Nghiên cứu quy luật phân bố không gian của tầng cây cao trên kiểu rừng kín lá rộng thường xanh tại VQG Ba Vì và Cúc Phương - Pdf 31

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với sự phát triển của xã hội thì hiểu biết về rừng của con người
ngày càng sâu sắc hơn, quan điểm, mục tiêu sử dụng ngày một đúng đắn, toàn
diện hơn và các biện pháp tác động vào rừng cũng ngày càng hoàn thiện hơn.
Tuy nhiên, những đổi mới và tiến bộ chưa kịp thời và chưa đủ sức ngăn chặn
suy thoái tài nguyên rừng gây ra từ những nguyên nhân mang tính xã hội, dẫn
đến tình trạng phá vỡ cân bằng sinh thái, giảm đa dạng sinh học, gây tổn hại tới
môi trường sống, đe dọa đến tính mạng và tài sản con người. Yêu cầu bức thiết
đặt ra hiện nay cho chúng ta là phải sử dụng nguồn tài nguyên rừng một cách
bền vững, trong đó nhiệm vụ quan trọng nhất là tiếp tục nghiên cứu và khôi
phục lại các hệ sinh thái rừng nhiệt đới để duy trì khả năng cung cấp của rừng.
Để quản lý, sử dụng và phục hồi được các hệ sinh thái rừng nói chung
và rừng nhiệt đới nói riêng thì việc nghiên cứu cấu trúc sinh thái rừng có ý
nghĩa hết sức quan trọng. Nó là cơ sở để đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác
động vào rừng một cách hiệu quả. Đặc biệt là đối với công tác phục hồi rừng
tự nhiên, thì nghiên cứu cấu trúc rừng và phân bố không gian của các cây
trong đó là việc làm hết sức cần thiết và có tính chất quyết định đến khả năng
thành công của công tác phục hồi theo hướng “tiếp cận tự nhiên”. Việc nghiên
cứu cấu trúc rừng nhằm duy trì rừng như một hệ sinh thái ổn định, có sự hài
hòa của các nhân tố cấu trúc, lợi dụng tối đa mọi tiềm năng của điều kiện lập
địa và phát huy bền vững các chức năng có lợi của rừng cả về kinh tế, xã hội
và sinh thái. Tại sao lại có được như vậy? Bởi trên quan điểm sinh thái, đặc
điểm cấu trúc rừng thể hiện rõ nét những mối quan hệ qua lại giữa các thành
phần trong của hệ sinh thái rừng với nhau và giữa chúng với môi trường.
Từ trước đến nay, việc nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng cũng đã
được nhiều nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam quan tâm, chú trọng. Tuy


2

3

Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. QUAN ĐIỂM VỀ CẤU TRÚC QUẦN XÃ THỰC VẬT RỪNG

Theo quan điểm của các nhà lâm sinh, cấu trúc rừng (forest structure) là
sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc
tính sinh thái học khác nhau có thể chung sống hài hòa và đạt tới sự ổn định
tương đối trong một giai đoạn nhất định của tự nhiên [28]. Cũng theo quan điểm
này, Phùng Ngọc Lan (1986) [22] cho rằng: cấu trúc rừng là một khái niệm dùng
để chỉ quy luật sắp xếp tổ hợp các thành phần cấu tạo nên quần thể thực vật rừng
theo không gian và thời gian. Còn trên quan điểm sản lượng, Husch,B. (1982)
[13], cấu trúc là sự phân bố kích thước của loài và cá thể trên diện tích rừng.
Như vậy, có thể thấy cấu trúc lớp thảm thực vật là kết quả của quá trình chọn
lọc tự nhiên, là sản phẩm của quá trình đấu tranh sinh tồn giữa thực vật với thực vật,
giữa thực vật và môi trường sống. Trên quan điểm sinh thái thì cấu trúc là hình thức
bên ngoài phản ánh nội dung bên trong của hệ sinh thái. Trên quan điểm sản lượng
thì cấu trúc rừng phản ánh sưc sản xuất của rừng theo điều kiện lập địa.
Cấu trúc quần xã thực vật rừng bao gồm cấu trúc tổ thành, cấu trúc tầng
thứ, cấu trúc tuổi, cấu trúc mật độ, cấu trúc theo mặt phẳng nằm ngang….
Nhìn chung, nghiên cứu cấu trúc đã chuyển từ mô tả định tính sang phân tích
định lượng dưới dạng mô hình hóa toán học nhằm khái quát hóa các quy luật
của tự nhiên. Trong đó, các quy luật phân bố, tương quan của một số nhân tố
điều tra được quan tâm nghiên cứu.
1.2. NGHIÊN CỨU VỀ CẤU TRÚC RỪNG

1.2.1. Trên thế giới
1.2.1.1. Về cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng
Khái niệm về hệ sinh thái rừng đã được làm sáng tỏ là cơ sở cho việc

mô tả và định tính.


