Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa Sinh - KTNN
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế giới sinh vật đất vô cùng đa dạng và phong phú. Ở đây, ta có thể
gặp hầu hết các đại diện của ngành động vật không xương sống và một số đại
diện của động vật có xương sống.
Ngay từ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, các nhà động vật học, thổ
nhưỡng học, sinh thái học đã đặc biệt quan tâm đến các hoạt động tạo đất của
các nhóm sinh vật sống trong môi trường này. Tuy nhiên chỉ đến những năm
40-50 của thế kỉ XX, nghiên cứu các nhóm sinh vật đất cùng các hoạt động
sống của chúng trong mối quan hệ chặt chẽ với môi trường đất mới thực sự
trở thành bộ môn khoa học riêng biệt, đó là khoa học Sinh thái đất. Ngày nay,
số lượng nghiên cứu của các công trình này ngày càng đa dạng, ngay trong
phòng thí nghiệm và ứng dụng thực tiễn.
Trong hệ thống động vật đất, nhóm Chân khớp bé (Microarthropoda),
với kích thước cơ thể khoảng 0,1 – 0,2 mm đến 2,0 – 3,0 mm thường chiếm
ưu thế về số lượng. Hai đại diện chính của nhóm này là Ve bét (Acari) và Bọ
nhảy (Collembola), ngoài ra còn có các đại diện thuộc các nhóm động vật
không xương sống khác[5].
Ve giáp (Acari: Oribatida, còn gọi là Oribatei hoặc Cryptostigmata) là
những chân khớp có kìm, kích thước cơ thể khoảng 0,1 – 0,2 mm đến 1,0 –
2,0 mm. Chúng tham gia tích cực vào sự phân hủy vật chất hữu cơ, chu trình
nitơ và quá trình tạo đất. Chúng ăn cả thực vật sống và chết, nấm, rêu, địa y,
thịt thối rữa. Do mật độ quần thể lớn, có thể đạt tới vài trăm nghìn cá thể
trong một mét vuông đất, thành phần loài đa dạng nên việc nghiên cứu đầy đủ
nhóm động vật này sẽ góp phần làm chủ nguồn tài nguyên đa dạng sinh học,
đánh giá đặc điểm khu hệ và tính chất địa động vật[5].
Vườn quốc gia Tam Đảo là một trong 30 vườn quốc gia của Việt Nam,
2
Bùi Như Quỳnh
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa Sinh - KTNN
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu ve giáp (Acari: Oribatida) trên thế giới
Trên thế giới, các nhóm động vật không xương sống nói chung và
Oribatida nói riêng đã được nghiên cứu từ rất lâu, cách đây hàng trăm năm. Ở
Đức với công trình của Hermann J.F năm 1804; ở Ý là công trình của
Canestrini G. & Fanzago F. năm 1876, 1877.
Khu hệ ve giáp trên thế giới hiện đã mô tả khoảng 10000 loài và thực tế
có thể lên đến 100000 loài. Theo Balogh J. và Balogh B. (1992), số lượng
giống ve giáp trên thế giới đã tăng từ 700 giống đến 1000 giống chỉ trong 20
năm gần đây[14]. Hàng năm, các loài ve giáp mới vẫn được mô tả đều đặn. Ở
Bắc Mỹ, khoảng 75% số loài của khu hệ ve giáp còn chưa được mô tả
(Bechan - Pelletier et al., 1993) [16].
Trong các công trình nghiên cứu về Acari trước đây, các công trình của
Berlese đóng một vai trò quan trọng và có một vị trí đặc biệt. Ông là một
trong những người quan tâm đến ve giáp đầu tiên. Từ năm 1881 đến năm
1923, ông đã mô tả khoảng 120 loài Oribatida. (Hammen L.Van Der, 2009).
Ở Canada, khu hệ ve giáp là một trong những khu hệ được nghiên cứu
khá kỹ. Theo Behan – Pelletier et al., 2000, mặc dù các dẫn liệu về sinh thái,
phân bố của chúng có nhiều, nhưng về khu hệ, số loài được biết chỉ chiếm 1/4
số loài có trong thực tế [17].
giả, Oribatida là một trong những nhóm Chân khớp chiếm ưu thế về số lượng
trong đất treo. Từ sinh cảnh này thu được không ít hơn 50 loài. Độ đa dạng
loài Oribatida ở đất treo có thể thấp hơn so với khu hệ Oribatida ở đất rừng
(Karasawa, 2004) [18].
