Ứng dụng lược đồ tư duy trong dạy học tự nhiên và xã hội lớp 3 - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
===***===

ĐẶNG THỊ DIỆP

ỨNG DỤNG LƯỢC ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC TỰ NHIÊN
VÀ XÃ HỘI LỚP 3

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: PPDH Tự nhiên và Xã hội

Người hướng dẫn khoa học
ThS. LÊ THỊ NGUYÊN

HÀ NỘI - 2013


LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài: “Ứng dụng lược đồ tư duy trong dạy học Tự
nhiên và Xã hội lớp 3”, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, em đã nhận
được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học, Trường
Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và đặc biệt là sự chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của
cô giáo Th.S Lê Thị Nguyên. Qua đây, em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân
thành và sâu sắc đến các thầy, cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học đã giúp
đỡ em trong suốt quá trình học tập. Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn Th.S
Lê Thị Nguyên – giảng viên khoa Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội 2 đã hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn!


TKCC

: Phương pháp dạy học
: Giáo viên
: Học sinh
: Sách giáo khoa
: Sách giáo viên
: Số thứ tự
: Lược đồ tư duy
: Tự nhiên và Xã hội
: Thần kinh cấp cao

4


DANH MỤC HÌNH VẼ, BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 1.1.Bảng phân phối chương trình môn TN&XH lớp 1, 2, 3
Bảng 1.2: Bảng phân phối nội dung môn TN&XH lớp 3
Bảng 2.1: Tổng hợp nội dung điểu tra thực trạng
Bảng 2.2: Mức độ sử dụng các PPDH trong dạy học TN&XH lớp 3
Bảng 2.3: Mức độ sử dụng các hình thức tổ chức dạy học
Bảng 2.4. Đánh giá của GV về vai trò của PPDH bằng lược đồ tư duy
Bảng 2.5. Vai trò, ý nghĩa của PPDH bằng lược đồ tư duy trong dạy học
TN&XH lớp 3
Bảng 2.6. Yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng PPDH bằng lược đồ tư duy
Hình 1.1: Liên hệ giữa não bộ và lược đồ tư duy
Hình 1.2: Trình tự thiết lập lược đồ tư duy

5


6


2.2. Đối tượng khảo sát thực trạng………………………………………….44
2.3 Nội dung khảo sát……………………………………………………….44
2.4. Phương pháp khảo sát thực trạng………………………………………45
2.5. Kết quả khảo sát thực trạng…………………………………………..…47
2.5.1. Thực trạng dạy học TN&XH ở tiểu học hiện nay…………………….47
2.5.2. Việc vận dụng PPDH bằng lược đồ tư duy trong dạy học TN&XH lớp
3…...................................................................................................................53
CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG QUY TRÌNH SỬ DỤNG LƯỢC ĐỒ TƯ DUY
TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN XÃ HỘI 3........................................60
3.1. Nguyên tắc xây dựng quy trình dạy học bằng phương pháp lược đồ tư
duy trong dạy học Tự nhiên và Xã hội lớp 3...................................................60
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích.......................................................60
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo sự phù hợp với logic nhận thức...........................60
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo vai trò chủ thể của HS.........................................61
3.2. Đề xuất quy trình dạy học môn TN&XH lớp 3 bằng phương pháp lược đồ
tư duy...............................................................................................................61
3.3. Minh họa thiết kế một số giáo án minh họa vận dụng PPDH bằng lược đồ
tư duy trong môn TN&XH lớp 3 ....................................................................63
KẾT LUẬN ....................................................................................................71

