Công trình thủy điện Bảo Lâm 3A
Giai đoạn dự án đầu tư
MỤC LỤC
MỤC LỤC.....................................................................................................1
Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng năng lượng Việt Nam
1
Công trình thủy điện Bảo Lâm 3A
Giai đoạn dự án đầu tư
CHƯƠNG 1: TỔNG QUÁT
1. Mở đầu
Công trình thủy điện Bảo Lâm 3A nằm trên sông Nho Quế cách vị trí hợp lưu
giữa sông Nho Quế và sông Nhiệm khoảng 4km đối với phương án tuyến 1 và
6km đối với phương án tuyến 2 về phía hạ lưu và cách thị trấn Bảo Lâm, tỉnh Cao
Bằng khoảng 20km theo đường bộ (đường tỉnh lộ 4C và quốc lộ 34) về phía Tây
Nam, Công trình dự kiến nằm trên địa bàn xã Lý Bôn và xã Đức Hạnh của huyện
Bảo Lâm tỉnh Cao Bằng. Công trình có các thông số chính như sau:
-
Cao độ mực nước dâng bình thường 169,4m, mực nước chết 168,5m.Cao
trình đỉnh đập 178,5m.
Kết cấu đập bê tông trọng lực, trên nền đá có chiều cao lớn nhất 25m.
Công suất lắp máy 8MW.
2
Công trình thủy điện Bảo Lâm 3A
TT
Nội dung công việc
Giai đoạn dự án đầu tư
Đơn
vị
Khối lượng
Phê
Thực
duyệt
hiện
Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng năng lượng Việt Nam
Ghi chú
3
Công trình thủy điện Bảo Lâm 3A
1
2
- Tuyến năng lượng và nhà máy
- Chân đập hạ lưu
Phương tiện nổi phục vụ
khoan
- Phương án 2
Thí nghiệm hiện trường
- Múc nước
- Ép nước
- Đổ nước
Thí nghiệm trong phòng
- Thí nghiệm mẫu nước ăn mòn
bê tông
- Thí nghiệm mẫu đất nguyên
dạng
- Thí nghiệm mẫu đất không
nguyên dạng
- Thí nghiệm mẫu đầm nến tiêu
chuẩn
- Thí nghiệm mẫu cơ lý đá
- Thí nghiệm lát mỏng thạch
học
- Đo nối tọa đội điểm khảo sát
Giai đoạn dự án đầu tư
ha
27,57
27,57
30/1
30/1
60/3
40/2
40/2
220/10
50/3
30/1
60/3
40/2
0
180/9
m/hố
m/hố
m/hố
m/hố
30/1
30/1
60/3
40/2
50/3
30/1
60/3
40/2
10
mẫu
mẫu
18
25
21
Điểm
10
9
Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng năng lượng Việt Nam
4
Công trình thủy điện Bảo Lâm 3A
Giai đoạn dự án đầu tư
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
ĐỊA CHẤT
1. Đặc điểm địa lý tự nhiên - kinh tế - nhân văn
Khu vực xây dựng công trình nằm trong địa phận hai xã Lý Bôn và Đức Hạnh,
chợ và điện sinh hoạt.
Nhìn chung, đây là vùng có địa hình hiểm trở, giao thông kém phát triển, cư
dân thưa thớt, kinh tế còn nghèo nàn, lạc hậu,… nên việc xây dựng công trình sẽ
gặp nhiều khó khăn.
2. Lịch sử nghiên cứu địa chất
Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng năng lượng Việt Nam
5
Công trình thủy điện Bảo Lâm 3A
Giai đoạn dự án đầu tư
Có thể phân chia lịch sử nghiên cứu địa chất trong khu vực thành 2 giai đoạn:
giai đoạn trước năm 1954 – giai đoạn nghiên cứu địa chất của người Pháp và giai
đoạn sau năm 1954 – giai đoạn nghiên cứu địa chất của người Việt Nam.
