Khóa luận tốt nghiệp
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
=====***=====
BÙI THỊ THU THẢO
NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG TÌNH HUỐNG
TRONG TRUYỆN NGẮN TRÀO PHÚNG
CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI - 2013
Bùi Thị Thu Thảo
1
K35C - Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
=====***=====
BÙI THỊ THU THẢO
NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG TÌNH HUỐNG
TRONG TRUYỆN NGẮN TRÀO PHÚNG
Bùi Thị Thu Thảo
Bùi Thị Thu Thảo
3
K35C - Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
1. Khóa luận “Nghệ thuật xây dựng tình huống trong truyện ngắn
trào phúng của Nguyễn Công Hoan” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, có
sự tham khảo ý kiến của những người đi trước, dưới sự hướng dẫn khoa học
của ThS. GVC Vũ Văn Ký.
2. Khóa luận không sao chép từ một công trình có sẵn nào.
3. Kết quả nghiên cứu là đúc kết của bản thân và ít nhiều có đóng góp
về khoa học trong việc tìm hiểu về tác giả Nguyễn Công Hoan và phong cách
sáng tác của nhà văn.
Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 12 tháng 05 năm 2013
Tác giả
Bùi Thị Thu Thảo
Bùi Thị Thu Thảo
tháng Tám ............................................................................................... 27
1.2.2.1. Đặc trưng truyện ngắn trào phúng ........................................ 27
1.2.2.2. Nguyễn Công Hoan - cây bút thành công trong truyện ngắn
trào phúng......................................................................................... 28
1.3. Tình huống và vai trò của tình huống ................................................... 30
Bùi Thị Thu Thảo
5
K35C - Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
1.3.1. Tình huống ..................................................................................... 30
1.3.2. Vai trò của tình huống.................................................................... 32
1.3.2.1. Vai trò của tình huống trong truyện ngắn ............................. 32
1.3.2.2. Vai trò của tình huống trong truyện ngắn trào phúng ........... 33
Chương 2. ĐẶC SẮC XÂY DỰNG TÌNH HUỐNG TRONG
TRUYỆN NGẮN TRÀO PHÚNG CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN ............ 35
2.1. Các kiểu tình huống trong truyện ngắn trào phúng của
Nguyễn Công Hoan ..................................................................................... 35
2.1.1. Tình huống hài kịch ....................................................................... 36
2.1.2. Tình huống bi hài kịch ................................................................... 39
2.2. Phương thức nghệ thuật xây dựng tình huống trong truyện ngắn
trào phúng của Nguyễn Công Hoan ............................................................. 43
2.2.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật ....................................................... 43
2.2.1.1. Nghệ thuật miêu tả diện mạo................................................ 44
2.2.1.2. Nghệ thuật miêu tả hành động .............................................. 48
2.2.2. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ ........................................................ 49
2.2.2.1. Ngôn ngữ người kể chuyện .................................................. 44
một thế giới mới lạ và hấp dẫn. Và mỗi khi nhắc đến truyện ngắn của ông,
người ta nhớ ngay đến những câu chuyện với những tình huống độc đáo, dở
khóc dở cười. Chính điều đó đã làm đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước
yêu thích, ngưỡng mộ. Khám phá nghệ thuật xây dựng tình huống trong
truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan, bạn đọc sẽ thấy tài năng của
ông trong việc tái hiện cuộc sống đương thời bằng những mâu thuẫn để tạo ra
những tiếng cười vừa xót xa, vừa thâm thúy và ý vị. Không những thế, qua
việc nghiên cứu tình huống truyện, chúng ta còn thấy được cái tài của ông
trong việc xây dựng và khắc họa nhân vật, việc sử dụng ngôn ngữ tài hoa và
giọng điệu linh hoạt…
Các truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan không chỉ được các bạn đọc
trong nước yêu mến mà còn được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài và được
giảng dạy trong các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học phổ thông.
Bên cạnh đó, chúng ta biết một tác phẩm văn học đích thực ở bất kỳ
thời điểm nào cũng là di sản văn hoá của nhân loại, của thời đại, của dân tộc.
Bùi Thị Thu Thảo
7
K35C - Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
Vì vậy đối với những người học tập và nghiên cứu văn học, việc tìm tòi khám
phá những giá trị văn học là việc làm cần thiết.
