Đường lối xây dựng và phát triển nền văn hóa của đảng cộng sản việt nam trong sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân giai đoạn 1930 1954 - Pdf 31

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu đề tài: “Đường lối xây dựng và phát triển
nền văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân giai đoạn 1930 – 1954”. Em xin bày tỏ lòng cảm
ơn chân thành nhất tới Tiến sĩ Khuất Thị Hoa – Người đã tận tình chỉ bảo,
giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn tới các thầy, cô trong trường Đại học sư
phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô trong khoa Lịch sử đã giúp đỡ em
trong suốt thời gian qua.
Em cũng xin bày tỏ lời cảm ơn tới gia đình cũng như bạn bè đã tạo điều
kiện và giúp đỡ em trong thời gian hoàn thành khóa luận.
Trong quá trình nghiên cứu, với điều kiện hạn chế về thời gian cũng
như kiến thức của bản thân nên khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót.
Kính mong sự chỉ bảo của các thầy cô cũng như các bạn sinh viên.

Hà Nội, ngày

tháng 5 năm 2013

Sinh viên

Nguyễn Thị Thuân


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan với đề tài: “Đường lối xây dựng và phát triển nền
văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân giai đoạn 1930 – 1954” là kết quả nghiên cứu của riêng
tôi dựa trên những kiến thức đã được học trong chuyên ngành Lịch sử Đảng
và các tài liệu tham khảo, đặc biệt dưới sự giúp đỡ của Tiến sĩ Khuất Thị

1.2.1. Giai đoạn 1930 – 1939....................................................................... 10
1.2.2. Giai đoạn 1939 – 1945....................................................................... 23

CHƯƠNG 2: ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN
VĂN HÓA CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG CUỘC
KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC
(1945-1954) ................................................................................................ 33
2.1. HOÀN CẢNH LỊCH SỬ CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM
SAU NĂM 1945 .......................................................................................... 33


2.2. ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA
KHÁNG CHIẾN – KIẾN QUỐC .............................................................. 36
2.3. QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN VÀ HIỆU QUẢ CHIẾN LƯỢC ........... 44
2.3.1. Quá trình thực hiện .......................................................................... 44
2.3.2. Hiệu quả chiến lược .......................................................................... 47

KẾT LUẬN ............................................................................................... 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................. 65


1

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Mỗi quốc gia dân tộc đều có bản sắc văn hóa (VH) riêng. Bản sắc VH
là sức mạnh nội tại của mỗi dân tộc, là nhân tố trường tồn cho sự phát triển
của đất nước. VH theo nghĩa đó chính là thẻ căn cước cho mỗi quốc gia.
Là một thành viên trong cộng đồng quốc tế, Việt Nam không thể không

Có thể nói, nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực VH là một
vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc nhằm chứng minh sự lãnh đạo
của Đảng toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội từ chính trị, kinh tế,
xã hội đến VH, quân sự, ngoại giao. Đồng thời khẳng định sự lãnh đạo của
Đảng đối với lĩnh vực phức tạp và tế nhị này là yêu cầu cấp bách để Việt Nam
hòa nhập mà không hòa tan.
Với ý nghĩa đó, bằng khả năng của mình, tôi chọn vấn đề “Đường lối
xây dựng và phát triển nền văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự
nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân giai đoạn 1930- 1954” làm khóa
luận tốt nghiệp chuyên ngành Lịch sử Đảng.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đường lối VH (ĐLVH) của Đảng là một vấn đề lớn được nhiều nhà
khoa học, các lãnh tụ của Đảng và Nhà nước nghiên cứu dưới những góc độ
khác nhau. Họ tập trung làm rõ khái niệm, bản chất cấu trúc, chức năng, nội
dung của VH; quan hệ giữa phát triển VH với phát triển kinh tế - xã hội,
chính trị - đạo đức pháp luật.
Trong số các công trình đã được xuất bản, đáng chú ý là:
+ 50 năm Đề cương văn hóa Việt Nam của trung tâm khoa học xã hội
và nhân văn quốc gia.
+ Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta của Giáo
sư Hoàng Vinh.


