Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
LỜI CẢM ƠN
Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đối với PGS.TS Đỗ
Quang Kháng đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.
Em xin trân trọng cảm ơn phòng công nghệ vật liệu polyme - Viện hóa
học - Viện khoa học và công nghệ Việt Nam, khoa Hóa học trường Đại học
Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em học tập và nghiên
cứu.
Cuối cùng, em xin được bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, thầy cô và
bạn bè đã động viên và giúp đỡ em trong thời gian qua.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Đỗ Thị Yến
Đỗ Thị Yến
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
MỤC LỤC
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC HÌNH VÀ BẢNG
MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN .......................................................................... 3
1.1. Vật liệu polyme blend .............................................................................. 3
2.4.1. Thành phần mẫu nghiên cứu ................................................................ 25
2.4.2. Chế tạo mẫu nghiên cứu ....................................................................... 25
2.5. Khảo sát tính chất của vật liệu ................................................................ 26
2.5.1. Tính chất cơ lí ...................................................................................... 26
2.5.2. Đánh giá độ bền nhiệt của vật liệu bằng phương pháp phân tích
nhiệt trọng lượng (TGA) ................................................................................ 27
2.6. Phân tích cấu trúc hình thái của vật liệu ................................................. 27
2.7. Đánh giá độ bền môi trường của vật liệu ................................................. 28
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ............................................... 29
3.1. Ảnh hưởng của hàm lượng LDPE tới tính chất cơ học của vật liệu ................ 29
3.2. Ảnh hưởng của nhiệt độ trộn tới tính chất cơ học của vật liệu ................ 32
3.3. Ảnh hưởng của chất làm tương hợp tới cấu trúc, tính chất của vật
liệu ................................................................................................................... 33
3.3.1. Ảnh hưởng của chất tương hợp tới tính chất cơ học của vật liệu ......... 33
3.3.2. Ảnh hưởng của chất làm tương hợp tới cấu trúc hình thái của vật
liệu ................................................................................................................... 34
3.3.3. Ảnh hưởng của chất làm tương hợp tới độ bền nhiệt của vật liệu ....... 35
3.3.4. Ảnh hưởng của quá trình biến tính tới độ bền môi trường của vật
liệu ................................................................................................................... 37
KẾT LUẬN .................................................................................................... 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 39
Đỗ Thị Yến
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Polyetylen tỷ trọng thấp mạch thẳng
PE
Polyetylen
SBR
Cao su styren - butadien
SEM
Kính hiển vi điện tử quét
TGA
Phương pháp phân tích nhiệt trọng lượng
UHMWPE
Polyetylen khối lượng phân tử rất cao
Đỗ Thị Yến
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Trên thế giới, mỗi năm có tới hàng trăm triệu tấn vật liệu polyme các
loại được sản xuất và gia công thành các sản phẩm dùng trong khắp các lĩnh
vực kinh tế, kỹ thuật cũng như dân dụng,… [1,2]. Như vậy, hàng năm cũng
một khối lượng gần như tương ứng các sản phẩm này không còn sử dụng
được nữa phải thải ra ngoài môi trường [1,3]. Ở nước ta, với sự phát triển của
kinh tế, xã hội trong những năm qua, sản lượng vật liệu polyme sử dụng cũng
tăng lên liên tục. Theo con số thống kê của Hiệp hội nhựa Việt Nam, sản
lượng nhựa sử dụng ở Việt Nam tăng rất nhanh trong những năm qua. Nếu
như năm 1995 mới chỉ trên dưới 400.000 tấn/năm thì năm 2000 đã là 950.000
tấn/năm và đến năm 2010 là 3.800.000 tấn/năm (chưa kể đến sản phẩm cao su
các loại). Tương ứng với con số trên, mỗi năm ở Việt Nam cũng thải ra hàng
ngàn tấn vật liệu polyme phế thải (bao gồm các sản phẩm từ cao su, nhựa).
Theo thống kê của Viện Khoa học Công nghệ Môi trường (ĐHBK Hà Nội),
chỉ riêng Hà Nội, năm 2002 cũng thải ra 74.647 tấn vật liệu polyme phế thải
các loại [4]. Như vậy ước tính về lượng polyme phế thải trên toàn quốc mỗi
năm có thể tới hàng trăm ngàn tấn.