Ngoài ra, đối với nhà văn Nguyễn Công Hoan, chúng tôi còn có một
lòng yêu mến, kính trọng và cảm phục vô bờ.
Đó chính là những lý do để chúng tôi chọn đề tài: “Nghệ thuật xây
dựng tình huống trong truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan”
để nghiên cứu.
là một nhà kể chuyện rất thật và rất có duyên” [19].
Đồng tình với Hải Triều, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan cũng khẳng
định: “Nguyễn Công Hoan sở trường về truyện ngắn hơn truyện dài (….). Ở
truyện ngắn ông tỏ ra một người kể chuyện rất có duyên. Phần nhiều truyện
ngắn của ông linh động lại có nhiều cái bất ngờ, làm cho người đọc khoái trá
vô cùng” [16].
Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh nhận định chính xác và sâu sắc về tiếng
cười Nguyễn Công Hoan trong truyện ngắn trào phúng như sau: “Phong cách
Nguyễn Công Hoan không thiên về lối thâm trầm kín đáo. Ông thích bốp chát,
đánh vỗ ngay vào mặt đối phương. Tiếng cười đả kích của Nguyễn Công
Hoan, vì thế, thường là những đòn đơn giản mà ác liệt (…). Nguyễn Công
Hoan là một nhà văn kể chuyện có duyên, có sức hấp dẫn, đối thoại có kịch
tính, giọng kể tự nhiên hoạt bát, lối so sánh ví von độc đáo, cách chơi chữ táo
bạo, dí dỏm,.... Nhưng về đại thể, bí quyết chủ yếu vẫn là nghệ thuật dẫn dắt
tình tiết sao cho mâu thuẫn trào phúng, tình thế hài hước bật ra ở cuối tác
phẩm một cách thật đột ngột, bất ngờ” [11. Tr 121, 122, 129].
Nhà nghiên cứu Nguyễn Hoành Khung trong lời giới thiệu “Truyện
ngắn Việt Nam 1930 - 1945”, tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1990 viết:
Nguyễn Công Hoan là “một bậc thầy trong truyện ngắn trước hết là truyện
ngắn trào phúng”, “Truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan là hiện
tượng chưa có đến hai lần trong Văn học Việt Nam….”
Khi đọc truyện của Nguyễn Công Hoan, giáo sư Phan Cự Đệ nhận xét:
“Truyện của Nguyễn Công Hoan có nhiều nét gần gũi với truyện cười dân
gian. Ông chú ý xây dựng cốt truyện nhiều hơn là xây dựng nhân vật”.
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều đứng trên một góc độ, một
phương diện để tìm hiểu, đánh giá chung về phong cách nghệ thuật của
Bùi Thị Thu Thảo
9
Công Hoan trước Cách mạng tháng Tám.
Bùi Thị Thu Thảo
10
K35C - Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
5. Ý nghĩa đề tài
Ý nghĩa khoa học: Thông qua các vấn đề lý luận về tình huống và nghệ
thuật xây dựng tình huống, đề tài đi sâu tìm hiểu đặc sắc truyện ngắn Nguyễn
Công Hoan về tình huống truyện, từ đó, chỉ ra đóng góp của nhà văn trong thể
loại truyện ngắn, đặc biệt là truyện ngắn trào phúng cũng như khẳng định vị
trí của ông trong nền văn học Việt Nam hiện đại.
Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần vào việc giảng dạy tác phẩm văn học
nói chung và giảng dạy tác phẩm của Nguyễn Công Hoan nói riêng trong
nhà trường.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết đề tài này, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
1. Phương pháp hệ thống.
2. Phương pháp so sánh.
3. Phương pháp phân tích tác phẩm.
4. Phương pháp thống kê phân loại.
7. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục và Tài liệu tham khảo, khóa
luận gồm hai chương chính:
1. Chương 1: Những vấn đề chung
2. Chương 2: Đặc sắc xây dựng tình huống trong truyện ngắn trào
lại là điều may mắn trong nghề văn vì ông đã có điều kiện “đi thực tế” nhiều
nơi, tiếp xúc với nhiều người, nhiều cảnh đời…
Từ nhỏ, cậu bé Nguyễn Công Hoan đã nghe trong nhà nói đến nhiều
nhà Nho yêu nước như ông Đề Thám, cụ Phan Bội Châu, cụ Phan Châu
Trinh, “ông” Đông Kinh nghĩa thục và rất cảm phục họ. Sau ông đã được đọc
rất nhiều sách báo viết về Tôn Dật Tiên, Lê nin… Gia đình ông (các em ruột,
các con trai), bạn bè, họ hàng của ông có nhiều người thoát li làm cách mạng
và bị tù đày.