5

Phạm trù phân bố cá thể trên trên mặt đất rừng theo kiểu cụm, đám
hoặc lan truyền là một tập hợp phức tạp có tên gọi khác nhau như Poisson
kép, Newman, Poisson âm… và được giải thích kỹ trong sách của M.Gourot
(1969), B.Hopkin (1954), K.Byth và B.D.Ripley (1980) (dẫn theo Trương Hồ
Tố, 1996 [51])
B.Rollet (1985) [58] và P.J.Digge (1979,1982) (dẫn theo Trương Hồ Tố,
1996 [51]) cho rằng có ba phạm trù phân bố các cá thể cây rừng trên mặt đất rừng:
Bảng 1.1: Phạm trù phân bố cấu trúc hình thái rừng
STT

Phân bố
Theo B.Rollet
1 Cách đều
Plantation
2 Ngẫu nhiên
Poisson
3 Cụm, nhóm, lan truyền
Contagious
B.Rollet (1985) đưa ra các phương pháp sử dụng

Theo P.J.Digge
Regular
Random
Aggregated
toán đồ lập sẵn với

giảm liên tục để mô tả phân bố số cây theo cỡ đường kính, về sau gọi là hàm
Meyer hay hàm Meyer (dẫn theo Hoàng Thị Phương Lan, 2004 [21]).
Naslund (1936 - 1937) đã xác lập luật phân bố Chiarlier kiểu A để nắn
số cây theo cỡ kính của các lâm phần rừng thuần loài đều tuổi (theo Phạm
Ngọc Giao, 1995 [10]).
Balley (1973) đã sử dụng hàm Weibull để mô hình hóa cấu trúc đường
kính loài, chiều cao thông theo mô hình của Schumacher và Coile (theo Bùi
Văn Chúc, 1995 [6]). Loestch (1973) đã dùng hàm Beta để nắn các phân bố
thực nghiệm (theo Trần Cẩm Tú, 1999 [43]).
Diatchenko, Z.N sử dụng phân bố Gamma để biểu thị phân bố số cây
theo cỡ đường kính lâm phần Thông Ôn đới. J.L.F Batista và H.T.Z Docouto
(1992), đã dùng hàm Weibull để mô phỏng phân bố N/D khi nghiên cứu rừng
nhiệt đới tại Marsanhoo – Brazin (theo Phạm Ngọc Giao, 1995 [10]).
Ngoài ra, một số tác giả sử dụng các hàm Hyperbol, họ đường cong
Pearson, phân bố Boisson,… để mô phỏng quy luật phân bố này.
b. Quy luật tương quan giữa chiều cao vút ngọn và đường kính ngang ngực
(HVN/D1.3)


7

Giữa chiều cao vút ngọn và đường kính ngang ngực của các cây trong lâm
phần luôn tồn tại mối quan hệ chặt và tuân theo quy luật: khi tuổi tăng thì đường kính
và chiều cao tăng theo và giữa chúng tồn tại mối quan hệ theo dạng đường cong. Và
cùng với tuổi tăng lên thì đường cong có xu hướng dịch chuyển lên trên (Tiurin D.V,
1927). Ngoài ra, độ dốc của đường cong chiều cao giảm theo tuổi [13].
Một số tác giả đã sử dụng các hàm toán học khác để biểu thị mối quan
hệ này. Có thể điểm qua một vài công trình như sau:
Tovstolesse, DI (1930) đã lấy cấp đất làm cơ sở để nghiên cứu quan hệ
HVN/D1.3. Mỗi cấp đất tác giả lập một đường cong chiều cao tương ứng với

b
=a+
d
h − 1,3

(1.5)

Curtis, R.O (1967) (dẫn theo Hoàng Văn Dưỡng, 2000 [9]) mô phỏng
quan hệ giữa chiều cao với đường kính và tuổi theo dạng phương trình:
Logh = d + b1.