Những loại polyme phế thải này không tự phân hủy được nếu như
không được xử lý tận dụng sẽ trở thành thảm họa đối với môi trường mà một
trong ba nhóm vật liệu chủ yếu là cao su [1,3]. Chính vì vậy, ở các nước tiên
tiến người ta dùng nhiều biện pháp để tận dụng các sản phẩm phế thải này
như tái sinh lại làm nguyên liệu, nhiệt phân để thu hồi nguyên nhiên liệu, làm
nhiên liệu cho công nghiệp xi măng, sản xuất năng lượng và chỉ còn một
lượng nhỏ đem chôn lấp [3,5], (riêng ở CHLB Đức năm 1994 đã có 267 cơ sở
chuyên nghiên cứu, xử lý và tận dụng vật liệu polyme phế thải thì trong đó có
tới 60 cơ sở chuyên nghiên cứu xử lý tận dụng các loại cao su phế thải [6]).
Đỗ Thị Yến
1
K35C-Hóa
Đỗ Thị Yến
2
K35C-Hóa
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Vật liệu polyme blend
1.1.1. Giới thiệu chung về vật liệu polyme blend
Vật liệu cao su blend là vật liệu có tính chất được cấu thành từ hai hoặc
nhiều cao su hoặc cao su với nhựa nhiệt dẻo. Thông qua đó có thể tối ưu hóa
về mặt tính năng cơ lí và giá thành cho mục đích sử dụng nhất định.
Mục đích của việc nghiên cứu chế tạo vật liệu polyme blend (vật liệu tổ
hợp polyme ) là tạo ra vật liệu mới có tính chất mong muốn, giá thành hạ và
dễ gia công [3, 6, 13, 14].
Trong nghiên cứu vật liệu cao su blend trước hết cần hiểu rõ những
khái niệmngười ta cần quan tâm tới những khái niệm sau:
- Cấu trúc hình thái: Là hình ảnh thể hiện cấu trúc trên phân tử của
polyme blend hay cao su blend và chất rắn nói chung.
- Sự tương hợp trong cao su blend: Mô tả sự tạo thành một pha tổ hợp ổn
định và đồng thể từ hai hay nhiều loại cao su, nhựa thành phần.
- Khả năng trộn hợp: Nói lên khả năng những cao su (nhựa) thành phần
dưới những điều liện nhất định có thể hòa trộn vào nhau tạo thành
hai giá trị Tg. Cả hai giá trị Tg chuyển dịch từ giá trị Tg của polyme thành
phần ban đầu về phía polyme kia.
- Polyme blend không trộn lẫn và không tương hợp: hình thái pha rất
thô, không mịn, ranh giới phân chia pha rõ ràng, bám dính bề mặt hai pha rất
tồi, có hai giá trị Tg riêng biệt ứng với giá trị Tg của polyme ban đầu.
Các polyme không tương hợp tồn tại ở các pha dưới 3 dạng như ở hình 1
Hình 1: Phân bố pha trong tổ hợp polyme không tương hợp:
1.a. Một pha liên tục và một pha phân tán.
1.b. Hai pha liên tục.
1.c. Hai pha phân tán.
Đỗ Thị Yến
4
K35C-Hóa
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
POLYME
COPOLYME
(Polymers)
(Copolymers)
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
- Kích thước hạt
- Loại bám dính pha.
Những yếu tố này bị chi phối bởi điều kiện chuẩn bị và gia công của
vật liệu [6].
Trong thực tế để tăng độ tương hợp cũng như khả năng trộn hợp của
các polyme người ta dùng các chất làm tăng khả năng tương hợp như các
copolyme, chất hoạt tính bề mặt bên cạnh việc chọn chế độ chuẩn bị và gia
công thích hợp cho từng loại tổ hợp thông qua việc khảo sát tính lưu biến của
tổ hợp vật liệu.
Từ kinh nghiệm thực tế cho thấy rằng, các polyme có bản chất hóa học
giống nhau sẽ dễ phối hợp với nhau, những polyme khác nhau về cấu tạo hóa
học hoặc độ phân cực sẽ khó trộn hợp với nhau. Trong những trường hợp này
ta phải dùng các chất làm chất tương hợp (trợ tương hợp).
