Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1.
Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế đất nước trong những năm gần đây đang có sự khởi sắc do tiến
trình hội nhập, phát triển nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại
hóa. Xây dựng các khu công nhiệp (KCN) đang là mục tiêu hướng tới của nhiều
tỉnh thành trong cả nước. Mỗi KCN ra đời sẽ là đầu mối quan trọng trong việc
thu hút nguồn đầu tư trong nước và nước ngoài, tạo động lực lớn cho quá trình
tiếp thu công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phân công lao động phù hợp với
xu thế hội nhập kinh tế thế giới. Ngoài ra, phát triển KCN cũng thúc đẩy sự
hình thành và phát triển các khu đô thị mới, phát triển các ngành công nghiệp
phụ trợ và dịch vụ.
Tuy nhiên phát triển sản xuất tập trung tại KCN thường đi liền với vấn đề ô
nhiễm môi trường. Nếu không có sự điều chỉnh kịp thời, nguy cơ ô nhiễm môi
trường sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu phát triển bền vững và sức khỏe của
người dân trong tương lai không xa.
Nỗi lực quản lý môi trường của Nhà nước và Chính phủ là rất lớn. Với nhiều
công cụ quản lý khác nhau được đề xuất và sử dụng nhưng chất lượng môi
trường nhiều nơi vẫn chưa được cải thiện. Vì vậy việc đánh giá thực trạng
QLMT hiện nay là rất cần thiết, giúp các nhà thiết kế hoạch định chính sách có
những biện pháp đầy đủ, phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác QLMT
tại địa phương.
Bắc Giang là một tỉnh miền núi có nhiều khó khăn trong vấn đề phát triển
kinh tế. Thời gian gần đây, quá trình hội nhập sâu rộng đã từng bước đưa nền
kinh tế Bắc Giang phát triển. Trong đó các KCN đã và đang được thành lập tại
nhiều khu vực trên địa bàn tỉnh đóng góp phần to lớn cải thiện cuộc sống của
1
trường khu công nghiệp.
Đưa ra một số giải pháp phù hợp với điều kiện khu vực, giảm thiểu tác động
tới môi trường.
Phần 2
2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Khái niệm về môi trường
Môi trường gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật
thiết với nhau, bao quanh con người, ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại
và phát triển của con người và thiên nhiên. (Điều 1 Luật BVMT - 2003) [6].
2.2. Một số vấn đề chung về QLMT
2.2.1. Định nghĩa về QLMT
Hiện nay chưa có một định nghĩa thống nhất về QLMT
Phân tích một số định nghĩa, có thể thấy QLMT là tổng hợp các biện pháp
thích hợp và điều chỉnh các hoạt động của con người, với mục đích chính là giữ hài
hòa quan hệ giữa môi trường và phát triển, giữa nhu cầu của con người và chất
lượng môi trường, giữa hiện tại và khả năng phát triển của trái đất.
Theo tác giả Nguyễn Thanh Lâm (2006): “Quản lý môi trường là sự tác
động liên tục, có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý môi trường lên cá
nhân hoặc cộng đồng người tiến hành các hoạt động phát triển trong hệ thống
môi trường và các khách thể quản lý môi trường, sử dụng một cách tốt nhất
mọi tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêu quản lý môi trường đã đề ra,
phù hợp với pháp luật và thông lệ hiện hành”.
Theo một số tác giả, thuật ngữ về quản lý môi trường gồm hai nội dung
chính: Quản lý Nhà nước về môi trường và quản lý của các doanh nghiệp, khu
vực dân cư về môi trường.
+ Công cụ điều chỉnh vĩ mô là luật pháp và chính sách.
+ Công cụ hành động là các công cụ có tác động trực tiếp tới hoạt động
kinh tế - xã hội, như các quy định hành chính, quy định xử phạt… Công cụ
hành động là vũ khí quan trọng nhất của các tổ chức môi trường trong công tác
bảo vệ môi trường.
+ Công cụ hỗ trợ kỹ thuật như GIS, mô hình hoá, đánh giá môi trường,
kiểm toán môi trường, quan trắc môi trường.