7


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong hệ thống giáo dục quốc gia, GDTH giữ một vai trò quan trọng



tiêu chung của GDTH nhằm phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ em. Đây là
môn học có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình cũng như trong đời
sống học tập của học sinh bởi tính thực tiễn của nó. Môn TN&XH lớp 3 là
một môn học có nội dung mang tính thực tiễn cao. Nó giúp HS có những kiến
thức, kĩ năng, thái độ về con người và sức khỏe, các mối quan hệ gia đình, xã
hội, những động vật, thực vật, hiện tượng gần gũi với cuộc sống của HS.
Những hiểu biết mà các em nhận thức được là thực tế đang xảy ra ở xung
quanh các em, là những điều mà các em có thể áp dụng ngay vào cuộc sống
của bản thân, những người xung quanh và môi trường tự nhiên. HS có thể học
cách tư duy, cách liên kết các vấn đề trong một chủ thể. Quá trình này cho
phép lớp học trở thành môi trường với học sinh là trung tâm thông qua cách
sử dụng lược đồ tư duy trong môn học. Trên thực tế việc vận dụng PPDH
bằng lược đồ tư duy trong dạy học ở Tiểu học và dạy học môn TN&XH lớp 3
còn gặp nhiều khó khăn, chưa thực sự đem lại hiệu quả.
Những lí do trên chính là căn cứ để người nghiên cứu lựa chọn đề tài:
“Sử dụng lược đồ tư duy trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất ra những giải pháp để ứng dụng lược đồ tư duy trong dạy học
TN&XH lớp 3, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn học theo định
hướng đổi mới.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, khóa luận phải giải quyết những nhiệm vụ
sau:
- Tìm hiểu cơ sở lí luận của việc vận dụng PPDH bằng lược đồ tư duy
trong dạy học TN&XH lớp 3.
- Tìm hiểu cơ sở thực tiễn của việc vận dụng PPDH bằng lược đồ tư
duy trong dạy học TN&XH lớp 3.
- Đề xuất chương trình dạy học bằng Lược đồ tư duy trong dạy học

6.2.3. Phỏng vấn
Phỏng vấn được tiến hành nhằm thu thập các thông tin về việc tổ chức
dạy học TN&XH lớp 3 hiện nay. Phỏng vấn sau dự giờ được tiến hành với
các GV mà đề tài chọn quan sát, dự giờ ở các trường tiểu học thuộc phạm vi
nghiên cứu của đề tài. Thời gian phỏng vấn trong khoảng 45 phút.
6.2.4. Phương pháp thống kê toán học.

10


7. Giả thuyết khoa học
Nếu PPDH bằng LĐTD được vận dụng trong dạy học môn TN&XH
lớp 3 trong đó đảm bảo vai trò chủ thể tích cực của HS từ việc tự lực, chủ
động xây dựng, thực hiện lược đồ thì hiệu quả dạy học môn học sẽ được nâng
cao.
8. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, phần Nội dung của khóa luận gồm 3
chương sau:
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc sử dụng Lược đồ tư duy trong dạy
học môn Tự nhiên Xã hội lớp 3
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của việc vận dụng Lược đồ Tư duy trong
dạy học môn Tự nhiên Xã hội lớp 3
Chương 3: Xây dựng chương trình sử dụng Lược đồ Tư duy trong dạy
học môn Tự nhiên Xã hôi lớp 3

