TIỂU LUẬN CAO HỌC: MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG: Phân tích nguyên nhân làm cho việc sử dụng đất không bền vững - Pdf 31

1. Mở đầu
Ngày nay, vấn đề sử dụng đất theo hướng bền vững được coi là mục tiêu
không chỉ ở mỗi quốc gia mà còn mang tính toàn cầu, đặc biệt ở những nước đang
phát triển, dựa vào sản xuất nông nghiệp như nước ta, bởi vì tài nguyên đất vô cùng
quý giá, đất là tư liệu sản xuất nông - lâm nghiệp chủ yếu, là cơ sở lãnh thổ để phân
bố các ngành kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, tài nguyên đất là có hạn và đất có khả
năng canh tác ngày càng thu hẹp, diện tích đất tự nhiên và đất canh tác trên đầu
người ngày càng giảm do áp lực tăng dân số, sự phát triển đô thị hóa, công nghiệp
hóa và các hạ tầng kỹ thuât, do điều kiện tự nhiên, hoạt động tiêu cực của con
người, hậu quả của chiến tranh… nên một phần đáng diện tích đất đã, đang và sẽ
còn bị thoái hóa hoặc ô nhiễm dẫn tới tình trạng giảm, mất khả năng sản xuất và
nhiều hậu quả nghiêm trọng khác.
Bài tiểu luận này sẽ phân tích “nguyên nhân làm cho việc sử dụng đất không
bền vững” để biết được những lý do và việc làm nào của con người làm cho việc
sử dụng đất không bền vững và đưa ra một số giải pháp khắc phục nhằm quản lý và
sử dụng đất hiệu quả.
2. Nội dung
2.1. Sử dụng đất bền vững và sự cần thiết phải sử dụng đất bền vững,
hiệu quả
Đất đai mà chúng ta có được hôm nay không chỉ là “tài nguyên thiên nhiên
cho không con người” như C.Mác đã nói, mà còn là thành quả của nhiều thế hệ
trước để lại. Đến lượt mình, chúng ta phải để lại nguồn sống này cho thế hệ con
cháu mai sau và phải làm cho nó phì nhiêu hơn, trù phú hơn, bởi chúng ta đang sử
dụng “tài sản vay mượn của con cháu”.
Sử dụng đất bền vững là khái niệm động và tổng hợp, liên quan đến các lĩnh
vực kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường, hiện tại và tương lai. Sử dụng đất bền
vững là giảm suy thoái đất và nước đến mức tối thiểu, giảm chi phí sản xuất bằng
cách sử dụng thông các nguồn tài nguyên bên trong và áp dụng hệ thống quản lý
phù hợp. Sử dụng đất bền vững trong nông nghiệp liên quan trực tiếp đến hệ thống
canh tác cụ thể nhằm duy trì và nâng cao thu nhập, bảo vệ các nguồn tài nguyên
thiên nhiên và thức đẩy phát triển nông thôn.

bom đạn chiến tranh. Diện tích đất có khả năng canh tác của lục địa chỉ có 3.030 triệu
ha. Hiện nhân loại mới khai thác được 1.500 triệu ha đất canh tác.
Ba là, diện tích đất tự nhiên và đất canh tác trên đầu người ngày càng giảm
do áp lực tăng dân số, do quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa mang lại: bình
quân diện tích đất canh tác trên đầu người của thế giới là 0,23 ha, nhiều quốc gia
châu Á, Thái Bình dương là 0,15 ha, Việt Nam là 0,11 ha. Theo tính toán của Tổ
2