2.1. Giai đoạn trước năm 1954
Trong giai đoạn này các nhà địa chất người Pháp có mặt hầu hết trên mọi
miền đất nước. R.Bourret là người đầu tiên đã tiến hành khảo sát và nghiên
cứu địa chất vùng này. Giai đoạn 1920-1922 ông đã công bố công trình “Khảo
cứu địa chất vùng Đông Bắc Bắc Bộ” kèm theo tờ bản đồ địa chất tỷ lệ
1/300.000 Đông Bắc Bắc Bộ (trong đó có diện tích nhóm tờ Bảo Lạc). Sau đó
ông lại thành lập bản đồ địa chất các tờ Cao Bằng, Bảo Lạc, Thất Khê, Hạ
Lang tỷ lệ 1/100.000. P.Rourret đã phác họa những nét cơ bản về cấu trúc địa
chất vùng nghiên cứu, đó là: Tầng đá vôi Hà Giang dày 1200m; Tầng “Lang
Ca Phù” gồm đá phiến mica, đá vôi Lang Ca Phù, gneis Pia Ma, dày 3300m;
Dải Pia Dạ gồm đá phiến mica, đá vôi dày 2400m. Năm 1931 Ch.Jacob xác
lập tờ bản đồ địa chất Cao Bằng tỷ lệ 1/500.000. Năm 1941 J.Fromaget đã
Công trình thủy điện Bảo Lâm 3A
Giai đoạn dự án đầu tư
Tiếp sau công trình của Tạ Hoàng Tinh, đến năm 1976 Cục Bản đồ địa
chất (nay là Liên đoàn Bản đồ địa chất) đã thành lập Bản đồ địa chất và
khoáng sản tờ Bảo Lạc tỷ lệ 1/200.000 dưới sự chỉ đạo của Tạ Thành Trung và
Hoàng Xuân Tình. Các tác giả đã phân chia chi tiết các thành tạo địa chất theo
thang địa tầng địa phương (điệp) và chia ra 6 phân vị địa tầng, 3 phức hệ
magma xâm nhập.
Hoàn thiện thang địa tầng Việt Nam của tập thể tác giả Tống Duy Thanh,
Đặng Vũ Khúc và nnk (1995).
Đo vẽ địa chất và tìm kiếm khoáng sản tỷ lệ 1/50.000 nhóm tờ Bảo Lạc
của tập thể tác giả Nguyễn Khắc Huyền, Trần Sùng, Vương Mạnh Sơn, Mai
Thế Truyền và nnk (1997).
2.3. Công tác nghiên cứu ĐCCT
- Năm 2006-2007: Khảo sát phục vụ lập dự án đầu tư, khảo sát lập thiết kế
kỹ thuật công trình thủy điện Nho Quế 3.
- Năm 2008: Khảo sát phục vụ lập dự án đầu tư công trình thủy điện Bảo
Lâm (nay điều chỉnh quy hoạch là công trình thủy điện Bảo Lâm 1).
- Năm 2010-2011: Khảo sát phục vụ lập dự án đầu tư, khảo sát lập thiết kế
kỹ thuật công trình thủy điện Sông Nhiệm 3.
- Năm 2011-2012: Khảo sát phục vụ lập dự án đầu tư, khảo sát lập thiết kế
kỹ thuật công trình thủy điện Nho Quế 2.
- Năm 2013-2014: Khảo sát phục vụ lập dự án đầu tư, khảo sát lập thiết kế
kỹ thuật công trình thủy điện Bảo Lâm 3.
Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng năng lượng Việt Nam
từng đoạn dài ngắn khác nhau, làm lộ các đá cứng.
- Địa hình tích tụ: có mặt hầu hết ở các sông suối trong vùng nghiên cứu.
Sản phẩm là các trầm tích aluvi, proluvi có thành phần hạt là cát, sạn, sỏi,
cuội, tảng với độ mài tròn, chọn lọc kém, dày trung bình 2-6m.
2. Địa tầng thạch học, cấu trúc địa chất, động đất và tân kiến tạo
2.1. Địa tầng thạch học
Địa tầng vùng nghiên cứu được mô tả trong kết quả đo vẽ bản đồ địa chất
tỷ lệ 1/200.000 và 1/50.000, kết quả thí nghiệm lát mỏng thạch học phân chia
các thành tạo đá gốc có tuổi chi tiết như sau:
GIỚI PALEOZOI
HỆ DEVON
Loạt Sông Cầu (D1sc)
Diện lộ của loạt Sông Cầu hẹp, phân bố theo hướng Tây Bắc – Đông
Nam, tại khu vực tuyến 1.
Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng năng lượng Việt Nam
8
Công trình thủy điện Bảo Lâm 3A
Giai đoạn dự án đầu tư
Thành phần thạch học của loạt Sông Cầu bao gồm các đá sạn kết mỏng,
bột kết xen kẽ các đá phiến sét, phiến sét vôi. Chiều dày của loạt Sông Cầu lớn
từ620-650m. Tuổi của loạt Sông Cầu được xác định là Devon sớm.
HỆ DEVON
Hệ tầng Mia Lé (D1ml)
Hệ tầng Mia Lé gồm các trầm tích lục nguyên có quan hệ với các trầm tích
Thành phần thạch học của hệ tầng Sông Hiến – Phân hệ tầng dưới gồm 4
tập theo thứ tự từ dưới lên như sau:
- Tập 1: các đá cát kết, bột kết nguồn phun trào và đá phiến sét, dày lớn hơn
100m.
Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng năng lượng Việt Nam
9
Công trình thủy điện Bảo Lâm 3A
-
Giai đoạn dự án đầu tư
Tập 2: gồm các đá phiến sét – sericit màu xám tro, bột kết màu xám chứa
thấu kính đá vôi, cuội vôi, dày khoảng 200m.
Tập 3: cát kết tuf hạt nhỏ màu xám, cát bột kết tuf màu xám tro xen đá
phiến phân lớp mỏng, dày 150m.
Tập 4: đá phiến bị ép phiến có thấu kính cát bột kết, dŕy khoảng 80m.
Bề dày của toàn bộ phân hệ này khoảng 530m.
HỆ ĐỆ TỨ Q
Các thành tạo Đệ Tứ trong vùng nghiên cứu phát triển rất hạn chế, chủ yếu
tập trung ở khu vực mở rộng thung lũng của các con sông, con suối, ở nơi gặp
nhau của hai con sông và ở trên các sườn núi. Thành phần vật chất của chúng
chia làm hai phần rõ rệt:
- Phần dưới là các vật liệu vụn thô như: cát, cuội, sỏi, tảng không gắn kết,
dày 2-5m.
- Phần trên gồm các trầm tích hạt mịn hơn như: sạn, cát, sét màu xám thuộc
khác
1 K3-TH19-18,5
85-90 10-15
2 K8-TH22-15,2
95
5
3 LK2-th18-24,7
2-3
93
3-5
4 LK4-TH20-17,6
95
5
5 TH1-1-TH3
1
96
3
6 TH15
95
5
7 TH16
80
20
8 TH1-TH5-TH13
93
7
9 TH2-12
90
10
10 TH2-14
20 TH2-TH8
95
5
21 TH2-TH9
95
5
Tên đá
Cát bột kết thạch anh
Cát kết thạch anh
Đá phiến sét
Cát bột kết thạch anh
Đá phiến sét
Cát kết TA hạt nhỏ
Mạch thạch anh
Cát kết thạch anh
Cát kết TA hạt nhỏ
Cát bột kết thạch anh
Đá phiến sét
Cát kết thạch anh
Cát kết TA hạt nhỏ
Cát kết TA hạt nhỏ
Đá phiến sét
Cát kết thạch anh
Cát kết TA hạt nhỏ
Cát kết thạch anh
Cát kết TA hạt nhỏ
Cát kết thạch anh
Cát kết thạch anh
Các đứt gãy bậc cao (bậc IV, V,…) là các đứt gãy kéo theo, chiều rộng đới
phá hủy hàng chục mét.
Các phá hủy kiến tạo đóng vai trò quan trọng trong kiến trúc của khu vực
dự kiến xây dựng công trình. Qua tài liệu khảo sát thực tế và thu thập được, ta
mô tả một số đứt gãy chính sau:
2.4.1.
Đứt gãy Tráng Kìm – Sông Năng – Sông Đáy (bậc II)
Đây là đứt gãy có quy mô lớn nhất trong khu vực nghiên cứu. Đây là
đứt gãy sâu kéo dài hàng trăm km từ lãnh thổ Trung Quốc, qua Cao Bằng,
Bắc cạn, sông Năng, Thái Nguyên đến sông Đáy. Đứt gãy này mang tính
khu vực, là ranh giới của đới Sông Gâm ở phía tây và đới Sông Hiến ở
phía đông.