11


NỘI DUNG


này, trẻ bắt đầu học viết và học đọc được. Sang 7 tuổi, thùy trán của não bộ đã
trưởng thành về hình thái và trong thời kì này xuất hiện khả năng duy trì
chương trình hành động gồm một vài động tác và khả năng dự kiến trước
được kết quả của hành động. Những thành tựu nghiên cứu trong những năm
gần đây cho thấy bộ não không tư duy theo dạng tuyến tính mà bằng cách tạo
ra những kết nối, những nhánh thần kinh. Việc ghi chép tuần tự theo lối
truyền thống với bút và giấy có dòng kẻ đã khiến cho con người cảm thấy
nhàm chán. Từ trước đến nay, đã có một số quan điểm cho rằng, con người
không sử dụng hết 100% công suất của bộ não, thậm chí có ý kiến cho rằng:
Trong cuộc đời, mỗi người chỉ sử dụng 10% các tế bào não, 90% tế bào còn
lại ở trạng thái ngủ yên vĩnh viễn. Những nghiên cứu bằng ảnh cộng hưởng từ
chức năng cho thấy, toàn bộ não hoạt động một cách đồng bộ trong các hoạt
động tinh thần của con người và quá trình tư duy là sự kết hợp phức tạp giữa
ngôn ngữ, hình ảnh, khung cảnh, màu sắc, âm thanh và giai điệu. Tức là quá
trình tư duy đã sử dụng toàn bộ các phần khác nhau trên bộ não.
Ví dụ, khi sinh học tiến hành thí nghiệm, não trái đóng vai trò thu nhập
số liệu; còn não phải đóng vai trò xây dựng sơ đồ thí nghiệm, bố trí các dụng
cụ đo, thu thập hình ảnh về đối tượng cần nghiên cứu. Ngoài ra, tính hấp dẫn
của hình ảnh, âm thanh, kết quả bất ngờ của thí nghiệm… gây ra những kích
thích rất mạnh lên hệ thống rìa ( hệ thống cổ áo) của não giúp cho việc ghi
nhớ được lâu bền và tạo ra những điều kiện thuận lợi để võ não phân tích, xử
lí, rút ra kết luận hoặc xây dựng mô hình về đối tượng cần nghiên cứu.
1.1.2. Cơ sở tâm lí học lứa tuổi
Tuy cùng chịu sự chi phối của những quy luật và yếu tố như ở các giai
đoạn phát triển khác, nhưng mỗi một giai đoạn lứa tuổi trong quá trình phát
triển tâm lí của cá thể nói chung và trẻ em nói riêng là 1 khoảng thời gian nhất

13




Trí nhớ: Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ
ngữ - logic. Giai đoạn lớp 1,2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và
chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa. Nhiều học sinh chưa biết tổ chức
việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết
cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu. Trẻ thường ghi
nhớ bằng cách khôi phục nguyên văn các sự kiện của tài liệu. Đến giữa lớp 1
và sang lớp 2, đa số trẻ đã biết ghi nhớ dựa trên cơ sở hiểu nghĩa, biết phân
chia tài liệu thành từng ý. Giai đoạn lớp 4,5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ
ngữ được tăng cường. Ghi nhớ có chủ định đã phát triển. Tuy nhiên, hiệu quả
của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích
cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm
lý tình cảm hay hứng thú của các em...
Tư duy : Tư duy là hạt nhân của hoạt động trí não, khi trẻ trong độ tuổi
tiểu học, khả năng tư duy đã khá phát triển, trẻ đã có ý thức, ghi nhớ, tư duy
tổng hợp, phát tán và đánh giá đối với các tranh vẽ, ký hiệu, ngữ nghĩa và
hành vi. Tư duy của học sinh tiểu học mang đậm màu sắc cảm xúc và chiếm
ưu thế ở tư duy trực quan hành động. J.Piagie cho rằng “Tư duy của trẻ từ 710 tuổi về cơ bản còn ở giai đoạn những thao tác cụ thể”. Nhờ các hoạt động
học tập mà các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu
tượng khái quát. Khả năng khái quát phát triển dần theo lứa tuổi. Cụ thể: Giai
đoạn 1 (6 – 7 tuổi) tư duy trực quan hành động chiếm ưu thế trẻ học chủ yếu
bằng phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu dựa trên các đối tượng hoặc
những hình ảnh trực quan. Những khái quát của trẻ về sự vật hiện tượng ở
giai đoạn này chủ yếu dựa vào những dấu hiệu cụ thể nằm trên bề mặt của đối
tượng hoặc những dấu hiệu thuộc công dụng và chức năng. Trong giai đoạn
này, tư duy của trẻ còn chịu ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố tổng thể. Tư duy
phân tích bắt đầu hình thành nhưng còn yếu. Giai đoạn 2 (8 – 12 tuổi): Tư duy