4
Phân loại theo bản chất thành các loại cơ bản sau:
+ Công cụ luật pháp chính sách bao gồm các văn bản về luật quốc tế, luật
quốc gia, các văn bản khác dưới luật, các kế hoạch và chính sách môi trường
quốc gia, các ngành kinh tế, các địa phương.
+ Các công cụ kinh tế gồm các loại thuế, phí đánh vào thu nhập bằng tiền
của hoạt động sản xuất kinh doanh. Các công cụ này chỉ áp dụng có hiệu quả
trong nền kinh tế thị trường.
+ Các công cụ kỹ thuật quản lý thực hiện vai trò kiểm soát và giám sát
nhà nước về chất lượng và thành phần môi trường, về sự hình thành và phân bố
chất ô nhiễm trong môi trường như: Đánh giá môi trường, kiểm toán môi
trường, quan trắc (monitoring) môi trường, xử lý chất thải, tái chế và tái sử
dụng chất thải. Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể được thực hiện thành công
trong bất kỳ nền kinh tế phát triển như thế nào [11].
2.3. Các vấn đề về môi trường KCN
2.3.1. Các khái niệm liên quan tới môi trường KCN
Khu công nghiệp là khu vực dành cho phát triển công nghiệp theo một
quy hoạch cụ thể nào đó nhằm đảm bảo được sự hài hòa và cân bằng tương đối
giữa các mục tiêu kinh tế - xã hội - môi trường. Khu công nghiệp thường
được Chính phủ cấp phép đầu tư với hệ thống hạ tầng kỹ thuật và pháp lý riêng.
ngoài. Việc hình thành các KCN đã tạo động lực lớn cho phát triển công
nghiệp, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ở các địa phương, tạo công ăn việc làm
cho người lao động. KCN còn thúc đẩy hình thành khu đô thị mới, các ngành
công nghiệp phụ trợ và dịch vụ [3].
Từ ngày 24/9/1991, Thủ tướng chính phủ cấp giấy phép thành lập KCNKCX đầu tiên với quy mô 360 ha tại thành phố Hồ Chí Minh. Đến hết tháng
2/2012 hệ thống các KCN, KCX đã được hình thành trên hầu hết các tỉnh, thành
phố. Cả nước có 267 KCN, KCX đã được thành lập với tổng diện tích đất tự
nhiên hơn 72.000 ha, diện tích có thể cho thuê đạt gần 46.000 ha, chiếm khoảng
65% tổng diện tích đất tự nhiên. Các KCN được quy hoạch và phân bố trên cơ
6
sở phát huy tối đa lợi thế địa lý kinh tế, tiềm năng của các địa phương, vùng
kinh tế, trong đó tập trung chủ yếu ở 3 vùng kinh tế trọng điểm. Gồm: Vùng
kinh tế trọng điểm phía Nam với 124 KCN, chiếm gần 48%; Vùng kinh tế trọng
điểm phía Bắc có 52 KCN, chiếm 20%; Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung có
23 KCN, chiếm 10%.
Theo kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) và quy hoạch sử dụng đất
đến năm 2020, tổng diện tích đất KCN đến năm 2015 dự kiến là 130.000 ha và
đến năm 2020 dự kiến là 200.000 ha [3].
Năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý bổ sung thêm 21 KCN vào
Quy hoạch phát triển các KCN đến năm 2020, với tổng diện tích tăng thêm là
3.696 ha, trong đó có 9 CCN được chuyển đổi sang mô hình KCN. Dự kiến đến
năm 2020, sẽ có thêm 250 KCN được thành lập mới với tổng diện tích 66.482
ha [10].