Đoạn từ biên giới Trung Quốc đến Bảo Lạc, Cao Bằng có phương Tây
Bắc – Đông Nam; đoạn từ Bảo Lạc, Cao Bằng đến sông Đáy có phương á
kinh tuyến,đứt gãy hoạt động với chế độ chờm nghịch. Mặt đứt gãy cắm
về phía Tây Nam và phía Tây với góc dốc 700 (theo tài liệu đo vẽ
1/50.000). Các tài liệu nghiên cứu cho thấy hoạt động động đất yếu.
Vùng tuyến công trình nằm cách đứt gãy Tráng Kìm – Sông Năng –
Sông Đáy khoảng 10km về phía Đông Bắc của đứt gãy.
2.4.2.
Đứt gãy sông Nho Quế (bậc III)
Là đứt gãy phân nhánh của đứt gãy Tráng Kìm – Sông Năng – Sông
Đáy (đoạn qua Bảo Lâm, Cao Bằng) theo phương Tây Bắc – Đông Nam,
qua huyện Bảo Lâm và huyên Mèo Vạc. Đứt gãy trong phạm vi nghiên
cứu dài khoảng 40km từ thị trấn Yên Minh đến phía Bắc Lý Bôn, đây là
đứt gãy thuận với góc dốc 60÷75 0, dốc về phía Tây chỉ cách phương án 2
nghiên cứu 145m, cách phương án 1 là 350m. Đây là đứt gãy đóng vai trò
ranh giới của các thành tạo Paleozoi giữa và và các thành tạo Mesozoi.
Vùng tuyến công trình nằm cách đứt gãy sông Nho Quế về phía Đông
Bắc khoảng 3km.
2.4.5.
Nứt nẻ kiến tạo
Việc xác định các đứt gãy tại công trình thủy điện Bảo Lâm 3A chủ
yếu dựa vào tài liệu đo vẽ bản đồ địa chất tỷ lệ 1/2.000 vùng tuyến và tài
liệu khoan thăm dò.
Tại công trình thủy điện Bảo Lâm 3A, sử dụng “TCVN 4253-86: Nền
các công trình thủy công – Tiêu chuẩn thiết kế” để phân chia các đứt gãy,
khe nứt.
Bảng 1: Phân cấp đứt gãy, khe nứt kiến tạo khu vực công trình
Đặc trưng phá hoại
tính liền khối của khối
đá
Đứt gãy bậc I – sâu,
nguồn gốc địa chấn
Đứt gãy bậc II – sâu,
không phải nguồn gốc
địa chấn
Đứt gãy bậc III
Đứt gãy bậc IV
Độ dài phá hủy
Độ dày của vùng đứt
gãy, vỡ vụn và bề rộng
khe nứt
Hàng trăm và hàng nghìn Hàng trăm và hàng
km
nghìn mét
Hàng chục, hàng trăm km Mét và hàng chục mét
Công trình thủy điện Bảo Lâm 3A
Giai đoạn dự án đầu tư
-
Đứt gãy phương Đông Bắc – Tây Nam gồm có các đứt gãy IV-2, với góc
dốc ≈ 700.
- Đứt gãy phương á kinh tuyến có đứt gãy IV-5 với góc dốc 850,
- Đứt gãy á vĩ tuyến có đứt gãy IV-1 với góc dốc ≈ 700.
3. Các hiện tượng địa chất vật lý
3.1. Hiện tượng sạt trượt
Thung lũng sông Nho Quế trong phạm vi xây dựng công trình và vùng hồ
có sườn dốc 30-450, phía trên đều có lớp phủ sườn tàn tích và có thảm thực vật
phủ tương đối dày. Vì vậy, tại một số ít những sườn dốc 40-45 0 tạo ra sườn
trọng lực là đất và có tác động của nước mặt dễ gây ra sạt trượt tầng phủ nên
vào mùa mưa sạt trượt với quy mô nhỏ xảy ra với vài chục mét khối
Vùng phương án 1 và 2 đều có sườn dốc 30-45 0, nhưng có thảm thực vật
phủ tương đối dày nên hiện tượng sạt trượt cũng ít gặp. Vào mùa mưa sạt trượt
với quy mô nhỏ xảy ra với vài chục mét khối (Phương án 2 bắt gặp ở thượng
lưu vai phải; phương án 1 gặp ở thương lưu vai trái).