Trong tất cả các trường hợp, thời gian trộn, nhiệt độ, và tốc độ trộn có ảnh
hưởng quyết định tới cấu trúc cũng như tính chất của vật liệu. Vì thế, với mỗi hệ
cụ thể, căn cứ vào tính chất của các polyme ban đầu cũng như đặc tính lưu biến
của tổ hợp để chọn chế độ chuẩn bị (tạo blend) và gia công thích hợp.
1.1.4. Các phương pháp xác định sự tương hợp của polyme blend [3, 14]
- Hòa tan các polyme trong cùng một dung môi: nếu xảy ra sự tách pha
thì các polyme không tương hợp với nhau.
- Tạo màng mỏng từ dung dịch loãng của hỗn hợp polyme: nếu màng
thu được mờ và dễ vỡ vụn thì các polyme không tương hợp.
- Quan sát bề mặt và hình dạng bên ngoài của sản phẩm polyme blend
thu được ở trạng thái nóng chảy: nếu các tấm mỏng thu được bị mờ thì các
polyme không tương hợp. Nếu tấm mỏng thu được trong suốt thì các polyme
Để làm chất tương hợp, các copolyme khối hoặc nhánh phải có một
khối hoặc một nhánh có khả năng tương hợp tốt với một polyme, và nhánh
hoặc khối kia phải có khả năng tương hợp tốt với polyme còn lại trong hệ.
Các copolyme ở đây thường có hai khối, mỗi khối bao gồm monome của mỗi
polyme thành phần. Như vậy, khối có cùng monome với polyme thành phần
nào sẽ có cùng bản chất và cấu tạo hóa học tương tự như polyme đó, do vậy
chúng có khả năng trộn hợp, liên kết chặt chẽ với nhau. Kết quả là hai polyme
thành phần của hệ sẽ được liên kết với nhau, trong đó copolyme khối đóng vai
trò như một chất kết dính [8].
Sử dụng chất tương hợp là các polyme có khả năng phản ứng với
các polyme thành phần của hệ
Đỗ Thị Yến
7
K35C-Hóa
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Đưa một polyme C có khả năng phản ứng vào polyme blend A/B, trong
đó polyme này có khả năng tương hợp với một trong hai polyme thành phần
của hệ còn polyme không tương hợp với polyme C thì phải chứa nhóm chức
có khả năng phản ứng với polyme C. Nếu cả hai polyme A và B đều không
chứa nhóm chức có khả năng phản ứng với polyme C thì có thể đưa thêm vào
một polyme D nữa, với điều kiện polyme C và D có khả năng phản ứng được
với nhau và mỗi polyme này có khả năng tương hợp với một polyme chính
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
1.1.5.5. Đưa vào hệ các chất hoạt động bề mặt
Các chất hoạt động bề mặt sẽ tập trung trên bề mặt phân pha, có vai trò
như chiếc cầu nối giữa hai pha, làm giảm sức căng bề mặt phân pha và do đó
tạo điều kiện cho các pha phân tán tốt vào nhau trong quá trình chế tạo blend.
Tuy nhiên cần lưu ý, chất hoạt động bề mặt thường có khối lượng phân tử
thấp do vậy hàm lượng sử dụng tối ưu thường không cao. Qua các kết quả
nghiên cứu cho thấy rằng, khi sử dụng các chất hoạt động bề mặt có khối
lượng phân tử thấp (dưới đơn vị nghìn) hàm lượng tối ưu chỉ khoảng 1% so
với cấu tử có hàm lượng thấp.
1.1.5.6. Đưa vào hệ các chất độn hoạt tính
Một số chất độn hoạt tính có tác dụng nâng cao khả năng tương hợp
của các polyme. Trong những trường hợp này, chất độn được phân bố một
cách chọn lọc tại bề mặt phân cách pha giữa hai pha polyme, có tác dụng như
các chất tương hợp ở trên. Đối với các hệ này, mức độ khả năng tương hợp
của các cấu tử phụ thuộc vào tương tác giữa chất độn với các polyme thành
phần. Nếu tương tác càng mạnh, mức độ tăng tương hợp càng cao.