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về vai trò chỉ thị sinh học của
Oribatida theo các hướng: chỉ thị cho chất lượng đất ở mức độ loài hay quần
xã, chỉ thị cho thuốc trừ sâu, phân bón... sử dụng trong sản xuất nông nghiệp,
chỉ thị cho môi trường đô thị...
Những lợi thế của Oribatida khi sử dụng chúng như những sinh vật chỉ
thị trong việc đánh giá chất lượng hệ sinh thái trên cạn là ở chỗ: chúng có độ
đa dạng cao, thu lượm với số lượng lớn một cách dễ dàng, ở tất cả các mùa
trong năm, trong nhiều sinh cảnh; việc định loại cá thể trưởng thành tương đối
dễ; hầu hết chúng sống trong tầng hữu cơ của lớp đất màu mỡ và chúng là
nhóm dinh dưỡng không đồng nhất. Chúng bao gồm các taxon được đặc trưng
bởi sự sinh sản nhanh, thời gian sinh sống của các con non và con trưởng
thành dài, khả năng tăng quần thể chậm... (Behan – Pelletire, 1999) [15].
Khóa luận tốt nghiệp
4
Bùi Như Quỳnh
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa Sinh - KTNN
Một số nghiên cứu sơ bộ về chỉ thị sinh học trong môi trường đô thị
cũng cho thấy Oribatida là nhóm động vật nhạy cảm với sự thay đổi chất
Bùi Như Quỳnh
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa Sinh - KTNN
Vũ Quang Mạnh, Cao Văn Thuật (1990) xác định được 24 loài
Oribatida ở vùng đồi núi đông bắc Việt Nam khi tiến hành nghiên cứu cấu
trúc định lượng của nhóm Microarthropoda ở 7 kiểu sinh thái, ở 5 dải độ cao
khí hậu và 3 loại đất. Theo 2 tác giả này, trong nhóm Microarthropoda,
Oibatida luôn chiếm số lượng chủ yếu từ 70 – 80% tổng số lượng, còn nhóm
Collembola chỉ chiếm 10% [9].
Vũ Quang Mạnh, Vương Thị Hòa (1995) đã giới thiệu danh sách 146
loài và phân loài Oribatida ở Việt Nam và phân tích đặc điểm thành phần loài
của chúng [7].
Nhìn chung những nghiên cứu về ve giáp ở Việt Nam đã đề cập một
cách toàn diện và có hệ thống với kết quả cao. Tuy nhiên các kết quả đạt được
mới chỉ là những bước đi định hướng ban đầu. Để tìm hiểu thấu đáo vai trò
của nhóm ve giáp sống trong môi trường đất và để đưa nhóm này ứng dụng
vào lĩnh vực khoa học và thực tiễn thì việc nghiên cứu ve giáp cần được đẩy
mạnh nghiên cứu trong những năm tiếp theo.
Khóa luận tốt nghiệp
6
Bùi Như Quỳnh
ở mỗi điểm nghiên cứu. Mỗi mẫu được cho vào 1 túi nilon riêng được buộc
Khóa luận tốt nghiệp
7
Bùi Như Quỳnh
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa Sinh - KTNN
chặt, bên trong có chứa nhãn ghi đầy đủ các thông số: tầng phân bố, ngày
tháng, địa điểm… thu mẫu.
Bảng 2.1 Số lượng mẫu theo từng tầng nghiên cứu
Tầng phân bố
Số lượng mẫu
A1(0-10cm)
6
A2 (11-20cm)
6
L (10x10cm)
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa Sinh - KTNN
bộ chúng thành nhóm có hình thù giống nhau riêng. Đặt lamel ở bên trái lam
kính sao cho chỉ phủ một phần chỗ lõm. Nếu dung dịch axit nhỏ vào chỗ lõm
dưới lamel chưa đầy cần bổ sung cho đầy. Dùng kim chuyển từng Oribatida
vào chỗ lõm dưới lamel để quan sát ở các tư thế khác nhau theo hướng lưng
và bụng và ngược lại. Khi mẫu ở đúng tư thế quan sát, ta chuyển sang kính
hiển vi.