Tình hình phát triển KCN trên cả nước trong vài năm gần đây có nhiều
thành tựu đáng kể:
Trải qua 20 năm (1991-2011) xây dựng và phát triển, các khu công
nghiệp, khu chế xuất ở nước ta đã đạt được những thành quả quan trọng, đóng
Tổng số lao
động/ha đất CN
đã cho thuê
Dự án
Dự án
FDI
DDI (tỷ
đồng)
22,72
59,65
Trung du miền
0,13
(tr.USD)
0,83
núi phía Bắc
Đồng bằng sông
0,17
3,29
13,82
20,28
35,48
87,28
48,88
Cửu Long
Bình quân cả nước
0,12
2,55
15,97
76,76
Nguồn: Vụ Quản lý các Khu kinh tế, Báo cáo tình hình xây dựng và phát triển
KCN, KKT 9 tháng đầu năm 2011
Nhìn chung hệ thống kết cấu hạ tầng các KCN ngày càng được hoàn
thiện, góp phần vào đổi mới hạ tầng công nghiệp và đô thị của địa phương. Các
KCN đã thu hút được nhiều nhà đầu tư tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ
tầng. Đến nay, tổng vốn đầu tư kết cấu hạ tầng của 267 KCN vào khoảng 9 tỷ
USD, trong đó có 31 KCN do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài làm chủ
đầu tư với tổng vốn đăng ký khoảng 2 tỷ USD. Các KCN còn lại do doanh
nghiệp trong nước làm chủ đầu tư với tổng vốn đầu tư 7 tỷ USD. Trong số 267
KCN đã thành lập, có 180 KCN đã đi vào hoạt động với tổng vốn đầu tư kết
cấu hạ tầng đăng ký là 5 tỷ USD; còn lại 87 KCN đang trong giai đoạn đền bù
giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản. Một số KCN đã xây dựng mô hình
8
hiện đại gắn với phát triển khu đô thị, khu dịch vụ, giáo dục... như KCN Tân
bình quân 1ha đất công nghiệp đã cho thuê thu hút trên 70 lao động trực tiếp
(trong khi 1ha đất nông nghiệp chỉ thu hút được 0-20 lao động). Thống kê cho
thấy phần lớn lao động làm việc trrong các KCN là lao động trẻ, có khả năng
nhanh chóng tiếp thu kỹ thuật, công nghệ mới, hiện đại, phương thức tổ chức và
quản lý sản xuất tiên tiến. Hình thành được đội ngũ công nhân có tác phong
công nghiệp và ý thức kỷ luật lao động cao cũng như kỹ năng làm việc và trình
độ quản lý. Như vậy KCN thực sự đã có những đóng góp không nhỏ cho phát
triển kinh tế - xã hội [3].
Các KCN đã quan tâm nhiều hơn tới công tác bảo vệ môi trường, trong
tổng số KCN đã vận hành có 105 KCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung,
chiếm 60% tổng số KCN đã vận hành và hơn 30 KCN đang xây dựng công
trình xử lý nước thải tập trung. So với những năm đầu của kế hoạch 5 năm
2006-2010, tỷ lệ các KCN có công trình xử lý nước thải tập trung đi vào vận
hành đã tăng lên đáng kể - khoảng 25% so với năm 2006. Một số vùng, các
KCN có nhà máy xử lý nước thải cũng như các doanh nghiệp đấu nối vào nhà
máy xử lý nước thải tập trung đạt tỷ lệ cao như vùng Đồng bằng sông Hồng và
Đông Nam Bộ [8].
Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, trong thời gian qua, hoạt
động của các KCN, KKT còn bộc lộ một số mặt hạn chế, khó khăn cụ thể là:
Chất lượng công tác quy hoạch KCN còn chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát
triển, quy hoạch KCN còn chưa thực sự thống nhất với quy hoạch kinh tế - xã
hội, quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp, sử dụng đất, đô thị, kết cấu hạ
tầng và chưa tính toán toàn diện khả năng, điều kiện, tiềm năng, lợi thế riêng có
của địa phương và của vùng. Việc triển khai quy hoạch KCN đã được phê duyệt
của các địa phương còn hạn chế. Việc bổ sung quy hoạch, thành lập KCN của
một số địa phương đôi khi còn nóng vội, chưa hội tụ đủ các điều kiện quy
hoạch và còn mang tính cục bộ, địa phương.