3

+ Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của ĐCSVN của Giáo sư, Tiến
sĩ Trần Văn Bính, NXBLLCT (2006).
+ Đường lối văn hóa văn nghệ của ĐCSVN của Phan Khanh, NXBVH
– TT (1995).
+ Đường lối văn hóa của ĐCSVN từ 1930 đến nay của Phó Giáo sư,

Nêu rõ quá trình lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực VH trong thời kỳ này.
Rút ra hiệu quả chiến lược.
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Đây là một vấn đề rộng lớn và rất phức tạp nên đề tài chỉ tập trung làm
rõ:
Sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển VH giai
đoạn 1930-1954.
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
Nguồn tư liệu được sử dụng chủ yếu trong khóa luận bao gồm:
- Các văn kiện của Đảng, Nghị quyết Hội nghị BCH TƯ, các nghị
quyết, chỉ thị của Trung ương Đảng.
- Các văn kiện của Nhà nước như Hiến Pháp, Pháp lệnh, các nghị
quyết, chỉ thị, nghị định, quyết định của chính phủ, Bộ Văn hóa Thông tin về
công tác VH.
- Một số sách, báo, tạp chí trong và ngoài nước đã xuất bản.
- Các công trình khoa học nghiên cứu về VH.
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng các phương pháp lịch sử và logic, phương pháp
phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp lịch đại và đồng đại.
5. Đóng góp của khóa luận
Hệ thống hóa các quan điểm, đường lối và khẳng định sự lãnh đạo của
Đảng trên lĩnh vực VH giai đoạn 1930 - 1954.


5

6. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
khóa luận gồm hai chương:

trình độ phát triển vật chất, tinh thần của xã hội loài người trong suốt quá
trình lịch sử.
Hai là, VH hiểu theo nội dung bao gồm cả khoa học, kỹ thuật, VH, nghệ
thuật, được hiểu theo nghĩa rộng nhất là giá trị của VH. Đó là toàn bộ những


7

giá trị vật chất và giá trị tinh thần mà loài người đã sáng tạo ra nhằm đáp ứng
nhu cầu sinh tồn, đồng thời cũng là mục đích cuộc sống của con người.
Ba là, VH đặt trong phạm vi nếp sống, lối sống, đạo đức xã hội.
Ngay từ năm 1943, khi còn trong nhà tù của chính quyền Tưởng Giới
Thạch, Hồ Chí Minh đã đưa ra định nghĩa VH của riêng mình: “Vì lẽ sinh tồn
cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo ra ngôn ngữ, chữ
viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công
cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn ở và các phương thức sử dụng. Toàn
bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là VH. VH là sự tổng hợp của mọi
phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra
nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Hội nghị
Quốc tế họp ở Mêhicô (từ 26/7 - 6/8/1982) với sự tham gia của những nhà
VH đại diện cho hơn 100 nước đã chấp nhận quan niệm: "Trong ý nghĩa rộng
nhất, VH là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và
xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội. VH bao gồm nghệ thuật và văn
chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống
giá trị, những tập tục và tín ngưỡng" [33, tr.41]. Định nghĩa của Hồ Chí Minh
có nhiều điểm gần với quan niệm hiện đại trên về VH và khắc phục được
quan niệm phiến diện về VH trong lịch sử và hiện tại, coi VH chỉ là lĩnh vực
văn học và nghệ thuật… Như vậy, VH là tổng hoà của mọi giá trị vật chất và
tinh thần của mọi con người cũng như của xã hội. Môi trường VH tác động
trực tiếp đến sự hình thành nhân cách, phát huy mọi năng lực sáng tạo, khả

Thập niên 20 của thế kỷ XX được xem như là giai đoạn đan xen giữa
nền VH thực dân, phong kiến với nền VH cách mạng đang định hình. Trong
thực tế đã diễn ra một cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng – văn hóa. Chính
quyền thực dân phong kiến sử dụng VH để quảng bá cho mục đích xâm lược
của chúng. Báo chí thực dân tung ra những bài viết bôi nhọ chủ nghĩa cộng
sản. Giới thượng lưu thân Pháp lập ra Hội Khai trí Tiến Đức, Phạm Quỳnh thì
xuất bản Nam Phong tạp chí, thực hiện chủ trương “Pháp – Việt đề huề”.