Quá trình đo vẽ bản đồ địa chất công trình tỷ lệ 1/2.000 phát hiện một số
vách trượt trong đất sườn tàn tích và đới phong hóa mãnh liệt trong hệ tầng
Mia Lé, hệ tầng Sông Hiến. Những khối sạt trượt này đều có quy mô nhỏ với
chiều dài 5-20m, cắt sâu vào lớp đất 1-2m và thường xuất hiện vào mùa mưa,
mùa khô không thấy xuất hiện sạt trượt. Hiện tượng đá đổ trong khu vực
nghiên cứu không gặp, chỉ gặp một vài vị trí có vách đá trọng lực. Trên vách
đá vôi của hệ tầng Bắc Sơn và các vách của thấu kính đá vôi hệ tầng Mia Lé
chỉ ở dạng chỏm sót nên không có khả năng gây ra trượt.
trình phong hóa vật lý, phong hóa hóa học xẩy ra khá mạnh và không đồng
đều.
Hiện tượng địa chất vật lý được đáng chú ý nhất hiện nay là hiện tượng
phong hóa. Vùng các phương án tuyến công trình có địa hình phân cắt mạnh,
cộng thêm sự phát triển của các đới đứt gãy, đới nứt nẻ và khu vực có khí hậu
nhiệt đới gió mùa nên đã thúc đẩy quá trình phong hóa vật lý, phong hóa hóa
học xẩy ra khá mạnh và không đồng đều.
Dựa vào thành phần thạch học, mức độ biến đổi thành phần khoáng vật,
phân chia các đới phong hóa theo mặt cắt đầy đủ từ trên xuống như sau:
- Đới sườn tàn tích edQ: Đất lẫn dăm sạn, cục, vật liệu phía trên có nguồn
gốc di chuyển xuống, phía dưới không di chuyển, phân bố trên các bề mặt
sườn dốc.
- Đới bồi tích, lũ tích apQ: Cát lẫn sét, dăm sạn, cuội sỏi, tảng lăn. Phân bố ở
các dọc các lòng sông.
- Đới đá phong hóa mãnh liệt IA 1: Toàn bộ đá bị phân rã ở dạng mềm bở
(thành đất), còn giữ được một phần cấu tạo của đá nguyên thủy, tỷ lệ dăm
cục nhỏ.
- Đới đá phong hóa mạnh IA2: Phong hóa phát triển mạnh trên toàn bộ khối
đá, đá bị biến màu hoàn toàn so với đá tươi, phong hóa thành đất lẫn dăm
sạn (đất chiếm
của hệ tầng Bắc Sơn (C-Pbs).
Lòng sông hẹp, nhiều chỗ lộ đá cứng chắc, ít thác ghềnh, sườn của thung lũng
sông Nho Quế hầu hết được phủ bởi lớp đất sườn tàn tích, cây cối kém phát triển,
chủ yếu là cỏ bụi và một số ít hoa màu của đồng bào. Do sườn đồi hai bên bờ sông
dốc nên gần như không có dân cư sinh sống.
2. Đánh giá khả năng giữ nước của hồ chứa
2.1. Khả năng mất nước tạm thời
Mất nước tạm thời là khi tích nước cho hồ chứa, lượng nước thấm vào
trong đất đá dưới lòng hồ làm bão hòa đất đá nằm bên trên mực nước ngầm
hiện tại và phần nước mao dẫn phía bên trên mực nước hồ. Sau khi phần đất
đá dưới lòng hồ đã bão hòa thì lượng tổn thất nước cũng kết thúc. Như vậy,
hiện tượng thấm mất nước tạm thời chỉ xẩy ra trong thời gian đầu khi tích
nước cho hồ chứa và kết thúc khi đất đá dưới lòng hồ đã bão hòa. Lượng nước
tổn thất này không đáng kể vì đất đá trong lòng hồ đa số là những lớp đất đá
thấm nước và có khả năng tàng trữ nước.
Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng năng lượng Việt Nam
16
Công trình thủy điện Bảo Lâm 3A
Giai đoạn dự án đầu tư
2.2. Khả năng mất nước vĩnh viễn
Với cao trình mực nước dâng bình thường là 216m thì hồ có chiều rộng từ
150÷250m, đôi chỗ đến 350m. Hiện tượng thấm mất nước vĩnh viễn của hồ
chứa có thể liên quannhững yếu tố sau:
- Thấm mất nước qua phân thủy bờ hồ sang lưu vực khác: Bao bọc quanh hồ
là các dãy núi cao trên 650m. Tại các phân thuỷ phân bố đá trầm tích lục
hang hốc karst là rất lớn. Do khối đá vôi này phân bố ở khu vực thượng lưu
hồ chứa, với cao trình đáy sông khoảng 200-210m và được bao bọc bởi các
trầm tích lục nguyên ở các đỉnh phân thủy nên có thể nhận định không có
hiện tượng thấm mất nước do karst trong hệ tầng Bắc Sơn sang lưu vực
sông khác.
Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng năng lượng Việt Nam
17
Công trình thủy điện Bảo Lâm 3A
Giai đoạn dự án đầu tư
-
Thấm mất nước qua đáy và vai đập: Hai vai của vùng tuyến đập 1 đều có
lớp phủ sườn tàn tích và đới phong hóa mãnh liệt có chiều dày khá lớn từ
6-11m. Đới phong hóa IB dày trung bình 2-6m, đặc biệt tại vai chiều dày
đới phong hóa IB lên tới 18,6m. Mực nước ngầm ở hai vai đập nằm thấp
(thường trong đới IIA) và thấp hơn mực nước dâng bình thường nên khả
năng thấm vòng qua vai đập trong đới IB là có khả năng xẩy ra. Dưới nền
đập trong đới đá nứt nẻ IIA, có giá trị ép nước thí nghiệm giao động từ 1,512Lu, giảm dần theo chiều sâu. Do đó có khả năng thấm nước dưới đáy
đập trong phần trên của đới IIA nhưng không lớn và có thể xử lý tạo màng
chống thấm trong đới nứt nẻ IIA.
- Thấm mất nước qua đứt gãy: Với phương án vùng tuyến đập 1, có một số
đứt gãy phát triển từ thượng lưu xuống hạ lưu. Đáng kể nhất ở đây là đứt
gãy IV-1 có phương á kinh tuyến trùng với sông Nho Quế chạy qua đập
dâng; đứt gãy IV-3, V-2 cắt qua vai phải đập. Các đứt gãy bậc IV này có
đới dập vỡ khoảng vài mét. Các đứt gãy này có liên quan nhất định đến
Công trình thủy điện Bảo Lâm 3A
Giai đoạn dự án đầu tư
Với mực nước dâng bình thường 216m, thì phạm vi ngập và bán ngập chỉ
chiếm một phần không lớn ruộng lúa nước ở các cửa suối nhỏ và nương đang
được người dân địa phương canh tác hai bên bờ sông Nho Quế. Trong khu vực hồ
chứa không có các di tích văn hóa, không có quy hoạch mỏ tài nguyên khoáng sản
quý hiếm, chỉ có 1 mỏ antimon đang được khai thác tự phát nằm ở cao trình trên
350m. Để xác định chi tiết số ruộng lúa và nương bị ngập cần có báo cáo điều tra,
đánh giá chi tiết riêng.
Khi tích nước, mực nước hồ dâng cao sẽ gây lầy hóa cục bộ, bão hòa nước làm
tăng khả năng sạt trượt phần tầng phủ, ảnh hưởng đến quá trình bồi lắng và dung
tích hồ chứa.
5. Khoáng sản lòng hồ
Cao Bằng, Hà Giang là tỉnh có nhiều loại khoáng sản: kim loại đen có sắt và
mangan phân bố chủ yếu ở Trùng Khánh, Trà Lĩnh, Hoà An, Nguyên Bình; kim
loại mầu có nhôm(bauxit) phân bố ở Thông Nông, Hà Quảng, Nguyên Bình; thiếc
và vonfram phân bố ở Tĩnh Túc; kim loại quý hiếm có vàng gốc phân bố ở Nam
Quang (Bảo Lạc);antimon ở Bảo Lâm, Bảo Lạc; ngoài ra còn có nhiều loại khoáng
sản phi kim, vật liệu xây dựng địa phương.
Trong khu vực xây dựng công trình có một vài điểm khai thác antimon tự phát
của người dân ở phía lòng hồ nằm ở cao trình trên 350m.