10
11
Định hướng phát triển KCN đến năm 2020
Ngày 21/8/2006, Thủ tướng chính phủ đã ký Quyết định số
1107/2006/QD - TTg phê duyệt quy hoạch phát triển các KCN Việt Nam đến
năm 2015 và định hướng đến năm 2020. Quy hoạch đã xác định sẽ hình thành
hệ thống các KCN chủ đạo có vai trò dẫn dắt sự phát triển công nghiệp quốc
gia, đồng thời hình thành các KCN có quy mô hợp lý để tạo điều kiện phát triển
công nghiệp, nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại các địa phương có tỷ trọng
công nghiệp trong GDP thấp.
Đầu tư đồng bộ để hoàn thiện các KCN hiện có, thành lập mới một cách
có chọn lọc các KCN với tổng diện tích tăng thêm khoảng 20.000 – 25.000 ha;
nâng tổng diện tích các KCN đến năm 2015 khoảng 65.000 – 70.000 ha. Phấn
đấu đạt tỷ lệ lấp đầy các KCN khoảng 60%.
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư vào các
KCN, phấn đấu thu hút thêm khoảng 65.000 – 68.000 dự án với tổng vốn đầu
tư đăng ký khoảng trên 36 – 39 tỷ USD, trong đó vốn đầu tư thực hiện
khoảng 50%.
Xây dựng các công trình xử lý nước thải tập trung quy mô lớn ở những
khu vực tập trung các KCN tại các vùng kinh tế trọng điểm.
Quản lý tốt và có quy hoạch sử dụng hợp lý diện tích đất dự trữ cho xây
dựng KCN.
Quản lý, chuyển đổi cơ cấu đầu tư phát triển các KCN đã được thành lập
theo hướng đồng bộ hóa [3].
2.3.2.2. Ảnh hưởng của khu công nghiệp tới môi trường
Các nhà máy trong khu công nghiệp là một trong những đối tượng gây ô
nhiễm môi trường chủ yếu. Ô nhiễm môi trường bao gồm 3 loại chính là: ô
nhiễm đất, ô nhiễm nước và ô nhiễm không khí. Trong ba loại ô nhiễm đó thì ô
nhiễm không khí và ô nhiễm nước là nghiêm trọng nhất, mức độ ô nhiễm vượt
Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu) không kiểm soát được, đã gây ô nhiễm nặng
môi trường.
Trong khu vực trên các loài tôm, cá, thủy sản hầu như không thể tồn tại
và phát triển. Hệ sinh thái của khu vực này chỉ còn tồn tại một số ít loài động
thực vật phù du. Các loài tảo phát triển chủ yếu là những loài thích nghi với môi
13
trường dinh dưỡng cao và chính sự phát triển của chúng cũng làm tăng nguy cơ
gây độc cho môi trường nước.
Theo ước tính ban đầu, tổng diện tích đất nông nghiệp bị thiệt hại là
2.438,5 ha; Phần lớn là ao nuôi thủy sản, 29,5 ha là đất sản xuất nông nghiệp.
Ảnh hưởng bởi nước thải và khí thải nhà máy, hoa màu của các hộ dân khu vực
xung quanh cho năng suất, chất lượng rất kém (lúa bị lép hạt, hoa cảnh, cây trái
bị xém)…Trước khi Vedan chưa thành lập thì nông dân nuôi trồng thủy sản đạt
hiệu quả cao, các hộ nuôi quảng canh mỗi ha thu được khoảng 50 triệu đồng,
nay chỉ thu hoạch gần 20 triệu đồng. Thiệt hại với nông nghiệp và thủy sản là
rất lớn.
Bên cạnh đó, không khí ở các KCN, nhất là các KCN cũ, đang bị ô
nhiễm, do các nhà máy trong KCN sử dụng công nghệ sản xuất lạc hậu hoặc
chưa đầu tư hệ thống xử lý khí thải trước khi thải ra môi trường. Ô nhiễm môi
trường khí quyển tạo nên sự ngột ngạt và "sương mù", gây nhiều bệnh cho con
người. Nó còn tạo ra các cơn mưa axít làm huỷ diệt các khu rừng và các cánh
đồng. Cùng với khí thải giao thông thì ngành công nghiệp đóng góp lượng lớn
các lại khí thải gây hiệu ứng nhà kính và thủng tầng ozone và hiện tượng khói
quang hóa. Không khí ô nhiễm có thể giết chết nhiều cơ thể sống trong đó có
con người. Ô nhiễm ozone có thể gây bệnh đường hô hấp, bệnh tim mạch, viêm
họng, đau ngực, tức thở. Ô nhiễm không khí gây ảnh hưởng tai hại cho tất cả
sinh vật, thực vật rất nhạy cảm đối với ô nhiễm không khí.