Sau khi định loại xong, các loài được đo kích thước và chụp ảnh. Tất cả
các cá thể cùng một loài để chung vào một ống nghiệm, dùng dung dịch định
hình bằng formol 4%. Dùng giấy can ghi các thông số tên loài cần thiết bằng
bút chì rồi nút bằng bông không thấm nước; tất cả các ống nghiệm được đặt
chung vào lọ thủy tinh lớn chứa formol 4% để bảo quản lâu dài. Ghi tất cả các
tên loài đã được định loại vào nhật ký phòng thí nghiệm.
Danh sách các loài Oribatida được sắp xếp theo hệ thống cây chủng loại
phát sinh dựa theo hệ thống phân loại của Balogh J. và Balogh P., 1992. Các
loài trong một giống được sắp xếp theo vần a, b, c. Định loại tên loài theo các
tài liệu phân loại, các khóa định loại của tác giả: Vũ Quang Mạnh, 2007 [6].
Tất cả các mẫu Oribatida sau khi đã phân tích, xử lý và định loại đều
được TS. Đào Duy Trinh kiểm định lại.
2.5. Xử lý số liệu
Sử dụng phương pháp thống kê trong tính toán và xử lý số liệu, trên
nền phần mềm Primer, 2001 [21]; phần mềm Excell 2003.
Các công thức tính:
- Số lượng loài:
Số lượng loài được tính bằng tổng số loài có mặt trong điểm nghiên
s - số lượng loài;
ni - số lượng cá thể của loài thứ i
N – tổng số lượng cá thể trong sinh cảnh nghiên cứu.
Giá trị H’ dao động trong khoảng từ 0 đến ∞
Chỉ số (H’): được sử dụng để tính sự đa dạng loài hay số lượng loài
trong quần xã và tính đồng đều về sự phong phú cá thể của các loài trong
quần xã.
- Chỉ số đồng đều Pielou (J’)
J’=
H'
ln S
Trong đó: H’ – chỉ số đa dạng loài
S - số loài có trong sinh cảnh
Giá trị J’ dao động trong khoảng từ 0 đến 1
- Độ ưu thế D
Trong đó:
D : độ ưu thế
na: số lượng cá thể của loài a
n : tổng số cá thể của toàn bộ mẫu theo sinh cảnh hay
địa điểm
nằm cuối hệ thống núi hình cánh cung thượng nguồn sông Chảy. Bắt đầu từ
dãy Tam Đảo, độ cao địa hình giảm dần hình thành các đồi gò vùng trung du
và đồng bằng Bắc Bộ. Tam Đảo là dãy núi có cấu tạo địa hình đồ sộ và bị
phân cắt mạnh, sườn dốc. Độ dốc trung bình 26-350, có nơi trên 350 nên rất
hiểm trở, khó đi lại. Các khối núi có đặc điểm chung là đỉnh nhọn, độ chia cắt
sâu và dầy. Đỉnh cao nhất là đỉnh Tam Đảo Bắc (Tamdao North), cao 1592m,
là điểm ranh giới của ba tỉnh: Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tuyên Quang.
Ngoài ra, trong khu vực còn có 3 đỉnh cao khác là: Thiên Thị (Rùng Rình)
1375m; Thạch Bàn 1388m và Phù Nghĩa cao 1300m. Về mùa đông, khi trời
nhiều mây, trông 3 đỉnh núi này như 3 hòn đảo lớn nổi trên biển mây trắng
nên được gọi là "Tam Đảo". Nằm sát với 3 đỉnh núi này là khu nghỉ mát Tam
Khóa luận tốt nghiệp
11
Bùi Như Quỳnh
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa Sinh - KTNN
Đảo, ở độ cao 900m, là khu du lịch nổi tiếng trong và ngoài nước với dịch vụ
nghỉ ngơi, giao thông thuận lợi.
Dựa vào độ cao, địa hình và địa mạo có thể chia Tam Đảo thành 4
dạng địa hình chính:
+ Thung lũng và đồng bằng ven sông suối: Phân bố rải rác dưới chân
các dãy núi, ven sông suối, độ cao tuyệt đối dưới 100m, độ dốc nhỏ
hơn 70.
