nhân danh nhà nước
thể hiện trong cáo trạng và duy trì buộc tội trước Toà án) để truy cứu trách nhiệm
hình sự của người đó, bảo đảm nguyên tắc tội phạm không tránh khỏi hình phạt
của Bộ luật Hình sự. Hoạt động công tố luôn là hoạt động chủ đạo của VCT cũng
như VKS ở các nhà nước khác nhau bởi lẽ đấu tranh chống tội phạm luôn là mối
quan tâm hàng đầu của mọi nhà nước. (Cần nói rõ không phải từ Hiến pháp năm
1980 trở đi VKS mới thực hiện chức năng công tố; mà hoạt động ‘truy tố trước Toà
án nhân dân những người phạm pháp hình sự” đã được quy định tại điểm b Điều 3
của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 và được VKS thực hiện ngay
từ khi thành lập).
+ Về chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật: Chức năng này được ghi nhận
xuyên suốt các bản Hiến pháp từ Hiến pháp năm 1959 trở đi. Chức năng này có
phạm vi rất rộng, bao gồm hoạt động kiểm sát chung, kiểm sát tuân theo pháp luật
trong việc điều tra của Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc
xét xử của Toà án nhân dân; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân; kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong việc giam giữ và cải tạo. Kiểm sát chung là một lĩnh vực hoạt
động của VKS có phạm vi liên quan đến tuân thủ pháp luật trong hoạt động của
các cơ quan hành pháp từ cấp Bộ trở xuống, chính quyền địa phương các cấp, tổ
chức và công dân. Hình thức phổ biến vi phạm pháp chế thống nhất của các cơ
quan nhà nước, chính quyền địa phương là vì lợi ích cục bộ đã không thực hiện
đúng luật hoặc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật của mình trái với luật
làm vô hiệu hoá hoặc biến dạng các quy định của luật do nhà nước Trung ương ban
hành. Để pháp luật được tuân thủ và được chấp hành nghiêm chỉnh, đòi hỏi phải
thiết lập hoạt động giám sát theo dõi việc ban hành các văn bản quy phạm pháp
ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Viện kiểm
sát là một thành tố trong hệ thống các cơ quan tư pháp, do vậy, vấn đề hoàn thiện
mô hình VKS trong giai đoạn phát triển mới của đất nước xuất phát từ chính yêu
cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và từ mục tiêu,
phương hướng, nhiệm vụ của cải cách tư pháp. Xây dựng nhà nước pháp quyền
không làm thay đổi bản chất nhà nước và nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước ở
nước ta mà chỉ làm đậm nét hơn bản chất của nhân dân, do nhân dân và vì nhân
dân của nhà nước, thực hiện triệt để hơn nguyên tắc nhân dân là chủ thể của quyền
lực nhà nước, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhà nước đặt dưới sự
giám sát của nhân dân. “Cải cách tư pháp phải bảo đảm sự ổn định chính trị, bản
chất nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”(5). Trong mọi vấn đề của cải cách tư
pháp - trong đó có vấn đề nghiên cứu chuyển đổi VKS thành VCT hay không
chuyển đổi, chúng ta không thể bỏ qua đặc thù của Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam. Đây là xuất phát điểm về phương pháp luận quan trọng khi
nói đến yêu cầu, nội dung của cải cách tư pháp nói chung và hoàn thiện VKS nói
riêng.
Câu 4: y thuc phap luat la gi?neu cac dac diem cua y thuc phap luat:
_ Ý thức pháp luật (YTPL) là 1 hình thái ý thức xã hội, về cấu trcúc bao gồm 2 bộ
phận: Tâm lý pháp luật và tư tưởng pháp luật.Tâm lý pháp luật hình thành 1 cách
9
9
tự phát dưới dạng tình cảm, tâm trạng , cảm xúc đối với các hiện tượng pháp luật
xảy ra trong đời sống xã hội. Tư tưởng pháp luật là tổng hợp các quan điểm, quan
niệm có tính lý luận, phản ánh các hiện tượng pháp luật 1 cách sâu sắc, tự giác
dưới dạng các khái niệm, các phạm trù khoa học.YTPL của 1 người có vai trò rất
quan trọng trong việc thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật. Vì vậy nâng cao ý
thức pháp luật là trách nhiệm của mỗi công dân.
nước
và
xã
hội.
Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định.
Ðiều52
Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.
10
10
Ðiều53
Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các
vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu
quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân.
Ðiều
54
Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn
giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều
có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc
hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật.
Ðiều
55
Lao
động
là
quyền
và
nghĩa
vụ
của
công
dân.
Bậc
tiểu
học
là
bắt
buộc,
không
phải
trả
học
phí.
Công dân có quyền học văn hoá và học nghề bằng nhiều hình thức.
Học sinh có năng khiếu được Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập để phát
triển
tài
năng.
Nhà
nước
có
chính
sách
học
phí,
học
nữ.