bệnh. Tổng số người mắc bệnh nghề nghiệp đã qua giám định tính đến cuối
năm 2010 là 26.928 trường hợp, một số bệnh nghề nghiệp có tỷ lệ cao là: Bụi
phổi – silic chiếm 75,1%, bệnh điếc do tiếng ồn 15,6%. Đáng chú ý là do số cơ
15
sở khám sức khoẻ ít và khả năng khám bệnh nghề nghiệp của Việt Nam cũng
rất hạn chế nên trên thực tế số người mắc bệnh nghề nghiệp có thể cao gấp
hàng chục lần số báo cáo. Qua khám sức khoẻ định kỳ hàng năm cho thấy, tỷ lệ
người lao động có sức khoẻ yếu (loại 4) và rất yếu (loại 5) đứng ở mức cao,
năm 2010 là 8,8%; Tỷ lệ nghỉ ốm trong công nhân ở mức cao, năm 2010 là
24,7% tổng số người lao động của các doanh nghiệp có báo cáo [2].
Biểu đồ 2: Tình hình giám định bệnh bụi phổi Silic trên
toàn quốc giai đoạn 1991-2007
Nguồn: Chương trình Quốc gia phòng chống bệnh bụi phổi Silic, Bộ Y tế, 2007
Bên cạnh bệnh phổi là sự gia tăng của các bệnh liên quan đến ô nhiễm
môi trường không khí như bênh hô hấp, tim mạch, tiêu hóa, mắt, ngoài da và
một số hiện tượng ngộ độc như ngộ độc SO 2, CO, chì…của người lao động
trong các cơ sở sản xuất công nghiệp.
Ô nhiễm môi trường KCN không chỉ ảnh hưởng đến người lao động mà
còn ảnh hưởng tới cộng đồng dân cư sống khu vực lân cận các nhà máy, từ đó
gây ra tổn thất kinh tế cho khám chữa bệnh, gia tăng gánh nặng bệnh tật (bao
gồm tổng số năm sống mất đi vì mang bệnh, tai nạn thương tích và số năm mất
đi vì “chết non” so với tuổi kỳ vọng) và các thiệt hại thu nhập do trị bệnh.
16
tăng từ 406 trường hợp năm 2000 lên tới 601 trường hợp năm 2010. Ngoài ra,
tính đến cuối năm 2010, có 26.928 người mắc bệnh nghề nghiệp.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cũng đưa ra dự báo giai đoạn 2010
- 2015, mỗi năm sẽ có khoảng 170 ngàn người bị tai nạn lao động với 1.700
người chết, số mắc mới bệnh nghề nghiệp hàng năm tăng trên 1.000 người, gây
thiệt hại trên 2 nghìn tỷ đồng [15].
Theo đánh giá của ngân hàng thế giới, Việt Nam có thể phải chịu tổn thất
do ONMT lên tới 5,5% GDP hàng năm. Như vậy, nền kinh tế mất khoảng 3,9 tỉ
USD trong khoảng 71 tỉ USD của GDP trong năm 2007 và khoảng 4,2 tỷ USD
trong ước tính 76 tỉ USD của GDP trong năm 2008. Cũng theo đánh giá của
ngân hàng Thế Giới, mỗi năm Việt Nam thiệt hại 780 triệu USD trong các lĩnh
vực sức khỏe cộng đồng vì ONMT [3].
2.4. Kinh nghiệm quản lý môi trường ở một số nước trên thế giới
2.4.1. Kinh nghiệm QL nhà nước về BVMT của Trung Quốc
Là một quốc gia đông dân nhất thế giới (trên 1,3 tỉ người), tuy nhiên
Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể về BVMT. Các nhà lãnh đạo
Trung Quốc cho rằng BVMT là một việc lớn, làm cho dân giàu, nước mạnh.