6. Kết luận về điều kiện địa chất công trình của hồ chứa
Điều kiện ĐCCT của hồ thủy điện Bảo Lâm 3 có những thuận lợi nhất định
cho công tác triển khai xây dựng và vận hành công trình sau này: lòng hồ hẹp, sự
hình thành sóng do gió yếu (gần như không có), không gây nguy hại đến ổn định
bờ hồ; chỉ xẩy ra hiện tượng sạt trượt với các khối sạt trượt nhỏ và chỉ xẩy ra vào
mùa mưa; phạm vi ngập và bán ngập chỉ chiếm một phần không lớn ruộng lúa
đoạn tuyến chỉ gặp các bãi bồi có quy mô nhỏ ven sông (tại vị trí cửa suối nhỏ).
2. Đặc điểm địa chất thủy văn
Dựa vào đặc tính thấm nước và khả năng tàng trữ nước ngầm vùng tuyến công
trình thủy điện Bảo Lâm 3 được chia ra làm 2 tầng chứa nước:
- Tầng chứa nước trong trầm đọng aluvi, proluvi.
- Tầng chứa nước trong trầm tích lục nguyên hệ tầng Mia Lé.
2.1. Tầng chứa nước trong các thành tạo aluvi, proluvi (apQ)
- Thành tạo aluvi (aQ): phân bố dọc theo thung lũng sông Nho Quế, luôn bị
ngậm dưới mực nước sông từ 2-5m về mùa cạn, thành phần gồm cát, cuội,
sỏi, tảng. Hàm lượng cuội tảng chiếm hơn 80%, bề dày trung bình 2-6m.
Các thành tạo aluvi có độ lỗ rỗng lớn, nước ngầm vận động trong các lỗ
rỗng, khe hở của cuội, sỏi, tảng. Nguồn cung cấp chính là nước mưa, nước
sông, vận động theo nước sông. Tính thấm lớn, thành phần hóa học như
nước sông.
- Thành tạo proluvi (pQ): phân bố ít ở lòng sông tại các vị trí cửa suối, bề
dày 1-2m. Thành phần không đồng nhất gồm tảng, cuội, sỏi, dăm sạn, cát,
sét và thực vật. Các thành tạo proluvi có độ lỗ rỗng lớn, nước ngầm vận
động trong các lỗ rỗng, khe hở của cuội, sỏi, tảng. Nguồn cung cấp chính
là nước mưa, nước nước mặt, nước sông, vận động theo nước ngầm, nước
sông, tính thấm lớn, thành phần hóa học như nước sông.
2.2. Tầng chứa nước trong các thành tạo trầm tích lục nguyên hệ tầng Mia Lé
(D1ml)
Toàn bộ vùng tuyến nằm trong diện phân bố của đá trầm tích lục nguyên
hệ tâng Mia Lé. Nước ngầm ngầm chứa và vận động trong các khe nứt của đới
phong hóa, trong các hang hốc karst, cách mặt đất từ 14-30m ở đỉnh và sườn
trên cao và hạ thấp dần về phía bờ sông. Do đặc điểm thạch học của hệ tầng
Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng năng lượng Việt Nam
20
lượng q
11.2
12.6
11.9
0.12
12
IIA
0.026
0.127
0.075
2.6
12.7
7.5
0.075
7.5
Bờ phải
4.3
IB
0.061
0.083
0.075
6.1
8.3
7.5
0.075
7.5
IIA
0.014
0.081
0.030
1.4
sườn tàn tích edQ. Quá trình đo vẽ bản đồ địa chất chưa phát hiện được những
hang động karst nào lộ trên bề mặt tự nhiên. Trong quá trình khoan khảo sát,
tại hố khoan BL3-05 (vai phải tuyến 1A) bắt gặp hiện tượng hang karst ở độ
sâu 15,3-15,7m; 16,0-16,8m; 17,0-21,1m; 21,3-21,8m và 22,2-22,7m được lấp
đầy đất sét, á sét. Tại các chỏm đá vôi, vôi sét lộ ra trên mặt quan sát được có
hiện tượng hòa tan, rửa lũa do nước mưa tạo thành những mỏm đá sắc nhọn.
Kết quả đo vẽ ngoài thực địa kết hợp thí nghiệm phân tích thành phần thạch
học trong phòng với các đá vôi, vôi sét tồn tại ở dạng thấu kính và xen kẹp
mỏng không đồng nhất nên có thể suy xét mức độ karst trong hệ tầng Mia Lé
không mạnh, khó có thể phát triển thành các hang động lớn, liên tục.