1
1
1
+ b2 . + b3 .
d
A
d .A

(1.6)


8

1.2.1.4. Nghiên cứu tầng thứ trong rừng nhiệt đới
Việc nghiên cứu tầng thứ ở rừng nhiệt đới có nhiều quan điểm trái
ngược nhau. Có tác giả cho rằng “rừng nhiệt đới chỉ có một tầng cây gỗ mà
thôi vì không thể tìm thấy ở đây một giới hạn rõ rệt nào trong tầng cây gỗ.”
Beard (1964) không thừa nhận sự phân tầng trong rừng. Trinidad. Odum
(1971) [56] nghi ngờ sự phân tầng rừng rậm ở độ cao dưới 600m ở Porto Rico

chỉ số đa dạng loài như Simpson (1949), Margalef (1958), Menhinik (1964)
… và để đánh giá mức độ phân tán hay tập trung của các loài, đặc biệt là lớp
thảm tươi, Drude đã đưa ra khái niệm độ nhiều và cách xác định.
Một vấn đề nữa có liên quan đến nghiên cứu cấu trúc rừng là việc phân
loại rừng theo cấu trúc ngoại mạo. Cơ sở phân loại rừng theo xu hướng này là
đặc điểm phân bố, dạng sống ưu thế, cấu trúc tầng thứ và một số đặc điểm hình
thái khác của quần xã thực vật rừng. Đại diện cho hệ thống phân loại rừng theo
hướng này có Humbold (1809), Schimper (1903), Aubreville (1949), UNESCO
(1973)… Nhiều hệ thống phân loại rừng theo xu hướng này, khi nghiên cứu
ngoại mạo của quần xã thực vật đã không tách khỏi hoàn cảnh sinh thái của nó.
Từ đó, hình thành xu hướng phân loại rừng theo ngoại mạo sinh thái.
Tóm lại, trên thế giới, các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc
rừng nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng rất phong phú, đa dạng, có nhiều
công trình nghiên cứu công phu và đã đem lại hiệu quả cao trong kinh doanh
rừng. Tuy nhiên, chưa thấy có một công trình nào nghiên cứu đầy đủ.
1.2.2. Ở Việt Nam
Nhiều công trình khoa học của nhiều tác giả đã tập trung vào các đặc
điểm cấu trúc của các kiểu rừng tự nhiên, rừng trồng nhằm phục vụ công tác
quản lý, kinh doanh lâu dài và ổn định.
1.2.2.1. Về phân loại rừng


10

Loetschau (1960) [23] đã phân loại theo trạng thái hiện tại phục vụ cho
công tác điều tra, điều chế rừng gỗ nhỏ ở Quảng Ninh. Năm 1966, công trình
được chính tác giả bổ sung mang tên: “Phân chia kiểu trạng thái và phương
hướng kinh doanh rừng thường xanh lá rộng nhiệt đới”. Tuy nhiên, phương
pháp khi áp dụng mở rộng thì không phù hợp. Vì vậy, năm 1984, nó đã được
Viện Điều tra quy hoạch cải tiến lại cho phù hợp với đặc điểm rừng Việt Nam.

Trương Hồ Tố (1985) [53] đã dùng họ đường cong Pearson và các hàm
Charlie để mô phỏng một số cấu trúc của rừng Thông ba lá ở Tây Nguyên. Vũ
Nhâm (1988), Phạm Ngọc Giao (1989), Trần Văn Con (1991) [5] đã áp dụng
hàm Weibull để mô phỏng cấu trúc đường kính ở các kiểu rừng khác nhau.
Lê Minh Trung (1991) đã sử dụng hàm Poisson mô phỏng cấu trúc tán
lá cây, hàm Weibull mô phỏng cấu trúc chiều cao và đường kính. Đồng thời,
khảo nghiệm hàm Hyperbol và Meyer cho các cấu trúc này.
Ở nước ta, vài ba thập niên trở lại đây, nghiên cứu quy luật phân bố số
cây theo cỡ kính, chiều cao mới được các nhà lâm sinh học quan tâm, cụ thể
Đồng Sĩ Hiền (1974) [11] dùng hàm Meyer và họ đường cong Pearson
để nắn phân bố số cây theo đường kính làm cơ sở cho việc lập biểu thể tích và
biểu độ thon cây đứng rừng tự nhiên miền Bắc Việt Nam. Phân bố số cây theo
cỡ chiều cao ở các lâm phần rừng tự nhiên hay trong từng loài cây thường có
nhiều đỉnh, phản ánh kết cấu tầng phức tạp của rừng chặt chọn.
Nguyễn Hải Tuất (1972, 1982, 1990) [45], [46], [47] đã sử dụng hàm
phấn bố giảm, phân bố khoảng cách để biểu diễn cấu trúc rừng thứ sinh và
vận dụng quá trình Poisson vào nghiên cứu cấu trúc quần thể.
Nguyễn Văn Trương (1983) [42] đã thử nghiệm dùng các hàm mũ,
Logarit và phân bố Poisson để biểu thị cấu trúc số cây theo cấp kính, chiều
cao của rừng tự nhiên hỗn loài, kết quả cho thấy chỉ có riêng phân bố Poisson
không đem lại hiệu quả cao.