Bùi Thị Thu Thảo
12
K35C - Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
Năm 1928, Nguyễn Công Hoan gia nhập Việt Nam Quốc dân Đảng
song chưa hoạt động được bao lâu thì bị khủng bố.
Trong thời kì Mặt trận Dân chủ, Nguyễn Công Hoan chịu ảnh hưởng rõ
rệt của Đảng cộng sản. Nhà văn đã được tiếp xúc với một số chiến sĩ cộng sản
ở Nam Định như Lê Đức Thọ, Lê Văn Phúc…, được nghe giảng về “thặng dư
giá trị”,“đấu tranh giai cấp” và đọc nhiều sách báo, tài liệu cách mạng.
Thời kì đại chiến lần hai ông bị sở kiểm duyệt theo dõi, thường bị khám
nhà và có lần bị truy tố trước tòa.
Năm 1945, vì hoạt động chính trị và vì gia đình có người làm cách
mạng, Nguyễn Công Hoan bị Nhật bắt và giam cầm trong một thời gian.
Cách mạng tháng 8 năm 1945 diễn ra, Nguyễn Công Hoan nhiệt tình
hưởng ứng. Ông được giao làm Phó giám đốc sở Tuyên truyền Bắc Bộ. Khi
kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông gia nhập quân đội, làm báo Vệ quốc quân
rồi Giám đốc trường Văn hóa quân nhân trung cấp, Chủ nhiệm tờ Quân nhân
thuật là một phạm trù nghệ thuật học, nó gắn bó với quan niệm thế giới quan,
triết học, xã hội học về con người và thế giới nói chung, nhưng tự bản thân nó
đã là một “ý thức hệ” đặc biệt gắn liền với miêu tả nghệ thuật”. Như vậy, cái
thúc đẩy sức sáng tạo nghệ thuật của mỗi nhà văn chính là quan điểm nghệ
thuật về cuộc đời và con người. Nó thể hiện sự thống nhất giữa hiện thực
được phản ánh và năng lực cắt nghĩa lí giải của nhà văn ấy. Trên cơ sở đó,
nhà văn sẽ tạo lập thế giới nghệ thuật của riêng mình.
Quan niệm về cuộc đời và con người của các nhà văn hiện thực phê
phán là “nghệ thuật vị nhân sinh”. Vũ Trọng Phụng từng khẳng định: “Các
ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết, còn tôi và những người cùng chí
hướng muốn tiểu thuyết là sự thực ở đời”. Với nguyên tắc coi hiện thực trực
tiếp là đối tượng của nghệ thuật và đặc biệt coi trong mối quan hệ giữa tính
cách và hoàn cảnh, văn học hiện thực phê phán đã phát hiện ra nhiền kiểu
nhân vật mới, làm phong phú thêm khả năng chiếm lĩnh hiện thực khách quan
của con người. Nguyễn Công Hoan chính là một tác giả đã tạo được dấu ấn
riêng cho mình trong trào lưu văn học ấy. Trong xã hội thực dân nửa phong
kiến nhiều áp bức nặng nề với không ít những bất công ngang trái, ông quan
niệm: “Cuộc đời là sân khấu hài kịch và con người là những thằng hề diễn
trò”. Trong Đời viết văn của tôi, Nguyễn Công Hoan từng nói: “Sống dưới
Bùi Thị Thu Thảo
14
K35C - Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
chế độ thống trị của thực dân, tôi thấy cái gì cũng giả tạo, lừa bịp, đáng khôi
hài” [10]. Nếu Nam Cao quan niệm cuộc đời chỉ là sự “chết mòn” khi đang
K35C - Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
yêu mến và còn có tiếng vang ở nhiều nước trên thế giới. Nhiều truyện của
ông được dịch ở Liên Xô, Ba Lan, Ấn Độ, Trung Quốc…
Sự nghiệp sáng tác của ông có thể chia làm hai giai đoạn: trước và sau
Cách mạng tháng Tám. Ở mỗi giai đoạn, tác phẩm của ông lại mang những
giá trị và ý nghĩa riêng.