1.1.5.7.Sử dụng phương pháp cơ nhiệt
Khi gia công trong điều kiện ứng suất và nhiệt độ cao có thể xảy ra quá
trình phân hủy của polyme, trong đó có phản ứng đứt mạch tạo thành gốc tự
do. Các gốc tự do này cũng có thể được tạo thành dưới tác dụng của nhiệt
hoặc của đồng thời của hai yếu tố cơ và nhiệt. Phản ứng tạo thành gốc tự do
có thể xảy ra cả trong điều kiện có và không có mặt oxi. Sau đó gốc tự do của
các phân tử khác nhau kết hợp lại với nhau hoặc tác dụng với nối đôi có trong
các phân tử polyme trong hệ. Khi gốc tự do của hai mạch polyme khác loại
kết hợp với nhau sẽ tạo thành copolyme khối hay ghép tại bề mặt phân cách
pha. Chính các liên kết này có tác dụng nâng cao khả năng tương hợp của hai
polyme thành phần.
Để tạo vật liệu polyme, người ta có thể tiến hành trực tiếp trong các
máy trộn các polyme còn ở dạng huyền phù hoặc nhũ tương. Đối với các
polyme thông thường người ta phối trộn trong các máy ép đùn một trục hoặc
hai trục.
1.1.6.1. Chế tạo polyme blend từ các dung dịch polyme blend
Yêu cầu của phương pháp này là các polyme thành phần phải hòa tan
tốt với nhau trong cùng một dung môi hoặc trong các dung môi có khả năng
trộn lẫn với nhau. Có thể kèm theo quá trình khuấy ở nhiệt độ cao và gia nhiệt
Đỗ Thị Yến
10
K35C-Hóa
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
trong thời gian dài để tạo điều kiện cho các polyme phân tán vào nhau tốt
hơn. Sau khi thu được màng polyme blend cần phải đuổi hết dung môi bằng
các phương pháp khác nhau (sấy ở nhiệt độ thấp và áp suất thấp) tránh để
màng bị rạn nứt, bị phân hủy nhiệt hay phân hủy oxi hóa nhiệt [3].
1.1.6.2. Chế tạo polyme blend từ hỗn hợp các latex polyme
Phần lớn các sản phẩm polyme trùng hợp trong nhũ tương tồn tại dưới
dạng latex có môi trường phân tán là nước. Quá trình trộn các latex dễ dàng
và polyme thu được có hạt phân tán đều vào nhau.
Nhược điểm của phương pháp này: khó tách hết các chất nhũ hóa, các
phụ gia như nước ra khỏi polyme blend. Vì vậy các tính chất cơ, lý, hóa,
Cấu
trúc
hình thái và sự tạo thành cấu trúc trong polyme blend
Đối với hệ cao su blend tương hợp về mặt nhiệt động thì cấu trúc hình
thái của nó là một pha đồng nhất. Song trong thực tế, đa phần các polyme
không tương hợp về mặt nhiệt động, chính vì vậy cấu trúc hình thái của nó sẽ
gồm hai hay nhiều pha. Như vậy, về cơ bản cấu trúc hình thái của cao su
blend thông thường gồm ít nhất một pha liên tục (pha nền), các pha khác được
phân tán trong pha nền hoặc đồng liên tục với nó.
Đối với hệ có khả năng trộn hợp, xu thế trộn lẫn với nhau giữa các
phân tử polyme khác loại là xu thế có ưu thế về mặt nhiệt động nên cấu trúc
hình thái học của các blend này ít chịu ảnh hưởng bởi quá trình động học.
Blend trên cơ sở các polyme có khả năng trộn hợp được chế tạo bằng dung
môi có cấu trúc tinh, trong suốt, không phụ thuộc vào bản chất của hệ dung
môi và điều kiện chế tạo. Đối với polyme chế tạo bằng phương pháp nóng
chảy, các quá trình polyme chuyển dần từ trạng thái rắn về trạng thái nóng
chảy, và từ mức độ nóng chảy ở mức độ phân tán thô chuyển dần về trạng
thái trộn lẫn, cân bằng nhiệt động đều chịu ảnh hưởng động học, tức là ảnh
hưởng của các điều kiện công nghệ. Nói chung, tốc độ trộn càng cao, độ
nhớt của các polyme và chênh lệch độ nhớt giữa chúng càng thấp, thì quá
trình khuếch tán xảy ra càng nhanh, thời gian để hệ đạt trạng thái cân bằng
nhiệt động càng ngắn.