12

Bảo Huy (1988, 1993) [17], [18] thử nghiệm 5 dạng phân bố lý thuyết
là Poisson, khoảng cách, hình học, Meyer và Weibull để mô phỏng cấu trúc
của rừng Bằng lăng ở Tây Nguyên. Phân bố N/H VN có dạng một đỉnh, nhiều
đỉnh phụ hình răng cưa và mô tả thích hợp bằng hàm Weibull
Trần Văn Con (1991), Lê Minh Trung (1991) [39] đã thử nghiệm một

Quy luật tương quan giữa HVN/D1.3 là môt quy luật cơ bản và quan trọng
trong hệ thống các quy luật cấu trúc lâm phần. Việc nghiên cứu mối quan hệ
này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và được rất nhiều tác giả quan tâm. Có thể
kể đến một số công trình nghiên cứu sau:
Đồng Sĩ Hiền (1974) [11] khi nghiên cứu rừng tự nhiên nước ta đã thử
nghiệm 5 dạng phương trình sau:
h = a + blog(d)

(1.7)

h = ao + a1d + a2logd

(1.8)

h = ao + a1d + a2d2 + a3d3

(1.9)

h = ao + a1d + a2d2

(1.10)

Logh = a+b.logd

(1.11)

h − 1,3 =

d2
(a + b.d ) 2


Logh = a + b.d

(1.16)

Kết quả lựa chọn được hàm (1.15) là phù hợp nhất.
Đào Công Khanh (1996) [19], Trần Cẩm Tú (1993) [43] đã chọn phương
trình (1.15) để biểu diễn quan hệ giữa HVN/D1.3 cho rừng tự nhiên, hỗn loài ở
Hương Sơn – Hà Tĩnh.
Hoàng Văn Dưỡng (2000) [9] đã sử dụng các dạng hàm (1.14), (1.15),
(1.16) để nghiên cứu quan hệ giữa HVN/D1.3 cho lâm phần keo lá tràm ở một số
tỉnh khu vực miền Trung. Kết quả, tác giả đã chọn quan hệ dạng hàm (1.14)
để biểu thị mối quan hệ giữa HVN/D1.3.
2.2.2.3. Về hình thái phân bố
Với phương pháp ô ngẫu nhiên hệ thống Lê Sáu (1996) [36] đã phát hiện
nhiều kiểu phân bố khác nhau ở Kon Hà Nừng nhưng chủ yếu là dạng phân
bố ngẫu nhiên và cách đều kể cả trường hợp cho các ưu hợp thực vật
Cũng bằng phương pháp ô ngẫu nhiên, Trần Cẩm Tú (1999) [43] cũng
có những kết luận tương tự về hình thái phân bố cây rừng trên bề mặt, cho
cho các trạng thái rừng IIIA2, IIIA3, IIIB và loại IV ở Hương Sơn Hà Tĩnh.
Nguyễn Hải Tuất và Ngô Kim Khôi (1990 - 1994) [50] đã sử dụng quá
trình Poisson trong nghiên cứu cấu trúc quần thể đã quan niệm quá trình sinh
trưởng và phát triển của quần thể cây rừng là một quá trình cạnh tranh không
ngừng giữa chúng để điều tiết không gian dinh dưỡng. Kết quả của sự cạnh
tranh này là sự biến đổi hình thái phân bố số cây trên mặt phẳng, từ phân bố
cụm đến phân bố ngẫu nhiên và cuối cùng là phân bố cách đều.
Trong công trình nghiên cứu về Tái sinh tự nhiên ở rừng khộp Đinh
Quang Diệp (1994) mô tả kiểu phân bố thực vật và cho biết có 10/12 ô nghiên