15




hiện mối liên hệ giữa các ý tưởng và lập nên một lược đồ có nghĩa từ những
gì ta biết và hiểu do đó giúp ghi nhớ một cách bền vững; (2) Trợ giúp lập kế
hoạch cho một hoạt động hoặc một dự án thông qua tổ chức và tập hợp các ý
tưởng và thể hiện mối liên hệ giữa chúng; (3) Trợ giúp đánh giá kinh nghiệm
hoặc kiến thức thông qua quá trình suy nghĩ về những yếu tố chính hoặc
những gì ta biết và đã làm. Trong lược đồ tư duy, học sinh được tự do phát
triển các ý tưởng, xây dựng mô hình và thiết kế mô hình vật chất hoặc tinh
thần để giải quyết những vấn đề thực tiễn. Từ đó, cùng với việc hình thành
được kiến thức, các kĩ năng tư duy (đặc biệt kĩ năng tư duy bậc cao) của học
sinh cũng được phát triển. Với việc lập lược đồ tư duy, học sinh không chỉ là
người tiếp nhận thông tin mà còn cần phải suy nghĩ về các thông tin đó, giải
thích nó và kết nối nó với cách hiểu biết của mình. Và điều quan trọng hơn là
học sinh được một quá trình tổ chức thông tin, tổ chức ý tưởng.
Như vậy, sử dụng lược đồ tư duy là cần thiết và phù hợp với tâm sinh lí
học sinh, là hình thức ghi nhớ thay cho việc ghi nhớ lí thuyết bằng ghi nhớ
dưới dạng sơ đồ kiến thức hóa.
1.2. Lược đồ tư duy & ứng dụng lược đồ tư duy trong dạy học
1.2.1. Khái niệm
Giới thiệu về lược đồ tư duy:
Lược đồ tư duy được phát triển vào cuối thập niên 60 (của thế kỉ 20)
bởi tác gia, nhà tâm lý Tony Buzan như là một cách để giúp học sinh "ghi lại
bài giảng" mà chỉ dùng các từ then chốt và các hình ảnh. Cách ghi chép này sẽ
nhanh hơn, dễ nhớ và dễ ôn tập hơn. LĐTD đã được nhiều người Việt biết
đến nhưng nó chưa bao giờ được hệ thống hóa và được nghiên cứu kĩ lưỡng
và phổ biến chính thức trong nước. LĐTD là một công cụ tổ chức tư duy, là
con đường dễ nhất để chuyển tải thông tin vào bộ não rồi đưa thông tin ra
ngoài bộ não. Đồng thời là một phương tiện ghi chép đầy đủ sáng tạo và rất


pháp ghi chú đầy sáng tạo, hiện đang được hơn 250 triệu người trên thế giới
sử dụng, đã và đang đem lại những hiệu quả thực sự đáng kinh ngạc, nhất là
trong lĩnh vực giáo dục và kinh doanh. Lập LĐTD là một cách thức cực kỳ
hiệu quả để ghi chú. Các LĐTD không chỉ cho thấy các thông tin mà còn cho
thấy cấu trúc tổng thể của một chủ đề và mức độ quan trọng của những phần
riêng lẻ trong đó đối với nhau. Nó giúp liên kết các ý tưởng và tạo các kết nối
với các ý khác. Bằng cách dùng LĐTD, tổng thể của vấn đề được chỉ ra dưới
dạng một hình vẽ, với cách biểu diễn như vậy, các dữ liệu được ghi nhớ và
hấp thụ dễ dàng và nhanh chóng hơn.
PPDH bằng lược đồ tư duy:
Để làm rõ được khái niệm PPDH bằng LĐTD, trước tiên, người nghiên
cứu sẽ làm rõ khái niệm về LĐTD. Lược đồ tư duy hay còn có cách gọi khác
là sơ đồ tư duy, bản đồ tư duy. Đây là phương pháp kết nối mang tính đồ họa
có tác dụng lưu giữ, sắp xếp và xác lập ưu tiên đối với mỗi loại thông tin
(thường là trên giấy) bằng cách sử dụng từ hay hình ảnh then chốt (từ khóa)
hoặc gợi nhớ nhằm làm “bật lên” những ký ức cụ thể và phát sinh các ý tưởng
mới. Mỗi chi tiết gợi nhớ trong LĐTD là chìa khóa khai mở các sự kiện, ý
tưởng và thông tin, đồng thời khơi nguồn tiềm năng của bộ não kỳ diệu, là
phương pháp được đưa ra như là một phương tiện mạnh để tận dụng khả năng