chức Lương thực thế giới (FAO), với trình độ sản xuất trung bình hiện nay, để có
đủ lương thực, thực phẩm, mỗi người cần có 0,4 ha đất canh tác.
Bốn là, do điều kiện tự nhiên, hoạt động tiêu cực của con người, hậu quả của
chiến tranh nên diện tích đáng kể của lục địa đã, đang và sẽ còn bị thoái hóa hoặc
ô nhiễm dẫn tới tình trạng giảm, mất khả năng sản xuất và nhiều hậu quả nghiêm
trọng khác: trên thế giới hiện có 2.000 triệu ha đất đã và đang bị thoái hóa, trong đó
1.260 triệu ha tập trung ở châu Á, Thái Bình Dương. Ở Việt Nam hiện có 16,7 triệu
ha bị xói mòn, rửa trôi mạnh, chua nhiều, 9 triệu héc-ta đất có tầng mỏng và độ phì
thấp, 3 triệu ha đất thường bị khô hạn và sa mạc hóa, 1,9 triệu ha đất bị phèn hóa,
mặn hóa mạnh. Ngoài ra tình trạng ô nhiễm do phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật,
chất thải, nước thải đô thị, khu công nghiệp, làng nghề, sản xuất, dịch vụ và chất
độc hóa học để lại sau chiến tranh cũng đáng báo động. Hoạt động canh tác và đời
sống còn bị đe dọa bởi tình trạng ngập úng, ngập lũ, lũ quét, đất trượt, sạt lở đất,
thoái hóa lý, hóa học đất...
Năm là, lịch sử đã chứng minh sản xuất nông nghiệp phải được tiến hành trên
đất tốt mới có hiệu quả. Tuy nhiên, để hình thành đất với độ phì nhiêu cần thiết cho
canh tác nông nghiệp phải trải qua hàng nghìn năm, thậm chí hàng vạn năm. Vì
vậy, mỗi khi sử dụng đất đang sản xuất nông nghiệp cho các mục đích khác cần cân
nhắc kỹ để không rơi vào tình trạng chạy theo lợi ích trước mắt.
2.2. Những nguyên nhân làm cho việc sử dụng đất không bền vững
2.2.1. Áp lực của sự gia tăng dân số

- Làm đảo lộn cân bằng sinh thái do sử dụng thuốc trừ sâu.
- Làm ô nhiễm môi trường đất do sử dụng thuốc trừ sâu.
- Làm mất cân bằng dinh dưỡng.
- Làm xói mòn và thoái hóa đất.
- Phá hủy cấu trúc của đất và các tổ chức sinh học của chúng do sử dụng các
thiết bị, máy móc nặng.
- Làm mặn hóa hay chua phèn do chế độ tưới tiêu không hợp lý.
- Ô nhiễm kim loại nặng do tưới và bón các loại nước thải, bùn thải công
nghiệp, đô thị vào đất.
2.2.2. Do các hoạt động nông nghiệp
2.2.2.1. Nông nghiệp du canh
Ngày nay, tình trạng du canh tuy không phổ biến tuy nhiên nhiều nơi trên Trái
đất, nhất là vùng núi lạc hậu vẫn còn tình trạng chặt phá rừng, phát đốt nương rẫy
để gieo trồng cây nông nghiệp. Sau một thời gian ngắn, khi năng suất giảm, vùng
đất đó sẽ bị bỏ hoang và người ta lại tiếp tục phát đốt những vùng đất mới để gieo
trồng. Ở Mộc Châu – Sơn La, khi mới khai hoang năm 1959 năng suất cây trồng
4


đạt 25 tạ/ha, năm 1960 năng xuất là 18 tạ/ha, đến năm 1962 không thể canh tác
được nữa.
Hậu quả của việc du canh trong nông nghiệp là tài nguyên rừng bị phá hủy,
xói mòn nghiêm trọng, mất độ ẩm của đất, không giữ được nước ngầm, gây hạn
hán và lụt lội… Ở Việt Nam, lượng đất xói mòn khoảng 100 – 200 tấn/ha/năm
trong đó có 6 tấn mùn và đang gia tăng nhanh chóng.
Nền nông nghiệp du canh là một nền nông nghiệp cho năng suất thấp, không
đáp ứng được nhu cầu lương thực, thực phẩm khi dân số tăng, đây là một hình thức
sử dụng đất không bền vững, cần phải bị lên án và chấm dứt.
2.2.2.2. Sử dụng các kỹ thuật trong trồng trọt để tăng năng suất cây trồng
Nếu như nền du canh là một hình thức sử dụng đất không bền vững thì việc áp