+ Đồi cao trung bình: Phân bố xung quanh chân núi và tiếp giáp với
- Thủy văn: Trong khu vực có 2 hệ thống sông chính: sông Phó Đáy ở
phía tây và sông Công ở phía đông. Hầu hết các suối chính của Tam Đảo đều
đổ vào hai con sông này. Hệ thống suối dày đặc, ngắn và dốc. Do độ dốc lớn
nên lưu lượng nước chênh lệch lớn giữa mùa khô và mùa mưa. Lũ lớn thường
sảy ra từ tháng 4-10 (tập trung vào tháng 8), nước dâng nhanh và rút nhanh.
Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, phần lớn suối nhỏ cạn nước, gây
khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt của người dân. Trong khu vực có một số
hồ nước lớn: Xạ Hương, Khôi Kỳ, Ninh Lai, Hồ Sơn có khả năng phục vụ
tưới tiêu cho khu vực.
Nhìn chung, điều kiện khí hậu, thuỷ văn khu vực thuận lợi cho sinh
trưởng, phát triển của các loài động thực vật rừng và sản xuất nông nghiệp.
- Địa chất
Dãy núi Tam Đảo được cấu tạo chủ yếu bằng hệ tầng phún trào axid
gồm các lớp Rionit, Daxit kết tinh xen kẽ nhau, tuổi địa chất khoảng trên 260
triệu năm. Trong quá trình vận động tạo sơn đã tạo ra những khoáng sản quý
có nguồn gốc nội sinh như: Thiếc, Wolfram...phân bố ở phía bắc Tam Đảo.
- Hệ thực vật và động vật
+ Hệ thực vật
Theo kết quả điều tra từ 1997-2000, đã ghi nhận được tại vườn quốc
gia Tam Đảo 1282 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 660 chi, 179 họ.
Trong số 1282 loài thực vật được phát hiện tại Tam Đảo có 66 loài cây quý
hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam: trầm hương, kim tuyến, trầu tiên, vù
hương, đỗ trọng bắc, sưa bắc bộ, vàng tâm, đinh hương, kim giao vv. Đặc
biệt, trong số đó có 42 loài thực vật được coi là đặc hữu của vườn quốc gia
Tam Đảo (nguồn: Các VQG Việt Nam, 2001).
Mặc dù đây mới chỉ là những ghi nhận bước đầu, chắc chắn trong
tương lai sẽ còn nhiều loài được phát hiện tại khu vực, nhưng số liệu trên cho
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Sinh - KTNN
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1. Thành phần loài ve giáp ở rừng tự nhiên của vườn quốc gia Tam Đảo
3.1.1. Danh sách loài ve giáp tại rừng tự nhiên ở vườn quốc gia Tam
Đảo
Đã ghi nhận được 45 loài thuộc 28 giống và 20 họ (Bảng 3.1). Trong
danh sách này, thành phần loài Oribatida được xếp theo hệ thống phân loại
của Balogh J. et al., 1992; Vũ Quang Mạnh, 2007 [6], [14].
Bảng 3.1. Thành phần ve giáp ở sinh cảnh rừng tự nhiên vườn quốc gia
Tam Đảo – Vĩnh Phúc
Tầng phân bố
STT
Thành phần
R
I
L
A1
x
x
A2
6 Papilacarus arboriseta Vu et Jeleva,
7 1987
Papilacarus sp.