16

Chương 2
ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ

2.1.1. VQG Ba Vì
- Ba Vì nằm ở phía Tây thủ đô Hà Nội, cách trung tâm thành phố 50km
+ Bắc giáp các xã Ba Trại, Yên Sơn, Tản Lĩnh- huyện Ba Vì
+ Nam giáp huyện Kỳ Sơn, thuộc tỉnh Hoà Bình.
+ Đông giáp các xã Vân Hoà, Yên Bài - huyện Ba Vì
+ Tây giáp các xã Khánh Thượng, Minh Quang - huyện Ba Vì
- VQGBa Vì nằm trong toạ độ địa lý: Từ 21 001' Đến 21007' Độ vĩ Bắc. Từ
105018' đến 105025' Độ kinh Đông
- Tổng diện tích Vườn quốc gia: 7.377ha
2.1.2. VQG Cúc Phương
VQG Cúc Phương nằm trên địa phận 3 tỉnh Ninh Bình, Hòa Bình và
Thanh Hóa.
+ Phía Bắc và Đông Bắc giáp huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình; huyện Nho
Quan tỉnh Ninh Bình; huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình
+ Phía Đông Nam huyện Nho Quan
+ Phía Nam và Tây Nam giáp huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.
+ Phía Tây và Tây Bắc giáp huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.
Có tọa độ địa lý: Từ 20014’ đến 20024’ Độ vĩ Bắc. Từ 05029’ đến
105044" Độ kinh Đông.
Tổng diện tích tự nhiên khu vực nghiên cứu là 52.852 ha, bao gồm diện
tích vùng lõi 22.200 ha và diện tích vùng đệm 30.652 ha.
2.2. ĐỊA HÌNH, ĐỊA THẾ


2.3.1. VQG Ba Vì
Đặc điểm chung của khí hậu Ba Vì được quyết định của các yếu tố: vĩ
độ, cơ chế gió mùa, địa hình.
Khu vực Ba Vì nằm ở khoảng vĩ tuyến 210 Bắc, chịu tác động của cơ chế
gió mùa. Tác động phối hợp của vĩ độ và gió mùa tạo nên loại khí hậu nhiệt đới
ẩm với một mùa đông lạnh và khô, từ cote 400m trở lên không có mùa khô.


18

Địa hình nhô cao, đón gió nhiều phía nhất là gió hướng đông nên lượng
mưa khá phong phú và phân bố không đều trên khu vực.
Chế độ nhiệt
Nhiệt độ trung bình năm là 23,390C, tháng lạnh nhất là tháng 1
(16,520C), tháng nóng nhất là tháng 7 (28,690C).
Mùa nóng từ tháng 4 - 11, nhiệt độ trung bình mùa nóng là 26,1 0C,
ngày nóng nhất trong mùa có thể lên tới 38,20C.
Dao động nhiệt độ ngày đêm: Biên độ nhiệt ngày đêm có ảnh hưởng lớn
đến sự tăng trưởng của thực vật và hoạt động của động vật. Biên độ nhiệt ngày
đêm tương đối lớn, có giá trị trung bình trong khoảng 80C, tăng đến 90C trong
nửa đầu mùa đông (tháng 11- tháng giêng) và đầu mùa hè (tháng 5, 6, 7).
Chế độ ẩm
Tại chân núi Ba Vì có hai mùa rõ rệt là mùa nóng ẩm (từ giữa tháng 3
cho đến giữa tháng11), mùa lạnh khô (từ giữa tháng 11 - tháng 3 năm sau).
Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí tăng dần theo độ cao và đặc biệt
trên độ cao 1.000m, độ ẩm không khí hầu như ẩm ướt quanh năm 92,0% cao
nhất vào đầu mùa hè (tháng 3,4) và cuối đông tháng (12,1,2) liên quan đến
gió mùa đông bắc
Chế độ mưa
Lượng mưa hàng năm tương đối lớn phân bố không đồng đều giữa các

Nhiệt độ trung bình năm khá cao và tương đối đồng đều (220C ÷ 330C).
Nhiệt độ tối thấp có thể xuống tới (30 ÷ 50C) và mỗi đợt có thể kéo dài 5 đến
7 ngày. Nhiệt độ trung bình nóng nhất vào tháng 7 (≥ 300C). Tổng nhiệt trung
bình năm từ 8.500 ÷ 8.6000C.
Chế độ ẩm
Độ ẩm tương đối của không khí khoảng từ 84 ÷ 85%, chênh lệch độ ẩm
giữa các tháng không nhiều. Tháng có độ ẩm cao nhất là 92% (tháng 2), thấp
nhất là 80% (tháng 10).