9

Ngoài ra có thể kể đến Thực nghiệm dân báo của Nguyễn Hữu Thu, Khai hóa
nhật báo của Bạch Thái Bưởi.
Đáng chú ý là nền VH mới tiến bộ, cách mạng đang định hình, thể hiện
một sức sống mãnh liệt trên thế thắng. Khởi đầu cho nền VH mới ấy là dòng
sách báo tiến bộ với tờ Chuông rạn và Nước Nam của Nguyễn An Ninh và
Phan Văn Trường. Ở một số thành phố lớn đã xuất hiện các thư xã (Nhà xuất
bản). Một số tác phẩm văn học chứa đựng những yếu tố tiến bộ, nhân văn
được công bố: Chén thuốc độc (1922 – kịch của Vũ Đình Long), Tố Tâm
(1925 – tiểu thuyết của Hoàng Ngọc Phách)… phê phán xã hội đương thời, lễ
giáo phong kiến trói buộc con người, ít nhiều công khai bộc lộ tình cảm yêu
nước thương nòi. Điều đặc biệt là những hoạt động về văn hóa ở người ngoài
của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với các tác phẩm tiêu biểu như báo Le Paria;
Bản án chế độ thực dân Pháp; báo Thanh niên và tác phẩm Đường Cách
mệnh. Những tác phẩm được truyền bá về nước đã tuyên truyền, phổ biến tư
tưởng yêu nước, tiến bộ, tư tưởng cộng sản để giác ngộ nhân dân, tập hợp lực
lượng, dấy lên phong trào yêu nước từ Bắc chí Nam. Trong khi giai cấp tư sản
Việt Nam với những tiếng nói yếu ớt, hoạt động rời rạc, thì giai cấp vô sản và
đồng minh của họ đã và đang ngày càng thể hiện vai trò tiên phong trên vũ
đài chính trị, trên mặt trận VH, từng bước khẳng định vị thế người chủ tương

vạch ra đường lối, nhiệm vụ chính trị đúng đắn, sáng tạo, cơ bản khắc phục
được sự khủng hoảng về con đường cứu nước trong suốt một thời gian dài.
Lần đầu tiên cách mạng Việt Nam có một lực lượng dẫn dắt, chỉ lối soi
đường, được trang bị chủ nghĩa Mác – Lênin, học thuyết về giải phóng loài
người, chứa đựng những tư tưởng tiến bộ, nhân văn nhất của thời đại.
Cương lĩnh nêu lên chủ trương tiến hành tư sản dân quyền cách mạng
và thổ địa cách mạng để đi tới xã hôi cộng sản. Điều đó cũng có nghĩa là tiến
hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên xây dựng chủ nghĩa cộng
sản ở Việt Nam. Đây là một tư tưởng không chỉ có ý nghĩa nhất thời, mà là


11

xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam, bởi vì suy đến cùng, quá trình
cách mạng Việt Nam chính là quá trình phấn đấu để thực hiện chủ nghĩa cộng
sản trên đất nước ta. Để thực hiện cuộc cách mạng đó, trước hết phải đánh đổ
chính quyền của bọn thực dân phong kiến, giành lại độc lập dân tộc, xây dựng
một nhà nước kiểu mới – nhà nước của công – nông – binh. Đó là đường lối,
nhiệm vụ chính trị, nhưng cũng đồng thời là đường lối, nhiệm vụ của VH, bởi
vì từ xưa tới nay, không có nền VH tiến bộ nào lại đứng ngoài chính trị. Đối
với dân tộc Việt Nam lúc đó giá trị cao nhất của VH là giải phóng dân tộc.
Tháng 10 – 1930, trong bối cảnh phong trào cách mạng diễn ra sôi nổi
khắp cả nước, Ban chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng đã thông qua
Luận cương chính trị, xác định giai cấp vô sản và nông dân là hai lực lượng
chính của cách mạng Việt Nam và Việt Nam đã bỏ qua thời kỳ tư bản chủ
nghĩa phát triển tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đó là tư tưởng mang tầm chiến
lược, góp phần quan trọng vào kho tàng lý luận của cách mạng Việt Nam.
ĐLVH của Đảng thống nhất với đường lối đấu tranh cách mạng giải
phóng dân tộc do Đảng lãnh đạo, nên mục tiêu của sự nghiệp đấu tranh đó suy
đến cùng cũng là mục tiêu của nền VH tiến bộ. Vì thế Đảng đề ra mục tiêu