người tiếp xúc với phân bắc từ 5 – 20 năm, 26,7% tiếp xúc với phân bắc trên 20
năm và trong số những người này thì có 53,3% có triệu chứng thiếu máu, 60% số
người bị bệnh ngoài da.
Phân vô cơ thuộc nhóm chua sinh lý như K 2SO4, (NH4)2SO4, KCl, NH4Cl,
super photphat…) đã làm đất chua dẫn đến nghèo kiệt các ion bazơ và làm xuất
hiện nhiều chất độc mà chủ yếu là Al 3+, Fe2+, Mn2+ di động có hại cho cây trồng,
làm giảm hoạt tính sinh học của đất. Ngoài ra bón nhiều đạm và bón phân đạm
muộn cho rau, quả đã làm tăng đáng kể lượng NO3 trong rau.
* Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
Bản chất của nó là những chất hóa học diệt sinh học nên đều có khả năng gây
ô nhiễm môi trường đất. Một số loại thuốc trừ sâu có tính năng hoá học ổn định,
khó phân huỷ, nên sẽ tích luỹ trong môi trường. Sau nhiều lần sử dụng lượng tích
luỹ này có thể cao đến mức gây độc cho môi trường đất, nước, không khí và con
người. Do thuốc tồn đọng lâu không phân huỷ, nên có thể theo nước và gió phát tán
tới các vùng khác, theo các loài sinh vật đi khắp mọi nơi. Thuốc diệt cỏ được dùng
ở mức ít hơn. Tuy nhiên do có tính độc, chúng cũng gây nên những tác hại tới môi
trường giống như thuốc trừ sâu.
Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá mức, không đúng quy cách, không đúng
chủng loại, các loại thuốc bị cấm sẽ tăng thêm tác động có hại cho hệ sinh thái và
môi trường đất. Điển hình là lượng thuốc tồn dư sẽ gây trở ngại hay tiêu diệt động
thực vật trong đất, dẫn đến khả năng phân hủy chất hữu cơ kém. Kết quả sẽ là mất
vệ sinh đồng ruộng, vườn tược và làm giảm độ màu mỡ, tơi xốp của đất.

6


2.2.2.3. Chăn nuôi gia súc, gia cầm và nuôi trồng thủy sản
Chất thải chăn nuôi bao gồm chất khí như: mùi khai (NH 3), mùi thối (SH2);
các vi sinh vật độc hại, chất thải rắn như phân và các chất độn chuồng, đang là một
vấn đề khá bức xúc trong tất cả các phương án phát triển chăn nuôi từ quy mô nông

khu vực khai thác than, các khu vực nhà máy điện nguyên tử, có khả năng tích luỹ
cao trong các loại đất giàu khoáng sét và chất mùn.
- Các chất thải gây ô nhiễm đất ở mức độ lớn là các chất tẩy rửa, phân bón,
thuốc bảo vệ thực vật, thuốc nhuộm, mầu vẽ, công nghiệp sản xuất pin, thuộc da,
công nghiệp sản xuất hoá chất. Nhiều loại chất hữu cơ đến từ nước cống, rãnh
thành phố, nước thải công nghiệp được sử dụng làm nguồn nước tưới trong sản
xuất cũng là tác nhân gây ô nhiễm đất.
2.2.4. Rừng bị tàn phá
Như chúng ta đã biết, tán rừng là nơi ngăn giữ, phân phối lại mưa rơi và lượng
bốc hơi nước từ mặt đất. Sự có mặt của lớp phủ rừng trên mặt đất còn có tác dụng
điều hòa dòng chảy (theo chiều nằm ngang và chiều thẳng đứng ), làm thay đổi
mực nước ngầm trong đất, tích tụ ẩm cho đất khi đất thiếu nước. Rừng còn làm
tăng lượng giáng thủy trên một lãnh thỗ có rừng phân bố, điều hòa dòng chảy, cố
định đất và chống lại sự dịch chuyển đất do gió và mưa... Nếu không có lớp phủ
thực vật trên mặt đất, đất có thể bị bào mòn đến tầng mẫu chất. Do đó, rừng là nhân
tố tự nhiên có ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình hình thành đất và ngăn chặn sự phá
hủy đất dưới ảnh hưởng của xói mòn do gió và nước.
Không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới, tài nguyên rừng ngày càng bị thu
hẹp về diện tích vì bị tàn phá nặng nề. Rừng bị thu hẹp kéo theo những hiểm họa
khổng lồ mang tính chất toàn cầu như làm biến dạng hệ sinh thái, tăng nguy cơ
khan hiếm nước, thay đổi khí hậu và gia tăng các tai họa thiên nhiên...
Nạn phá rừng đầu nguồn để khai thác gỗ, phát triển nông nghiệp, thủy điện…
làm thảm thực vật trên lưu vực ngày càng giảm dẫn đến khả năng cản dòng chảy
kém, lũ tập trung nhanh hơn, mất độ che phủ của đất vì thế tình trạng xói mòn, rửa
trôi, mất chất dinh dưỡng tại các vùng đất dốc ngày càng tăng.
2.2.5. Do các tác động của tự nhiên đặc biệt là tình trạng biến đổi khí hậu
toàn cầu
Khí hậu trái đất đang biến đổi do nhiều nguyên nhân, trong khi những nguyên
nhân đầu tiên là những nguyên nhân hành tinh, thì nguyên nhân cuối cùng lại có sự
tác động rất lớn của con người mà chúng ta gọi đó là sự làm nóng bầu khí quyển