20

Chế độ mưa:
Lượng mưa bình quân năm từ 1.900 ÷ 2.200 mm, phân bố không đều
giữa các mùa. Mùa mưa từ cuối tháng 4 đến cuối tháng 10, chiếm tới 88 ÷
90% tổng lượng mưa năm, mưa nhiều vào tháng 8 và tháng 9, có ngày mưa
tới 451mm, gây rửa trôi, xói mòn đất vùng đồi núi và kèm theo lũ gây sạt lở
đất ven các sông suối. Từ tháng 1 đến tháng 4 là thời kỳ có mưa nhỏ, mưa
phùn, lượng mưa ít (khoảng 10% tổng lượng mưa năm), cũng có năm có thể
xảy ra hàng tháng không có mưa, gây hạn hán cho vụ đông xuân.
Chế độ gió
Trong năm có 2 hướng gió chủ đạo là gió Đông Nam thổi từ tháng 4 đến
tháng 10 mang theo hơi nước từ đại dương. Gió Đông Bắc thổi từ tháng 11
đến tháng 3 năm sau mang theo không khí lạnh và có nhiều đợt rét đậm. Tốc
độ gió trung bình 2,3m/s, tốc độ gió cực đại xẩy ra khi có bão là 45m/s.
2.4. ĐỊA CHẤT THỔ NHƯỠNG

2.4.1. VQG Ba Vì
Nền chính của Ba Vì là các loại đá phiến thạch sét và sa thạch, đá hỗn
hợp, đá Pocphirit, sa thạch xen những vỉa quắcrit, phù sa cổ ở một số khu vực

kém, năng xuất cây trồng không cao.
2.5. ĐẶC ĐIỂM CÁC KIỂU THẢM THỰC VẬT

2.5.1. VQG Ba Vì
Thảm thực vật ở khu vực VQGBa Vì gồm có 3 kiểu:
2.5.1.1. Rừng kín lá rộng thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp
Đây là một quần thể nguyên sinh bị tác động nhẹ nhưng do được bảo
vệ trong thời gian dài, rừng đã trải qua diễn thế hồi nguyên, nên đến nay hình
thái và cấu trúc vẫn mang sắc thái một quần thể nguyên sinh. Kiểu thảm thực
vật này phân bố chủ yếu trên các hệ thống dông mái núi của các dẫy núi cao.
Ở đai rừng á nhiệt đới còn có 2 kiểu phụ chính là rừng rêu và rừng thưa
á nhiệt đới.


22

2.5.1.2. Kiểu rừng kín thường xanh hỗn hợp cây lá rộng, cây lá kim á nhiệt
đới núi thấp
Đây là kiểu phụ miền thực vật thân thuộc với khu hệ bản địa Nam
Trung Hoa- Bắc Việt Nam và khu hệ di cư Hymalaya-Vân nam-Quý Châu.
Kiểu rừng này đều phân bố ở phần đỉnh sườn phía tây của 3 đỉnh Ngọc
Hoa, Tản Viên và Tiểu Đồng, kiểu thảm này phát triển trên loại đất Feralit
vàng nhạt trên núi trung bình tầng đất mỏng, phát triển trên đá Pocphirit độ
dốc >350 có nơi dốc 60-700 và có nhiều đá tảng. Về cấu trúc kiểu rừng này
cũng có 2 tầng: Tầng trên là loài Bách xanh (Calocedrus macrolepis) xen lẫn
với những loài trong họ re (Lauraceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Mộc lan
(Magnoliaceae). Tầng dưới tán có những loài dương sỉ thân gỗ (Cyalthea
podophylla), những chi thuộc họ Re (Lauraceae) như: (Phoebe, Lisea,
Lindera), những loài thuộc họ Sim (Myrtaceae) ... Dây leo ít gồm các chi
Strychnos, Fissitigma và Desmos. Cây phụ sinh thấy nhiều trên cành nhánh