3.3. Hiện tượng phong hóa
Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng năng lượng Việt Nam
22
Công trình thủy điện Bảo Lâm 3A
Giai đoạn dự án đầu tư
Hiện tượng địa chất vật lý được đáng chú ý nhất hiện nay là hiện tượng
phong hóa. Vùng các phương án tuyến công trình có địa hình phân cắt mạnh,
cộng thêm sự phát triển của các đới đứt gãy, đới nứt nẻ và khu vực có khí hậu
nhiệt đới gió mùa nên đã thúc đẩy quá trình phong hóa vật lý, phong hóa hóa
học xẩy ra khá mạnh và không đồng đều.
Dựa vào thành phần thạch học, mức độ biến đổi thành phần khoáng vật,
phân chia các đới phong hóa theo mặt cắt đầy đủ như sau:
- Đới đá tươi IIB: Đá tươi, thân đá không bị biến màu, không quan sát được
sự biến đổi trên bề mặt khe nứt. Đá cứng chắc.
- Đới đá nứt nẻ IIA: Đá tương đối tươi, bề mặt khe nứt có thể bị biến màu
g/cm3
δc
KG/cm2
%
2.24
18.63
285.2
222.1
33,7
26.6
12.6 - 12.9
2.62
1.91
2.06
27.26
2.25
15.77
383.0
356.6
19.0 - 19.35
2.71
2.69
2.69
0.74
964.9
868.3
46.1
99,3
27.0 - 27.4
2.69
2.68
17.7 - 18.0
2.71
2.69
2.70
0.74
975.1
850.6
103,2
91.4
2.70
2.69
2.69
0.51
987.7
893.6
K-2-R1
Kháng kéo
Bão hoà
n
Kháng nén
Khô gió
γk
Cường độ
Bão hoà
γbh
Cường độ
Khô gió
Độ rỗng
thể tích
Bão hoà
ρ
Phương pháp thí nghiệm trong phòng theo tiêu chuẩn Nga và Mỹ
Thí nghiệm được tiến hành trên các mẫu lấy từ nõn khoan có đường kính
từ 47 đến 78 mm. Thí nghiệm độ bền nén chủ yếu được tiến hành trên các
mẫu có tỷ lệ chiều cao so với đường kính H/D≈2.0. Khi tỷ lệ chiều cao so
với đường kính nhỏ hơn, cường độ kháng nén mẫu Rn được xác định theo
công thức:
Trong đó:
R’n: Cường độ kháng nén mẫu phi tiêu chuẩn(H
60
Đất
cấp 3
(%)
70
40
40
Đất
cấp 4
(%)
20
60
40
40
Đá
cấp 3
(%)
80
20
70
20
60
Ghi chú: Đây là bảng phân cấp cho toàn bộ khu vực công trình của các
thành tạo đất đá tương tự nhau. Trong giai đoạn sau cần phải tiến hành lấy bổ
sung mẫu đất, mẫu đá để tăng cường độ chính xác của bảng phân cấp đất đá trên
4.3. Đặc trưng của khối đá và kiến nghị chỉ tiêu tính toán của khối đá
Việc kiến nghị các chỉ tiêu tính toán khối đá dựa trên các cơ sở sau:
4.3.1. Xác định các đặc trưng cơ học khối đá theo tiêu chuẩn Việt Nam
- Chỉ tiêu cơ học của khối đá lấy theo Tiêu chẩn TCVN 4253-86 dựa trên
các thông số đầu vào là độ bền nén mẫu đá (d bh), mức độ liền khối, độ nứt
nẻ, phong hoá của đất đá. Các thông số được xác định bằng cách tra bảng
(Bảng 3 trong TCVN 4253-86) bao gồm các chỉ tiêu kháng cắt: góc ma sát
tg(ϕ)/hoặc(ϕ ), lực dính (c) của khối đá và của khe nứt lấp nhét sét, cát.
- Hệ số Poison được lấy theo kinh nghiệm có tham khảo các giá trị của các
công trình khác có điều kiện địa chất tương tự…
- Cường độ kháng nén của khối đá được xác định dựa theo XNiP II-94-80
theo công thức Rc=R.Kc, trong đó:
+ R:
Giá trị trung bình cường độ kháng nén 1 trục của mẫu đá
Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng năng lượng Việt Nam
25