cách mạng đang lên hay lâm vào thoái trào, công tác tư tưởng phải luôn được
đặt lên hàng đầu. Thực tế lúc bấy giờ số đông nhân dân ta, nhất là giới trí thức
tư sản và tiểu tư sản chưa hiểu đầy đủ, chính xác về chủ nghĩa cộng sản, về
nhân sinh quan, thế giới quan, về VH văn nghệ. Trong án nghị quyết của
Trung ương toàn thể Hội nghị lần thứ hai (tháng 3 – 1931), Đảng đã thẳng
thắn và nghiêm khắc chỉ ra những khuyết điểm trong lĩnh vực này, đó là các
cấp ủy Đảng chưa chú ý đúng mức tới việc xây dựng một nền tư tưởng
Bônsêvich vững bền, chống lại những tư tưởng sai lầm, báo chí vẫn còn kém
về tư tưởng, số người viết còn ít, phần đông Đảng viên không tham gia vào
việc viết báo, không có phóng viên ở nhà máy và ở làng quê… Án nghị quyết
cũng chỉ rõ báo chí của Đảng mới chỉ chủ yếu phát hành trong Đảng, trong


13

công hội và nông hội, rất ít đến với quần chúng, trong các báo việc giải thích
các khẩu hiệu và đường lối của Đảng nhiều khi không rõ ràng, cách viết chưa
phổ thông và khó hiểu…
Vì sao phải chỉ ra những khuyết điểm cụ thể như vậy? Bởi vì vai trò
của công tác tư tưởng – văn hóa là vô cùng quan trọng, trong khi Đảng mới
thành lập, trình độ lý luận của Đảng còn thấp kém, nên tư tưởng vẫn còn chưa
vững bền. Vậy nên tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin trong Đảng và trong
quần chúng vô sản là một việc rất cần kíp để nâng cao trình độ lý luận của
đảng viên, gây dựng một nền tư tưởng vô sản trong Đảng và trong quần chúng
vô sản, đào tạo ra một lớp nhân tài vô sản cho Đảng.
Như vậy, theo quan điểm của Đảng, công tác tư tưởng – văn hóa phải
đào tạo ra lớp nhân tài cho Đảng, nghĩa là phải xây dựng và hoàn thiện con
người mới. Đây là một quan điểm rất đáng chú ý, bởi nó được xác định cách
đây hơn 75 năm, nhưng đến nay vẫn còn như rất mới đối với việc xây dựng
nền văn hóa Việt Nam hiện đại.

nhân viên lãnh đạo Đảng Cộng sản... đã nêu lên. Xây dựng phải đi đôi với
chống, công tác tư tưởng của VH phải có tính chiến đấu cao. Trong lúc cách
mạng lâm vào thoái trào, bọn thực dân phong kiến cũng tìm đủ mọi thủ đoạn
để xuyên tạc, bôi nhọ Đảng Cộng sản và chính quyền cách mạng… Trong bối
cảnh như vậy, công tác tư tưởng VH phải trở thành một thứ vũ khí sắc bén để
bảo vệ Đảng, bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, thức tỉnh quần chúng cách
mạng… Nghị quyết Hội nghị các nhân viên lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông
Dương ở hải ngoại và các đại biểu các đảng bộ trong nước (6 – 1934) đã đặt
ra nhiệm vụ “phê bình thiên hướng sai lệch trong Đảng, lột mặt nạ bọn quốc
gia cải lương, bọn tờ-rốt-kít” [4, tr.196], phê bình thứ VH phi vô sản, phi
nhân tính… Nghị quyết chính trị của đại biểu Đại hội lần thứ nhất từ ngày 27
đến 31 tháng 3 năm 1935 của Đảng Cộng sản Đông Dương đặt vấn đề phải
đấu tranh cho sự trong sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, cho sự thống nhất về