19


ghi nhận hình ảnh của bộ não. Đây là cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp,
hay để phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh. Với
cách thức đó, các dữ liệu được ghi nhớ và nhìn nhận dễ dàng và nhanh chóng
hơn. Thay vì dùng chữ viết để miêu tả một chiều biểu thị toàn bộ cấu trúc chi
tiết của một đối tượng bằng hình ảnh hai chiều. Nó chỉ ra dạng thức của đối
tượng, sự quan hệ hỗ tương giữa các khái niệm (hay ý) có liên quan và cách
liên hệ giữa chúng với nhau bên trong của một vấn đề lớn.

thể hiện mối liên hệ giữa các kiến thức sẽ mang lại những lợi ích đáng quan
tâm về các mặt: ghi nhớ, phát triển nhận thức, tư duy, óc tưởng tượng và khả
năng sáng tạo. Một trong những công cụ hết sức hữu hiệu để tạo nên các hình
ảnh liên kết là LĐTD hay nói cách khác dạy học bằng LĐTD cũng được coi
như là một phương pháp dạy học tích cực nhằm mang lại tính hiệu quả cao,
phát triển tư duy logic, khả năng phân tích tổng hợp, học sinh hiểu bài, nhớ
lâu, thay cho ghi nhớ dưới dạng thuộc lòng, học “vẹt”.
1.2.3. Đặc điểm cấu trúc của lược đồ tư duy
Nhìn chung, LĐTD có cấu trúc như sau: Ý chính sẽ ở trung tâm và được
xác định rõ ràng. Quan hệ hỗ tương giữa mỗi ý được chỉ ra tường tận, ý càng
quan trọng thì sẽ nằm vị trí càng gần với ý chính, các ý mới có thể được đặt
vào đúng vị trí trên hình một cách dễ dàng, bất chấp thứ tự của sự trình bày,
tạo điều kiện cho việc thay đổi một cách nhanh chóng và linh hoạt cho việc
ghi nhớ. Từ cấu trúc của LĐTD, người nghiên cứu thấy rằng LĐTD có 4 đặc
điểm chủ yếu. Một là đối tượng cần quan tâm được tóm lược trong một hình
ảnh trọng tâm. Hai là từ hình ảnh trọng tâm, những chủ đề phát sinh được lan
tỏa thành các nhánh. Ba là các nhánh được cấu thành từ một hình ảnh chủ đạo
hay từ khóa trên một dòng liên kết, những vấn đề phụ cũng được biểu thị bởi
các nhánh gắn kết với nhánh có thứ bậc cao hơn. Bốn là các nhánh tạo thành
một cấu trúc nút liên kết nhau. Từ những đặc điểm như trên người sử dụng sẽ