1.1.3.1. Trước Cách mạng tháng Tám
Trước Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Công Hoan sáng tác hầu như
song song cả truyện ngắn và truyện dài. Song có thể nói, với truyện ngắn, vị
trí vẻ vang trong văn học sử của ông mới thật sự được khẳng định. Ông để lại
một di sản văn học đồ sộ với trên hai trăm truyện ngắn, một con số kỉ lục
trong văn học Việt Nam.
Thứ nhất là mảng truyện ngắn.
Nếu không kể tập Kiếp hồng nhan có tính chất thử bút, in năm 1923, thì
sự nghiệp của nhà truyện ngắn bậc thầy Nguyễn Công Hoan thực sự bắt đầu
từ năm 1929, khi ông ra mắt khá thường xuyên trên mục Xã hội ba đào kí của
An Nam tạp chí do Tản Đà chủ trương. Sau đó, ông viết đều trên báo Nhật
Tân rồi Tiểu thuyết thứ bảy và Phổ thông bán nguyệt san của nhà Tân Dân.
Trước Cách mạng tháng Tám, một số lớn tác phẩm của ông được tập hợp và
xuất bản thành các tập: Hai thằng khốn nạn (1934), Kép Tư Bền (1935), Đào
Kép Mới (1938), Sóng Vũ Môn (1939), Người vợ lẽ bạn tôi (1939), Ông chủ
báo (1940).
Quá trình sáng tác truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trước Cách mạng
tháng Tám chia làm ba thời kì, khá phù hợp với ba thời kì vận động phát triển
của toàn bộ văn học dân tộc và tình hình của của xã hội: thời kì 1929- 1935,
thời kì 1935- 1939, thời kì 1940- 1945.
Thời kì 1929- 1935:
Hoan vẫn chưa vượt khỏi lập trường đạo đức có phần trừu tượng. Ông đã
đứng về phía người nghèo khổ để tố cáo, bênh vực họ song có khi sự yêu
thương , trân trọng đối với họ vẫn còn mờ nhạt…
Thời kì 1935-1939:
Đây được coi là thời kì “đắc chí” của Nguyễn Công Hoan. Ông hăng
say sáng tác dưới sự cổ vũ của một không khí đấu tranh sôi nổi. Chính vì thế
mà tiếng cười trào phúng trong truyện ngắn của nhà văn vô cùng sảng khoái,
hả hê, nhưng không mất đi ý nghĩa xã hội nghiêm túc và sâu sắc của nó.
Bùi Thị Thu Thảo
17
K35C - Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
Đối với Nguyễn Công Hoan, trong xã hội đương thời, quan “phụ mẫu”
thì hiếm nhưng bọn “ăn bẩn”, xấu xa thì nhiều. Bởi vậy, bên cạnh những trang
văn đả kích trực tiếp và cay độc thói dâm ô, bỉ ổi của bọn quan lại trong Vẫn
còn trịch thượng; Chiếc đèn pin; Nạn râu…, Nguyễn Công Hoan còn viết rất
nhiều truyện khác tập trung vạch trần thói ăn tiền hết sức tệ hại của chúng
như: Thịt người chết; Gánh khoai lang; Chính sách thân dân; Sáu mạng
người; Quyền chủ; Phành phạch; Hai cái bụng; Lại chuyện con mèo; Tấm
giấy 100…
Trong các truyện ngắn viết về những số phận nghèo khổ, nhân vật mà
Nguyễn Công Hoan hướng tới không chỉ còn là anh phu xe, cô gái điếm,
thằng ăn mày hay đứa ăn cắp… mà còn có cả nông dân, công nhân. Ngòi bút
của ông đã thấm thía và sâu sắc hơn trước, cách nhìn của nhà văn đối với họ
cũng tri ân, trân trọng hơn. Các tác phẩm tiêu biểu: Chiếc quan tài (I); Được
chuyến khách; Sáng, chị phu mỏ; Tinh thần thể dục (I, II); Đào kép mới; Tôi
của mình đối với thể loại truyện ngắn. Tuy nhiên, ông còn được biết đến là tác
giả của nhiều tác phẩm truyện dài có giá trị. Những tác phẩm ấy cũng đã được
bạn đọc đón nhận và yêu mến. Nó góp phần làm cho sự nghiệp sáng tác của
nhà văn thêm đa dạng và phong phú.