15

lý luận trong Đảng. Từ năm 1932 đến 1935, những người cộng sản hoạt động
hợp pháp đã sử dụng báo chí công khai để tiến hành đấu tranh chống lại các
quan điểm chính trị, triết học, văn học nghệ thuật tư sản, nô dịch, tiêu biểu là
các cuộc tranh luận “Duy vật hay duy tâm”, “Nghệ thuật vị nghệ thuật hay
nghệ thuật vị nhân sinh” trên hàng loạt các tờ báo lúc bấy giờ như Phụ nữ thời
đàm, Đời mới, Ánh sáng... Về vấn đề này, từ 1933, trên báo Đông Phương số
872 ra ngày 12 – 8 và số 873, ra ngày 19 – 08, Hải Triều – một nhà lý luận
xuất sắc của Đảng, sau khi phê phán thứ VH nghệ thuật “lông bông”, đã có ý
kiến xác đáng: “Văn học là cái biểu hiện của nhân sinh, không biểu hiện được
nhân sinh thì không thành ra văn học được. Vì thế nên văn học phải bị nền
kinh tế của xã hội chi phối một cách trực tiếp và sâu sắc… Văn học là cái sản
vất cuối cùng của xã hội, cho nên cũng phải tùy theo cái cơ bản của xã hội mà
biến đổi, mà mất còn…”. Trên tiểu thuyết thứ bảy số 38, ra ngày 16 – 2 –

Triệt để tranh thủ thuận lợi, đẩy mạnh việc xuất bản, phổ biến sách báo
vô sản tiến bộ.
Sau cao trào Xô viết - Nghệ Tĩnh, chính quyền thực dân phong kiến bắt
bớ, đàn áp dã man lực lượng cách mạng, các quyền tự do của nhân dân bị bóp
nghẹt, báo chí cách mạng bị cấm xuất bản, bầu không khí của xã hội vô cùng
ngột ngạt. Đồng thời chúng ra sức xuyên tạc chủ nghĩa cộng sản và văn hóa
vô sản. Vì vậy không phải ai cũng tiếp cận được với lý luận Mác – Lênin, chủ
trương, đường lối của Đảng và nền VH vô sản.
Với những thuận lợi khách quan (những cải cách tiến bộ ở thuộc địa)
và chủ quan (phong trào cách mạng đã và đang được phục hồi, những bài học
kinh nghiệm của thời kỳ 1930 – 1935), Đảng chủ trương tung ra cả một rừng
sách báo cách mạng từ Bắc chí Nam, bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp.
Chủ trương của Đảng là rất cụ thể, xác đáng, khắc phục được tình trạng
chung chung trước đây. Thông cáo ngày 20 – 3 – 1937 của Trung ương Đảng
Cộng sản Đông Dương chỉ rõ:


17

“- Các cấp bộ đảng phải khuyến khích những người cảm tình đứng tên
ra xin Chính phủ cho phép xuất bản những tờ báo công khai.
- Mỗi một chi bộ phải lập một chỗ “bình dân thư xã” hay có một cơ
quan tương đương để mua những sách báo công khai về làm tài liệu nghiên
cứu. Các cấp đảng bộ, các đồng chí ta nên cổ động quần chúng mua cho
nhiều, Đảng sẽ giới thiệu những sách nên mua và sẽ phê bình những quyển
sách ấy.
- Các đảng bộ nên lấy một số đồng chí có thể viết được văn trôi chảy để
viết ra những quyển sách công khai làm tài liệu tuyên truyền, chia nhau viết
bài đăng trong các báo công khai để gây ra dư luận”.
Trong những năm đầu của thời kỳ Mặt trận dân chủ, về đường lối tư

chính quần chúng nhân dân. Lúc này, chống các biểu hiện chia rẽ, âm mưu
phá hoại, phản động, chống các luận điệu của bọn tờ-rốt-kít, nâng cao giác
ngộ của nhân dân phải được chú trọng.
Nghị quyết của toàn thể Hội nghị Đảng bộ Bắc Kỳ (8 – 1939) nhấn
mạnh: “Tờ báo công khai hiện giờ sẽ phải làm cho nó trở nên hoàn toàn một
cơ quan dân chủ hợp với đa số nhân dân, phải chú ý thêm đến quyền lợi các
lớp tiểu tư sản, nhất là các viên chức, viết những bài điều tra phóng sự linh
hoạt về đời sống của họ và mở thêm những lĩnh vực văn chương, khoa học,
kịch ảnh. Các đồng chí nên biết lợi dụng những sách báo công khai để tuyên
truyền và tổ chức quần chúng”[14, tr.310-311].
Tuyên truyền tư tưởng - VH bằng sách, báo công khai là rất quan trọng,
nhưng tỷ lệ người mù chữ lúc bấy giờ tới hơn 90% dân số, nên trong chừng
mực nhất định, hiệu quả chưa được như mong muốn. Vì vậy phải vận dụng
ngay cách tuyên truyền thường thấy của VH dân gian, tuyên truyền miệng,
đồng thời đa dạng hóa cách thức tuyên truyền để đường lối của Đảng đến với
quần chúng đông đảo: truyền đơn, biểu ngữ, tranh vẽ, thi ca… Đó là một
trong những vấn đề được đặt ra trong Nghị quyết của Ban Thường vụ Trung
ương Đảng (họp ngày 6, 7/11/1939).