Lao động nữ và nam việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau. Lao động nữ có
quyền hưởng chế độ thai sản. Phụ nữ là viên chức Nhà nước và người làm công ăn
lương có quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo
quy định của pháp luật.
Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không
ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội; chăm lo phát triển các nhà hộ sinh,
khoa nhi, nhà trẻ và các cơ sở phúc lợi xã hội khác để giảm nhẹ gánh nặng gia
đình, tạo điều kiện cho phụ nữ sản xuất, công tác, học tập, chữa bệnh, nghỉ ngơi và
làm tròn bổn phận của người mẹ.
Ðiều64
Gia đình là tế bào của xã hội.Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình.Hôn nhân
theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.Cha
mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt. Con cháu có bổn phận
kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ.
12
12
Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con.
Ðiều65
Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục.
Ðiều66
Thanh niên được gia đình, Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động và
giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng về đạo đức, truyền thống dân tộc, ý
thức công dân và lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đi đầu trong công cuộc lao động sáng
tạo và bảo vệ Tổ quốc.
Ðiều67
và
giam
giữ
người
phải
đúng
pháp
luật.
Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm
của công dân.
13
13
Ðiều72
Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của
Toà
án
đã
có
hiệu
lực
pháp
luật.
Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi
thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự.Người làm trái pháp luật trong
việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý
nghiêm minh.
Ðiều73
ngoài.
Nhà nước tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ quan hệ gắn
bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước.
Ðiều76
Công
dân
phải
Phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất.
trung
thành
với
Tổ
quốc.
Ðiều77
Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân.
Công dân phải làm nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân.
14
14
Ðiều78
Công dân có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản của Nhà nước và lợi ích công
d) Do thiên tai, hoả hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác mà người sử dụng
lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất,
giảm chỗ làm việc;
đ) Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức chấm dứt hoạt động.
15
15
2- Trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo các điểm a, b và c
khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải trao đổi, nhất trí với Ban chấp
hành công đoàn cơ sở. Trong trường hợp không nhất trí, hai bên phải báo cáo với
cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Sau 30 ngày, kể từ ngày báo cho cơ quan lao động
biết, người sử dụng lao động mới có quyền quyết định và phải chịu trách nhiệm về
quyết định của mình. Trường hợp không nhất trí với quyết định của người sử dụng
lao động, Ban chấp hành công đoàn cơ sở và người lao động có quyền yêu cầu giải
quyết tranh chấp lao động theo trình tự do pháp luật quy định.
3- Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại điểm
b khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết
trước:
a) ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
b) ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn từ một năm đến ba
năm;
c) ít nhất ba ngày đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ, theo một công việc nhất
định mà thời hạn dưới một năm.
Cau 7: nguoi su dung lao dong k co wen don Phuong cham dut hop dong lao
dong trong nhung truong hop nao?
Điều 39
Người sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
luật.
- Cơ quanTư pháp : gồm có Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao và Tòa án Nhân dân
tối cao.
Cau 9: khai niem thuc hien phap luat,cac hinh thuc thuc hien phap luat
*Định nghĩa thực hiện pháp luật:
Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích mà các chủ thể pháp luật
bằng hành vi của mình thực hiện các qui định pháp luật trong thực tế đời sống.
*Các hình thức thực hiện pháp luật:
+ Tuân thủ pháp luật: là hình thức thực hiện những qui phạm pháp luật mang tính
chất ngăn cấm bằng hành vi thụ động, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế
không làm những việc mà pháp luật cấm.
VD: một công dân không thực hiện những hành vi tội phạm được qui định trong bộ
luật hình sự, tức là công dân đó tuân thủ những qui định của bộ luật này.
+ Thi hành pháp luật: là hình thức thực hiện những qui định trao nghĩa vụ bắt
buộc của pháp luật một cách tích cực trong đó các chủ thể thực hiện nghĩa vụ của
mình bằng những hành động tích cực.
VD: một người thấy người khác đang lâm vào tình trạng có thể nguy hiểm đến tính
mạng và người đó cứu giúp, tức là người đó đã bằng hành động tích cự thi hàng
qui định về nghĩa vụ công dân của pháp luật nói chung và của luật hình sự nói
riêng.
+ Sử dụng pháp luật: là hình thức thực hiện những qui định về quyền chủ thể của
pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật chủ động, tự mình quyết định việc thực
hiện hay không thực hiện điều mà pháp luật cho phép.
_ Như vậy hình thức này khác với 2 hình thức trên ở chỗ chủ thể không bị buộc
không được làm hoặc phải làm một việc nào đó mà được tự do lựa chọn theo ý chí
của mình.
VD: việc thực hiện các quyền bầu cử và ứng cử, quyền khiếu nại và tố cáo…
+ Áp dụng pháp luật: là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông
qua cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật
thực hiện những qui định pháp luật hoặc chính hành vi của mình căn cứ vào những