Thứ hai là mảng truyện dài.
Nhìn chung, truyện dài của Nguyễn Công Hoan không có giá trị cao
bằng truyện ngắn. Tuy nhiên khối lượng truyện dài của nhà văn khá lớn, trong
đó có những truyện có giá trị đặc sắc, thuộc vào những tác phẩm tiêu biểu
nhất của văn học hiện thực phê phán, cũng có những truyện giá trị có hạn
song cũng đã từng được dư luận chú ý, hoan nghênh vì nhiều lẽ.
Trước Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Công Hoan đã sáng tác nhiều
tiểu thuyết và được đăng báo liên tiếp như: Tắt lửa lòng (1933), Lá ngọc cành
vàng (1935), Ông chủ (1935), Cô giáo Minh (1935), Bước đường cùng
(1938), Thanh đạm (1942)…
Nếu như trong truyện ngắn, ngay từ khi ra mắt bạn đọc trên mục Xã hội
ba đào kí của An Nam tạp chí, Nguyễn Công Hoan đã tự giới thiệu mình như
một cây bút “xã hội” “tả chân”, tự vạch con đường riêng cho mình thì trong
truyện dài thời kì đầu, nhà văn lại đi vào những truyện tình lãng mạn, lâm ly,
Bùi Thị Thu Thảo
19
K35C - Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
nhuốm màu đạo đức nho phong và vấn đề hôn nhân gia đình có phần bảo thủ.
Tiêu biểu là tiểu thuyết Tắt lửa lòng.
Tác phẩm là một câu chuyện tình yêu buồn giữa hai nhân vật chính là
Khóa luận tốt nghiệp
phẩm Lá ngọc cành vàng và Ông chủ. Xét về nhiều mặt, hai truyện này có ý
nghĩa đánh dấu sự chuyển biến của ngòi bút Nguyễn Công Hoan nói riêng và
trào lưu văn học hiện thực phê phán nói chung.
Trong Lá ngọc cành vàng, Nguyễn Công Hoan đã lên tiếng bênh vực
tình yêu ngoài lễ giáo phong kiến và phê phán mạnh mẽ lực lượng bảo thủ đã
phá hoại hạnh phúc của lớp thanh niên. Cùng một lúc, truyện thể hiện hai
quan điểm nhìn nhận hiện thực của nhà văn. Đó là quan điểm đạo đức phong
kiến và quan điểm giàu nghèo. Trong đó, quan điểm giàu nghèo là cơ bản.
Tác giả phê phán mạnh mẽ những kẻ có quyền và có tiền đã nhẫn tâm chà đạp
lên hạnh phúc chính đáng của con người. So với Tắt lửa lòng, Lá ngọc cành
vàng đã đánh dấu một bước tiến quan trọng của Nguyễn Công Hoan trên cả
hai phương diện nội dung và nghệ thuật.
Tiểu thuyết Ông chủ gồm tám chương, ngay từ chương thứ hai tác giả
đã tâp trung tố cáo thói dâm ô, đểu cáng và tâm địa độc ác của gia đình nhà
chủ với vợ chồng anh đĩ Nuôi, gây nên thảm cảnh cho gia đình này. Tác phẩm
đã đề cập trực tiếp tới mâu thuẫn giai cấp gay gắt ở nông thôn, giữa người
nông dân lao động nghèo khổ và bọn địa chủ thống trị. Với cuốn tiểu thuyết
có giá trị tố cáo mạnh mẽ này, Nguyễn Công Hoan đã đứng hẳn về phía người
nông dân bị áp bức, bóc lột và vạch trần bộ mặt xấu xa, tàn ác, dã man của
bọn địa chủ.
Trong Bơ vơ, tác giả đã miêu tả số phận trớ trêu đến lạ lùng của một tên
cướp vốn là một đứa con hoang bị bỏ rơi. Qua đó, nhà văn lên án xã hội giả
dối vô nhân đạo, nhất là bọn quan lại.