Thực chất của BVMT là bảo vệ sản xuất. Phải thiết lập và hoàn thiện cơ chế,
chính sách về môi trường và phát triển. Cán bộ địa phương phải đích thân chịu
trách nhiệm về vấn đề môi trường. Tăng cường quản lý và giám sát thống nhất
môi trường, tăng thêm vốn đầu tư cho BVMT. Phải kiên trì song song phòng
chống việc gây ô nhiễm và bảo vệ sinh thái.
Kinh nghiệm thực tế về kiểm soát ô nhiễm môi trường cho thấy: Chính
quyền Trung Quốc đã có những biện pháp cứng rắn, kiên quyết với những cơ sở
gây ô nhiễm nghiêm trọng. Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã đóng cửa
và xóa sổ 84.000 doanh nghiệp nhỏ gây ô nhiễm nghiêm trọng, trên 90% trong
số 238.000 doanh nghiệp gây ô nhiễm đã đạt tiêu chuẩn chất thải chủ yếu. Đối
18
19
Đối với chất thải rắn và lỏng thường dễ xác định đối tượng phát thải, địa
điểm phát thải và thu gom. Bằng các quy định hành chính buộc các đối tượng
phải xử lý chất thải trước khi thải ra môi trường. Vì thế đối với các chất thải rắn
và lỏng, hiện nay các nước G8 đều áp dụng thu phí nhằm bù đắp trực tiếp chi
phí BVMT.
Đối với nguồn thải khí, do nguồn thải di động hoặc khó xác định được
lượng khí thải, nồng độ các chất độc hại, vì thế việc xác định cụ thể các đối
tượng và căn cứ thu phí là rất khó. Hiện nay chưa hề tính toán, xác định được
chi phí cho việc xử lý, khắc phục các chất thải khí, đặc biệt là các vấn đề liên
quan đến khắc phục các tác hại của khí thải tới môi trường và sức khỏe con
người. Vì vậy không thể quy định mức thu phí để bù đắp chi phí xử lý đối với
khí thải, mà chỉ có thể áp dụng thu thuế nhằm tác động đến ý thức và hành vi
của đối tượng phát thải, từ đó ngăn ngừa và hạn chế lượng khí thải gây ô nhiễm
môi trường không khí. Từ lý do này các nước G8 đã áp dụng và thu phí BVMT
không khí đối với khí thải được gọi là “thuế cacbon”.
Thuế BVMT không khí “ thuế cacbon” được áp dụng để giảm thiểu
lượng khí CO2, các loại khí thải khi sử dụng các thiết bị lạnh (điều hòa, tủ
lạnh….) và các chất bụi không khí gây hiệu ứng nhà kính (Dẫn theo Nguyễn
Văn Công, 2009) [5].
2.5. Quản lý môi trường ở Việt Nam và hệ thống quản lý môi trường khu
công nghiệp
2.5.1. Tổ chức quản lý môi trường ở Việt Nam
Kể từ khi thành lập năm 2002, tổ chức bộ máy của hệ thống quản lý môi
trường từ Trung ương đến địa phương đã từng bước được tăng cường, củng cố
và kiện toàn.
Tổng cục môi trường được thành lập trực thuộc bộ TM-MT có chức năng
còn ít, chưa đáp ứng nhu cầu thực tế: Chi 1% tổng chi ngân sách từ năm 2006
và duy trì tỷ lệ này cho đến nay. Bên cạnh đó, qua giám sát cho thấy việc sử
21
dụng nguồn ngân sách này còn dàn trải, kém hiệu quả, có một số địa phương
còn sử dụng kinh phí này vào mục đích khác [4].
Hình 1: Biểu đồ chi cho Môi trường từ ngân sách nhà nước bình
quân đầu người của một số nước
Nguồn: Tổng cục Môi trường [3].
2.5.2. Quản lý môi trường KCN Việt Nam
Theo Luật Bảo vệ môi trường và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật,
liên quan đến quản lý môi trường KCN có các đơn vị sau: Bộ Tài nguyên &
Môi trường (đối với các KCN và các dự án trong KCN có quy mô lớn); UBND
tỉnh (đối với các KCN và các dự án trong KCN có quy mô thuộc thẩm quyền
phê duyệt của tỉnh); UBND huyện (đối với một số dự án có quy mô nhỏ) và
một số Bộ, ngành khác (đối với một số dự án có tính đặc thù).