Cấu trúc hình thái học của blend trên cơ sở các polyme không có khả
năng trộn hợp, được chế tạo bằng phương pháp dung môi phụ thuộc nhiều vào
hệ dung môi sử dụng, tức là vào mức độ tương tác hay thông số hòa tan của
các thành phần thuộc hệ. Bởi vậy, một polyme bend với thành phần xác định
có thể có cấu trúc hình thái học khác nhau, khi được chế tạo bằng các hệ dung
môi khác nhau. Đối với hệ có một polyme A phân tán trong pha liên tục của
Tính
chất
quang học của cao su blend
Do khả năng phân bố tinh của các pha trong pha nền, nên các sản phẩm
chế tạo từ blend của các polyme có khả năng tương hợp thường trong suốt và
có tính chất cơ lý tốt. Trong khi đó, các sản phẩm này, nếu được chế tạo từ
blend trên cơ sở các polyme không có khả năng tương hợp, thường không
trong suốt trở nên đục. Qua các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, chỉ cần
thêm một lượng nhỏ polyme không có khả năng tương hợp khác là đủ để làm
polyme trong suốt trở nên đục.
1.1.9.2.
Nhiệt
độ
thủy tinh hóa của cao su blend
Nhiệt độ thủy tinh hóa (Tg) của polyme blend nói chung hay cao su
blend nói riêng tạo thành từ các polyme có khả năng tương hợp về mặt nhiệt
động thường chỉ có một điểm thủy tinh hóa. Nhiệt độ này nằm trong khoảng
Tg của hai polyme thành phần. Trường hợp, khi polyme blend tách thành hai
Đỗ Thị Yến
13
K35C-Hóa
tương tác giữa các phân tử khác loại là yếu thì năng lượng bề nặt phân cách
pha lớn, khả năng kết dính giữa các pha kém, tính chất cơ học của hệ lệch âm
và trong nhiều trường hợp có giá trị cộng hợp âm theo sự phụ thuộc vào tỷ lệ
các thành phần.
1.2. Cao su tái sinh
1.2.1. Các biện pháp xử lý, tận dụng cao su phế thải
Cao su tái sinh là vật liệu được chế tạo từ cao su phế thải.
Để xử lý tận dụng các loại cao su phế thải, ngay từ khi nền công nghiệp
cao su ra đời, người ta đã nghĩ tới việc tận dụng lại cao su phế thải làm
nguyên liệu. Năm 1858 ra đời patăng đầu tiên của Hall [7], trong đó tác giả
đưa ra biện pháp sơ chế bằng hơi nước, qua đó cao su được hóa dẻo và có thể
sử dụng lại. Đến khoảng những năm 1960 người ta sử dụng cao su phế thải
chủ yếu làm vật liệu cao su tái sinh và sơ chế thành dạng hạt và bột. Tỷ lệ
nguyên liệu tái sinh có thể dùng tới 20
30% lượng nguyên liệu cần thiết [8].
Nguyên liệu tái sinh đưa vào làm giảm giá thành đồng thời tạo điều kiện
thuận lợi cho quá trình gia công như thoát khí tốt hơn khi chế tạo săm lốp.
Tuy nhiên, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, giá nguyên liệu giảm
mạnh nên việc tận dụng cao su phế thải làm nguyên liệu không còn kinh tế
Đỗ Thị Yến
15
K35C-Hóa
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Đỗ Thị Yến
16
K35C-Hóa
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
1.2.2. Biện pháp chế tạo cao su tái sinh
Nguyên lý của việc chế tạo cao su tái sinh là người ta cắt các cầu nối
không gian giữa các đại phân tử cao su đã lưu hóa tạo ra cao su chưa khâu
mạch. Vật liệu cao su phế thải (cao su đã khâu mạch) sau khi xử lý cắt cầu nối
trở thành cao su tái sinh.