Truyện Một chương trình quyết thực hành là tiểu thuyết có tính chất
hoạt kê châm biếm một tên nhà giàu vừa hiếu danh vừa hiếu sắc. Cuối cùng,
hắn ta đã bị lừa bởi một gái đĩ thập thành. Câu chuyện đã mang đến cho bạn
đọc những tiếng cười vô cùng sảng khoái.
cường hào ở một làng quê. Qua đó, tác phẩm đả kích mạnh mẽ vào bọn cường
hào địa chủ tác oai tác quái ở nông thôn đương thời. Tuy nhiên, tác phẩm
chưa có được nội dung hiện thực phong phú, sâu sắc với sức khái quát như
Bước đường cùng.
Trước đây, nếu Nguyễn Công Hoan trở thành kẻ thù số một của quan
lại đương thời thì giờ đây, với Thanh đạm (1942), quan lại phong kiến được
Bùi Thị Thu Thảo
22
K35C - Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
ông thần thánh hóa với tất cả niềm tôn kính ngưỡng mộ. Nhân vật quan huyện
Lê Sĩ Cư được miêu tả như một vị Thánh sống, Phật sống với ánh hào quang
rực rỡ làm lu mờ hẳn đám dân thường. Quan hết lòng chăm dân, dân hết lòng
cung kính quan. Một xã hội thấm đượm màu sắc cải lương phong kiến với
giấc mơ thái bình được phản ánh rõ nét và cụ thể. Rõ ràng, ở đây, quan lại
được thần thánh hóa còn nhân dân lao động thì bị hạ thấp một cách thảm hại.
Các nhà nghiên cứu đều thống nhất khẳng định Thanh đạm là bước thụt lùi
trong tư tưởng của Nguyễn Công Hoan trước cách mạng.
Nói tóm lại, với những thành tựu xuất sắc trước Cách mạng tháng Tám,
Nguyễn Công Hoan xứng đáng là một nhà văn lớn, tiêu biểu cho nền văn học
hiện thực phê phán Việt Nam. Sau cách mạng, đời văn của ông bước sang một
trang mới. Dù không đạt được nhiều thành tựu, song giai đoạn này, nhà văn cũng
đã để lại cho hậu thế không ít những tác phẩm có giá trị.
1.1.3.2. Sau Cách mạng tháng Tám
Cách mạng tháng Tám đã giải phóng dân tộc đồng thời giải phóng nhà
mở rộng nhiều mặt hơn trước. Ngoài truyện ngắn, truyện dài, ông còn viết kí
sự, hồi kí, trong đó có Những ngày tháng Tám ở Côn Đảo và Người cập
rằng hầm xay lúa.
Đặc biệt là hồi kí Đời viết văn của tôi ra mắt bạn đọc năm 1971. Tác
phẩm đã kể lại trung thực, sinh động quá trình hoạt động văn học của chính
tác giả. Không những thế, hồi kí còn dựng lại diện mạo, không khí của đời
sống văn học khu vực hợp pháp Việt Nam thời kì trước cách mạng, một thời
kì văn học sôi động, phức tạp, trong đó nổi lên những phác họa sinh động
chân dung nhiều khuôn mặt văn học đương thời như Tản Đà, Ngô Tất Tố, Vũ
Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Vũ Bằng, Tam Lang… Những kinh nghiệm
nghệ thuật của nhà văn về viết truyện, nhất là truyện ngắn trào phúng được
tổng kết trong cuốn sách có rất nhiều ý nghĩa. Sau này, để có thể cung cấp
những tài liệu cụ thể về lịch sử, xã hội, văn hóa, văn học… nhà văn đã “nhớ
và ghi” lại hơn 600 sự việc và hiện tượng lớn nhỏ về đời sống xã hội Việt
Nam cũ.
Nói tóm lại, trải dài suốt nửa thế kỉ cầm bút, tiếng nói nghệ thuật vang
dội nhất của Nguyễn Công Hoan là tiếng nói tố cáo gay gắt, đanh thép xã hội
Việt Nam thuộc địa nửa phong kiến đầy bất công và vô cùng lố lăng, thối nát;
là tiếng nói bênh vực chân thành những con người nghèo khổ bị chà đạp, xúc
Bùi Thị Thu Thảo
24
K35C - Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
phạm. Đó là tiếng nói mạnh mẽ, đầy tính chiến đấu, đã kế thừa và phát huy
tiếng cười trào phúng đặc sắc giàu sức sống trong văn học dân tộc.
K35C - Ngữ văn