hợp với yêu cầu thực tế và định hướng phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời công
tác quy hoạch chưa lồng ghép được sự tác động của môi trường, biến đổi khí hậu
đến việc sử dụng đất. Nhiều địa phương do buông lỏng quản lý đã để tự phát
chuyển mục đích sử dụng đất tạo ra tình hình rối loạn trong sử dụng đất và tác động
xấu đến môi trường. Một số nơi nôn nóng trong phát triển công nghiệp, muốn tranh
thủ các nhà đầu tư nên đã cho phép thu hồi, san lấp mặt bằng một lượng lớn đất
nông nghiệp để lập khu công nghiệp, sau đó do thiếu vốn nên các dự án thực hiện
9


cầm chừng, đất đai lại bị bỏ hoang trở thành “dự án treo”, người bị thu hồi đất mất
việc làm dẫn đến lãng phí nguồn lao động và tài nguyên đất đai... Việc chấp hành
các chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các địa phương chưa nghiêm, vẫn
còn tình trạng giao đất, cho thuê đất, chuyển quyền sử dụng đất không đúng với
quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt.
2.3. Giải pháp
Duy trì xu thế giảm sinh một cách hợp lý để giảm sức ép của việc gia tăng dân
số đến việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Điều hòa giữa áp lực
tăng dân số và tăng trưởng về kinh tế nhằm đáp ứng yêu cầu sử dụng đất bền vững.
Ưu tiên sử dụng đất tốt cho nông nghiệp, dành đất xấu (có khả năng sản xuất
thấp) cho các mục đích phi nông nghiệp. Quản lý hệ thống nông nghiệp nhằm đảm
bảo có sản phẩm tối đa về lâu dài, đồng thời duy trì độ phì nhiêu đất. Bảo đảm phát
triển tài nguyên rừng nhằm thỏa mãn nhu cầu về thương mại, chất đốt, xây dựng và
dân dụng mà không làm mất nguồn nước và thoái hóa đất.
Thực hiện chiến lược phát triển đa dạng, khai thác tổng hợp đa mục tiêu: nông
- lâm kết hợp, chăn nuôi dưới rừng, nông - lâm và chăn nuôi kết hợp, nông - lâm ngư kết hợp, nông lâm ngư mục kết hợp, nông ngư kết hợp... Quản lý lưu vực để
bảo vệ đất và nước, phát triển thủy lợi, giữ vững cân bằng sinh thái nhằm duy trì sự
tác động hỗ trợ lẫn nhau giữa đồng bằng và vùng đồi núi. Phát triển các cây lâu
năm có giá trị kinh tế, thương mại cao và góp phần bảo vệ đất trên vùng đất dốc
như: chè, cà-phê, cao-su, cây ăn quả. Áp dụng quy trình và công nghệ canh tác

thuật, giao đất, giao rừng, cho dân vay vốn phát triển sản xuất, thâm canh nhằm xóa
đói, giảm nghèo và bảo đảm an toàn lương thực. Phát động quần chúng làm công
tác bảo vệ đất. Đẩy mạnh hợp tác giữa các tổ chức trong nước, khu vực và quốc tế
trong việc thực hiện các chính sách, chương trình, dự án và kế hoạch hành động
bảo vệ và sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả và bền vững.
3. Kết luận
Đất đai là tài sản hàng đầu của một quốc gia, đó là tài sản của chúng ta hôm
nay và của các thế hệ mai sau. Con người đã và đang sử dụng đất chưa hiệu quả, có
nhiều tác động ảnh hưởng xấu đến môi trường đất, việc sử dụng đất theo hướng bền
vững, hiệu quả, sử dụng đi đôi với cải tạo đang là một mục tiêu của mỗi quốc gia
và là chiến lược quan trọng có tính toàn cầu. Tuy vẫn còn nhiều tác động gây hại
cho đất đai nhưng hiện nay con người đã có sự cảnh tỉnh và đang tìm ra các biện
pháp để sử dụng đất tốt hơn, hiệu quả hơn và bền vững.

MỤC LỤC
11


12




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status