Khóa luận tốt nghiệp
x
x
15
Bùi Như Quỳnh
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa Sinh - KTNN
8 Papilacarus undrirostratus Aoki, 1964
III
x
EPILOHMANNIIDAE OUDEMANS,
1923
Giống Epilohmannia Berlese, 1910
9 Epilohmannia cylindrica (Berlese, 1904)
IV
x
x
HERMANNIIDAE SELLNICK, 1928
Giống Phyllhermannia Berlese, 1916
14 Phyllhermannia gladiata Aoki, 1965
15 Phyllhermannia similis
VIII
x
Balogh et
x
x
Mahunka, 1967
CEPHEIDAE BERLESE, 1896
Giống
Sphodrocepheus
Woolley
et
18 Microtegeus reticulatus Aoki, 1965
X
x
x
x
x
x
x
x
x
ASTEGISTIDAE BALOGH, 1961
Giống Cultroribula Berlese, 1908
19 Cultroribula lata Aoki, 1961
x
20 Cultroribula sp.
XI
PELOPPIIDAE BALOGH, 1943
Giống Furcoppia Balogh et Mahunka,
x
Balogh
et Mahunka,Balogh
1967 et
25 discrepans
Acrotocepheus
triplicornutus
x
x
x
x
x
x
x
x
Mahunka,
1967
Giống Dolicheremaeus
Jacot, 1938
26 Dolicheremaeus
EREMELLIDAE
Khóa luận tốt nghiệp
17
Bùi Như Quỳnh
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa Sinh - KTNN
Giống Eremella Berlese, 1913
29 Eremella vestita Berlese, 1913
x
30 Eremella sp.
XV
x
x
x
x
x
BALOGH,
1984
Giống Brasilobates
Pérez-Inigo
et
1980maximus Mahunka, 1988
35 Baggio,
Brasilobates
x
Giống Perxylobates Hammer, 1972
36 Perxylobates brevisetus Mahunka, 1988
x
37 Perxylobates
et
x
1968)
38 Mahunka,
Perxylobates
vietnamensis (Jeleva et Vu,
41 Liebstadia humerata Sellnick, 1928
XIX
HAPLOZETIDAE
x
x
x
x
x
x
GRANDJEAN,
1936
Giống Peloribates Berlese, 1908
42 Peloribates pseudoporosus Balogh et
x
x
Mahunka,
1967 Sellnick, 1925
Giống Rostrozetes
A1: đất (0-10cm)
L: lá (20cmx20cm)
A2: đất (11-20cm)
Trong tổng số 45 loài ghi nhận được ở sinh cảnh rừng tự nhiên vườn
quốc gia Tam Đảo có 38 loài đã xác định được về tên, còn 7 loài chưa định
tên gồm: Rostrozetes sp.; Unguizetes sp.; Eremella sp.; Cultroribula sp.;
Sphodrocepheus sp.; Archegozetes sp.; Papilacarus sp.. Các loài Ve giáp có
mặt ở tất cả các dạng sinh cảnh nghiên cứu: Peloribates pseudoporosus
Balogh et Mahunka, 1967; Eremella vestita Berlese, 1913; Cultroribula lata
Aoki, 1961. Thành phần loài của các sinh cảnh khác nhau thì khác nhau. Tầng
L có nhiều loài nhất với 31 loài (chiếm 68,89% tổng số loài), tầng A1 có 20
Khóa luận tốt nghiệp
19
Bùi Như Quỳnh
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa Sinh - KTNN
loài (chiếm 44,44% tổng số loài), tầng A2 có 15 loài (chiếm 33,33% tổng số
loài), tầng R có ít loài nhất với 11 loài (chiếm 224,44% tổng số loài).
3.1.2. Thành phần phân loại học của ve giáp tại rừng tự nhiên của vườn
quốc gia Tam Đảo
3
Epilphmanniidae
Tổng
tên
tên
số
khoa
khoa
1
1
Đã
định
giống định
1
3
Chưa
Khóa luận tốt nghiệp
20
Bùi Như Quỳnh
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
4
Nothridae Berlese, 1896
1
TrhypochthonidaeWillmann,
5
1931
Nanhermanniidae Sellnick,
6
1928
Hermanniidae
7
1
2
2
4,44
3,57
1
2
4,44
3,57
1
1
2,22
3,57
1
2
1
1
1
2,22
3,57
2
2
2
4,44
7,14
5
5
11,11
7,14
1
10,71
1
1
1
2,22
3,57
12
Carabodidae C. L. Koch,
1
1
1837
13
Otocepheidae Balogh, 1961
2
14
P. Balogh, 1984
Khóa luận tốt nghiệp
21
Bùi Như Quỳnh
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
19
20
Haplozetidae
Khoa Sinh - KTNN
Grandjean,
1
1936
Scheloribatidae Grandjean,
1
1
Kết quả nghiên cứu đặc điểm phân bố của ve giáp trình bày ở bảng 3.1
và bảng 3.6 cho thấy: có 3 loài xuất hiện ở cả 4 tầng sinh cảnh là:
Cultroribula lata; Eremella vestita; Peloribates pseudoporosus. Đây cũng là
những loài gặp phổ biến ở sinh cảnh nghiên cứu rừng tự nhiên vườn quốc gia
Tam Đảo.