23

2.5.2. VQG Cúc Phương
Thảm thực vật tại VQG gồm các kiểu và kiểu phụ thể hiện trong bảng
dưới đây:
Bảng 2.1: Các kiểu và kiểu phụ rừng tại VQG Cúc Phương
TT
1

Kiểu và Kiểu phụ thảm thực vật
Rừng kín thường xanh mưa ẩm, nhiệt đới chủ yếu
cây lá rộng trên núi đá vôi có độ cao dưới 500m

2

Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, chủ yếu
cây lá rộng núi đá vôi, độ cao trên 500m

Diện tích

Tỷ lệ

(ha)

%

12.683,83

56,05



601,27

2,7

146,53

0,6

787,35

3,5

cây lá rộng, đất phong hoá từ đá phiến, độ cao
dưới 500m
6

Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, chủ yếu
cây lá rộng, đất phong hoá từ đá phiến, độ cao
trên 500m

7

Rừng thứ sinh nhân tác trên núi đất vùng thấp
phong hoá từ đá sét

8

Rừng thứ sinh nhân tác tre nứa nhiệt đới


22.625,27
100
Đối tượng mà đề tài nghiên cứu là kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm,
nhiệt đới chủ yếu cây lá rộng trên núi đá vôi có độ cao dưới 500m.


24

Kiểu rừng này có diện tích rất lớn 12.683,83 ha, chiếm 56,05% diện tích
rừng tự nhiên của Cúc Phương, phân bố thành mảng lớn ở vùng trong tâm
VQG. Có thể nói gần như toàn bộ địa hình núi đá vôi của VQG đều được phủ
kín bằng kiểu rừng này. Thành phần chủ yếu ở đây là các họ nhiệt đới. Sự ưu
thế vượt trội của các họ như Dẻ (Fagaceae), Re (Lauraceae) được thể hiện rõ.
Rừng phân chia làm ba tầng rõ rệt:
- Tầng A: Bao gồm những cây có kích thước lớn, trong đó tầng vượt tán là
tầng (A1), phổ biến là các loài cây Chò xanh, Chò nhai, Chò chỉ, chò đãi,
Sấu… Tầng ưu thế sinh thái (A2 và A3) tương đối đồng nhất với các loài
chiếm ưu thế như Vàng anh, Gội, Mạy tèo và một số loài khác thường gặp là
Sồi, Mun núi đá, Dẻ gai.
- Tầng cây bụi (B) gồm các cây gỗ và cây tái sinh tầng trên như Sấu, Vàng
anh, Nhội, một số loài cây thường thấy như Ô rô.
- Tầng cỏ quyết (C) thưa thớt thường gặp các loài Chè rừng, Song môi, Búng
báng và một số loài cây họ Ráy, họ cau dừa.
Trên diện tích rừng núi đá vôi, nguồn động thực vật của hai VQG Ba
Vì và Cúc Phương khá phong phú và đa dạng, phong phú với khá nhiều loài
quý hiếm. Tính đa dạng sinh học của rừng rất cao. Điều kiện tự nhiên của
vùng nhiệt đới rất thuận lợi cho sự phát triển của các kiểu rừng kín lá rộng
thường xanh.
Tuy nhiên, các khu rừng này cũng đã bị tác động của người dân xung
quanh nên cũng cần nâng cao nhận thức và hiểu biết của người dân đối với tài

hồi tốt, xu hướng diễn thế thứ sinh

thế thứ sinh

+ Rừng có số lượng cây nhiều, có thể + Rừng giàu, trữ lượng cao, cây
khai thác gỗ lớn, trữ lượng cao, cây tái tái sinh có mục đích phát triển,
sinh có mục đích phát triển mạnh.

mật độ ổn định.

+ Rừng được bảo vệ nghiêm ngặt
+ Rừng được bảo vệ nghiêm ngặt
Các ĐVNCST thuộc các lô rừng tự nhiên ở trạng thái rừng IIIA3 (VQG
Ba Vì) và IV (VQG Cúc Phương) thuộc kiểu rừng kín lá rộng thường xanh


Trích đoạn Chỉ số phân hóa giá trị cao/thấp General G toàn cục và Generar G cục bộ (Local Gi*) Chỉ số phân tích phân bố cho các đối tượng có tính năng tương tự nhau (Chỉ số Morans I toàn cục và Morans I cục bộ (Local Morans I)) Lựa chọn chỉ số phân tích quy luật phân hóa đường kính và chiều cao
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status