19

Về báo chí lúc đó có thể kể tới: Nhành lúa, Dân, Tiếng vang, Kiến Văn,
Đời nay, Tin Tức, Mới…, về sách có thể kể tới: Duy tâm hay duy vật, Văn sĩ
xã hội (của Hải Triều), Côn Lôn ký sự - đăng báo (của Trần Huy Liệu)…
Với số lượng sách báo khổng lồ ấy, Đảng cùng các nhà VH mác xít,
tiến bộ đã tấn công một cách mạnh mẽ và tương đối toàn diện vào tư tưởng –
VH nô dịch phản động, VH tiêu cực tư sản, đồng thời khuyến khích các xu
hướng tiến bộ, giới thiệu về chủ nghĩa cộng sản và VH vô sản. Cuộc đấu tranh
của các nhà VH mác xít chống lại quan điểm VH, nghệ thuật tiêu cực tư sản

Từ thực tiễn VH Xô viết, Trần Đình Long nhận thấy “Trong cái đám
quần chúng mà bọn tư sản khinh miệt trước kia, bây giờ khôi phục lại nền văn
hóa đã nảy nở được rất nhiều nhân tài, trí thức. Đã nhiều những anh chị thợ từ
chỗ nhà máy nóng nực nhem nhuốc trở nên những văn sĩ, thi sĩ, nhà viết báo
đại tài…”. Trong nhiều cái ưu việt của VH vô sản ở Liên bang Xô viết, Trần
Đình Long rất tâm đắc với vấn đề địa vị và tự do của giới văn nghệ sĩ – chiến
sĩ. Cách mạng vô sản đã giải phóng cho giới văn nghệ sĩ, tôn trọng tự do sáng
tác và các hoạt động khác của họ, miễn là không đi ngược lại với quyền lợi
của nhân dân. Nhưng văn nghệ sĩ vô sản không chỉ biết phục vụ cho dân tộc
mình mà còn phải phục vụ cho nhân loại tiến bộ. Nền VH vô sản bao giờ
cũng gắn liền với tên tuổi, sự nghiệp của những nhà VH vô sản. Báo Hồn trẻ
số 5 ra ngày 4 – 7 – 1936 đã đăng bài “Một cái tang của nhân loại: M.Gorki,
nhà đại văn hào của Liên bang Xô viết và của thế giới đã qua đời” của Hải
Triều và Hải Thanh. Trong bài viết này, các tác giả đã xem M.Gorki là “anh
thợ tiên phong của nền văn hóa mới, ông thấy tinh thần nhân loại tương lai”,
“nhà chỉ huy cả cái trào lưu văn nghệ trong nước và cả thế giới vô sản”.
Trong điều kiện lúc đó còn thiếu thông tin nhưng các tác giả Hải Triều và Hải
Thanh đã có được một cách nhìn nhận khá sâu sắc về vai trò, sự đóng góp của
M.Gorki với VH Xô viết và VH nhân loại, có ý nghĩa tích cực trong việc định
hướng xây dựng nền VH mới, cổ vũ các nhà hoạt động VH vô sản, tiến bộ ở


21

Việt Nam. Trong bài “Rô-manh Rô-lăng” đăng trên báo Hồn trẻ số 6 ra ngày
11-7-1936, Hải Triều thấy cả thế giới trong một con người. Nhà VH vô sản ấy
theo con mắt của Hải Triều là có một quả tim hàng ngày rung động theo
những tiếng kêu thương sầu khổ của cả một nhân loại bị giày xéo dưới gót sắt
của bao chế độ bạo ngược, tham tàn của bọn quân phiệt và phát xít. Đó là nhà
văn của quần chúng lao khổ, của chủ nghĩa nhân đạo chân chính. Hải Triều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status