Khi mạng lưới không gian ba chiều của cao su lưu hóa bị phá vỡ thì thu
vật liệu tái sinh qua việc chế biến: được gọi là quá trình tái sinh. Trong quá
trình này, hoặc là liên kết của lưu huỳnh với chuỗi polyme hoặc liên kết
cacbon - cacbon trong polyme bị phá vỡ. Cơ chế đầu tiên được ưu tiên là
mạch của polyme vẫn còn nguyên vẹn. Sự cắt liên kết có thể thu được bởi các
phản ứng nhiệt, cơ học hoặc hóa chất. Về cơ bản, quy trình phá vỡ các mạch
lưới cao su hoặc sự cắt mạch chính chuỗi polyme có thể được phân loại thành
năm phương pháp chính:
Tái sinh bằng nhiệt;
Tái sinh bằng cơ nhiệt;
Tái sinh bằng cơ học và hóa chất;
Tái sinh bằng bức xạ;
Tái sinh bằng vi khuẩn;
một bộ phận phản ứng. Nhiệt độ hoạt động trong phạm vi 100 - 3000C và tốc
độ trục vít là 100 - 900 vòng/ phút.
+ Tái sinh bằng cơ học và hóa chất: trộn bột cao su phế thải với tác
nhân peptit hóa (hóa chất được sử dụng để làm giảm độ nhớt) và tác nhân khử
lưu trước khi phá vỡ cơ học nhằm cải thiện quá trình tái sinh. Chất trợ khử
lưu phải được lựa chọn để phá vỡ cầu nối lưu huỳnh trong mạng cao su. Hóa
chất này được kết hợp năng lượng nhiệt và /hoặc cơ học, như tốc độ của quá
trình này là đủ cao, chỉ ở nhiệt độ cao. Chất trợ khử lưu phổ biến nhất là họ
disulfit, ví dụ như disulfit aryl hoặc sulfua diphenyl, thiophenols và các muối
kẽm và mercaptane. Các hợp chất hóa học này phản ứng với các gốc tự do
được tạo ra bởi chuỗi hoặc sự cắt đầu nối và ngăn chặn sự tái tổ hợp của các
phân tử [24], cơ chế như sau:
Đỗ Thị Yến
18
K35C-Hóa
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
S
S
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
+
Đỗ Thị Yến
19
K35C-Hóa
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
+ Tái sinh bằng vi khuẩn: được thực hiện bằng cách trộn cao su nghiền
mịn với môi trường có chứa vi khuẩn thích hợp trong một lò phản ứng sinh
học có kiểm soát nhiệt độ, sau đó duy trì ở nhiệt độ quy định và áp suất trong
suốt thời gian xử lý. Thời gian tiếp xúc sinh học trong khoảng từ mười đến
vài trăm ngày. Sau khi xử lý, cao su khử lưu được rửa và lọc để loại bỏ các vi
sinh vật, sau đó sấy khô để bán. Một thực tế quan trọng lưu ý rằng công nghệ
này đòi hỏi nguyên liệu rất mịn để đạt được mức độ hữu ích của sự khử lưu.
1.2.3. Các ưu điểm khi sử dụng cao su tái sinh
Cao su tái sinh được sử dụng với các tỉ lệ khác nhau để sản xuất các sản
phẩm cao su. Các sản phẩm có thể dùng cao su tái sinh là: săm lốp ôtô, xe
máy, đế giày, băng tải, cao su tấm, chất kết dính, gioăng đệm,… Việc sử dụng
cao su tái sinh có những thuận lợi sau:
- Năng lượng tiêu thụ trong quá trình trộn thấp, do trong quá trình sản
xuất cao su tái sinh đóng vai trò như chất hóa dẻo.
- Nhiệt độ cán trộn thấp.
- Vật liệu trộn đồng đều nhanh.
- Cải thiện sự thâm nhập của vải.
- Giảm thiểu phồng rộp trong quá trình gia công sản phẩm.
- Khả năng nhiệt dẻo thấp, do cấu trúc liên kết chéo của cao su tái