Ngoài ra ở mỗi tầng phân bố khác nhau còn có tập hợp các loài đặc trưng
riêng, cụ thể:
Có 9 loài phân bố ở cả 2 tầng A1 và tầng A2, gồm: Nanhermannia
thainensis;
Sphodrocepheus
tuberculatus;
Microtegeus
reticulatus;
Cultroribula lata; Acrotocepheus triplicornutus; Dolicheremaeus aoki;
Eremella vestita; Unguizetes clavatus; Peloribates pseudoporosus.
Có 7 loài chỉ có mặt tầng A1 mà không xuất hiện ở các tầng khác:
Javacarus kuehnelti; Papilacarus undrirostratus; Phyllhermannia gladiata;
Sphodrocepheus sp.; Aokiella florens; Dolicheremaeus ornata; Scheloribates
laevigatus (Bảng 3.1)
Có 2 loài chỉ xuất hiện ở tầng A2 mà không xuất hiện ở các tầng khác:
Papilacarus arboriseta; Rhysotritia duplica (Bảng 3.1).
Có 15 loài chỉ gặp ở tầng lá: Papilacarus sp.; Epilohmannia cylindrica;
Nothrus baviensis; Archegozetes longisetosus; Archegozetes sp.; Furcoppia
parva; Gibbicepheus baccanensis; Pulchroppia granulata; Eremella sp;
loài nhiều nhất (31 loài). Tiếp đến là tầng đất 0-10cm: 20 loài, tầng đất 1120cm: 15 loài và thấp nhất ở tầng rêu: 11 loài. Như vậy lá là sinh cảnh thích
hợp cho ve giáp hơn cả vì có nhiều thảm mùn hữu cơ là nguồn thức ăn dồi
dào cho ve giáp đến cư trú và phát triển.
Bảng 3.3. Một số chỉ số định lượng của ve giáp theo tầng phân bố ở sinh
cảnh rừng tự nhiên vườn quốc gia Tam Đảo – Vĩnh Phúc
Tầng phân bố
Chỉ số
R
L
A1
A2
Mật độ trung
60,83
1795,83
6266,67
4666,67
11
31
0,82
Ghi chú: H’: chỉ số đa dạng
J’: chỉ số đồng đều
3.3.2. Chỉ số đa dạng loài H’
Chỉ số H’ cao được ghi nhận ở 3 tầng là L, A1, A2 tương ứng:
Khóa luận tốt nghiệp
23
Bùi Như Quỳnh
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa Sinh - KTNN
Tầng lá: H’= 2,36. Tầng đất 0-10cm: H’= 2,32. Tầng đất 11-20cm:
H’=2,23. Tầng rêu có chỉ số đa dạng H’ nhỏ nhất: H’= 1,81.
3.3.3. Chỉ số đồng đều J’
Kết quả ghi nhận được về chỉ số đồng đều J’ có giá trị tương đương
nhau ở cả 4 tầng phân bố. Tầng đất 11-20cm cao nhất: J’= 0,82, tầng đất 010cm: J’=0,77, tầng rêu: J’= 0,76 và thấp nhất ở tầng lá: J’= 0,69.
3.4. Những loài ưu thế ở sinh cảnh nghiên cứu
Bảng 3.4. Tỉ lệ ve giáp ưu thế trong từng tầng phân bố
STT
Loài
6,85
Mahunka, 1967
4
Cultroribula lata Aoki, 1961
8,22
5
Nanhermannia thainensis Aoki, 1965
6
Gibbicepheus baccanensis Jeleva et
10,64 11,43
8,57
9,51
Vu, 1987
7
Javacarus kuehnelti Balogh, 1961
14,89
8
Xylobates
lophotrichus
22,86
23,29
(Brerlese, 35,62
1904)
Bảng 3.5. Độ thường gặp của các loài ve giáp ở sinh cảnh nghiên cứu tại
rừng tự nhiên vườn quốc gia Tam Đảo – Vĩnh Phúc
Độ thường
STT Loài
Số mẫu
gặp
1
Cultroribula lata Aoki, 1961
12
50,00
2
Eremella vestita Berlese, 1913
Khóa luận tốt nghiệp
25
Bùi Như Quỳnh