Bên cạnh đó, cũng theo Luật Bảo vệ môi trường và các Nghị Định của Chính
phủ, liên quan đến bảo vệ môi trường và quản lý môi trường của các KCN còn có:
22
Ban quản lý (BQL) các KCN; chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng
kỹ thuật KCN; các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong KCN.
Hệ thống quản lý môi trường KCN được thể hiện như sau:
CHÍNH PHỦ
XD & KD kết
á
tầng KCN
c
cấu hạ tầng
c
Hình 2: Sơ đồ nguyên tắc các mối quan hệ trong hệ thống quản lý
Môi trường KCN
Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia 2009
Thông tư 08/2009/TT-BTNMT của Bộ TN&MT đã quy định trách nhiệm
quyền hạn của các đơn vị và các vấn đề liên quan đến bảo vệ và quản lý môi
trường của các KCN trong đó đặc biệt nâng cao trách nhiệm của Ban quản lý
các KCN.
BQL các KCN thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về môi trường KCN
theo ủy quyền như tổ chức thực hiện thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM; chủ
trì hoặc phối hợp thực hiện giám sát, kiểm tra các vi phạm về bảo vệ môi trường
đối với các dự án, cơ sở sản xuất, kinh doanh tại KCN; phối hợp với Bộ
23
TN&MT, Sở TN&MT thực hiện việc thanh tra và xử lý vi phạm về bảo vệ môi
trường trong KCN.
thải rắn 3 vùng kinh tế trọng điểm. Năm 2009 có Quyết định 2149 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt "Chiến lược Quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải
rắn đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050".
Nhưng đáng tiếc, hầu hết các Văn bản liên quan đến KCN đều tập trung vào
các vấn đề cải thiện môi trường đầu tư, chưa quan tâm đúng mức tới hành lang
pháp lý về quản lý môi trường. Do đó, đến nay vẫn chưa có sự thống nhất giữa
các Văn bản quy định về quản lý môi trường đối với KCN.
So với các nước phát triển, lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam còn khá
mới và chỉ được đặc biệt quan tâm trong khoảng 5 năm trở lại đây do yêu cầu
quản lý môi trường trong điều kiện kinh tế xã hội phát triển nóng. Vì vậy, ý
thức chấp hành pháp luật môi trường trong các DN và người dân còn hạn chế.
Việc xử lý hành chính đối với các hành vi gây ô nhiễm môi trường còn chưa
kiên quyết và triệt để. Bộ máy điều tra, truy tố, xét xử đối với các hành vi gây ô
nhiễm ở mức là tội phạm hình sự hầu như chưa được khởi động trong thực tế.
Về thi hành pháp luật bảo vệ môi trường, công tác thanh tra đã giúp cơ quan
có thẩm quyền có căn cứ áp dụng các công cụ có tính cưỡng chế cao như xử
phạt bằng tiền hoặc phát hiện vi phạm và yêu cầu chấm dứt các vi phạm, đình
chỉ hành vi xả thải gây ô nhiễm môi trường, cấm hoạt động, buộc di dời các cơ
sở đến khu vực xa khu dân cư, phù hợp với sức chịu tải của môi trường. Điển
hình là vụ việc xử lý đối với Công ty Vedan Việt Nam tại Đồng Nai, Công ty
Miwon tại Phú Thọ, Công ty Huyndai Vinashin tại Khánh Hòa...
Tuy nhiên, việc triển khai Luật Bảo vệ môi trường hiện nay còn rất nhiều
khó khăn như lực lượng thanh tra chuyên ngành còn quá mỏng (1 thanh tra môi
trường quản lý 1.400 DN). Một số chủ DN chưa thấy được trách nhiệm bảo vệ
môi trường của cá nhân và DN mình đối với cộng đồng nên trốn tránh trách
nhiệm xử lý chất thải hoặc không nghiêm túc triển khai các biện pháp giảm
thiểu tác động môi trường trong quá trình hoạt động.
25