21


tận dụng được những đặc điểm này vào trong thiết kế lược đồ tư duy cho hiệu
quả.
1.2.4. Tiến trình xây dựng lược đồ tư duy
1.2.4.1. Nguyên lí thiết lập lược đồ tư duy
Ở vị trí trung tâm lược đồ là một hình ảnh hay một từ khóa thể hiện một
ý tưởng hay khái niệm chủ đạo. Ý trung tâm sẽ được nối với các hình ảnh hay

liên quan bằng
ng các nhánh chính (thường
(thư
tô đậm nét). Từ các nhánh chính tiếp
ti
tục phát triển,
n, phân nhánh đến
đ các hình ảnh hay từ khóa, ti
tiểu chủ đề cấp hai
có liên quan đến
n nhánh chính (trên các nhánh, có thể
th thêm các hình ảnh hay kí
hiệu cần thiết). Cứ thế,
th sự phân nhánh cứ tiếp tụcc và các khái niệm,
ni
nội dung
vấn đề liên quan luôn được
đư nối kết với nhau. Chính sự liên kkết này sẽ tạo ra
được một “bứcc tranh ttổng thể” mô tả về khái niệm, nộii dung chủ
ch đề trung tâm
một cách đầy đủ và rõ ràng. Như vậy, một khái niệm, nộii dung chủ
ch đề chính
được gắn kết vớii các nội
n dung tiểu chủ đề liên quan. Nộii dung, ch
chủ đề chính
đóng vai trò là điểm
m hhội tụ của những mối liên hệ vớii các nnội dung tiểu chủ đề
liên quan khác. Kếtt cấu
c này là tạm thời và hữu cơ, cho phép có thể
th thêm và

có thể triển khai các nội dung cần ôn tập bằng cách sử dụng LĐTD, tạo điều
kiện cho học sinh có cơ hội sử dụng kiến thức đã học vận dụng chúng vào
thực tế dưới dạng là một phương án sử dụng LĐTD khi ôn tập chương “ con
người và sức khỏe” (TN&XH lớp 3). Giáo viên có thể nêu một câu hỏi khái
quát: “ hãy sử dụng LĐTD để tìm hiểu các vấn đề liên quan đến sức khỏe con
người” học sinh suy nghĩ về câu hỏi trên và đưa ra câu hỏi trả lời cho câu hỏi
chính (vẽ LĐTD với từ khóa trung tâm là Con người &Sức khỏe). Lần lượt bổ
sung từ ngữ, ý tưởng vào câu trả lời cho câu hỏi chính xác. Học sinh đưa ra
các vấn đề liên quan đến Con người &Sức khỏe như: Cơ thể con người có

24


những cơ quan nào? (hô hấp, tuần hoàn, bài tiết nước tiểu và thân kinh) học
sinh đọc ý kiến của các thành viên trong nhóm và thống nhất. Đó là các từ
khóa cấp 1. Từ từ khóa cấp 1, giáo viên có thể sử dung 5 W1H (câu hỏi): là gì
(What); Khi nào (When); ai (Who); Ở đâu (Where); vì sao (Why); như thế
nào (How) để yêu cầu học sinh đưa ra các vần đề liên quan đến các từ khóa
cấp 2. Học sinh thảo luận về các câu trả lời khác nhau và đánh dấu những đặc
điểm chính yếu. (gạch chân hoặc dùng màu khác nhau) ví dụ: với câu hỏi:
Nên làm gì để bảo vệ và giữ gìn vệ sinh cơ quan hô hấp,..? học sinh sẽ phát
triển sơ đồ và điền các từ khóa: vệ sinh mũi, họng; giữ vệ sinh nhà ở;…Hay
như với câu hỏi: Làm thế nào để phòng bệnh đường hô hấp? học sinh có thể
điền tiếp vào các lược đồ từ khóa như: giữ ấm cơ thể, ăn uống đủ chất, luyện
tập thể dục… đó chính là các từ khóa cấp 2. Cứ như vậy, LĐTD sẽ được học
sinh bổ sung và hoàn chỉnh dần.
Một số ví dụ khác cho thấy việc sử dụng LĐTD một cách dễ dàng và hiệu quả
trong dạy và học nhiều môn khác nhau như Địa lí, Lịch sử, Tiếng Việt…
Để tóm tắt kiến thức về giữ gìn vệ sinh cho học sinh, giáo viên có thể
sử dụng một LĐTD với từ khóa trung tâm là ( giữ vệ sinh). Xung quanh từ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status