Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn trào phúng của nguyễn công hoan - Pdf 32

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======

NGUYỄN THỊ THANH HOÀ

NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN TRÀO PHÚNG
CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Hà Nội - 2013


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI II
KHOA NGỮ VĂN
======

NGUYỄN THỊ THANH HOÀ

NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN TRÀO PHÚNG
CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
Th.S VŨ VĂN KÝ


Hà Nội, ngày 03 tháng 05 năm 2013.
Tác giả khoá luận

Nguyễn Thị Thanh Hoà


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

Trang

1. Lí do chọn đề tài

1

2. Lịch sử vấn đề

2

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5

4. Mục đích và nhiệm vụ

5

5. Ý nghĩa của đề tài


11

1.1.3.1. Trước cách mạng tháng Tám

11

1.1.3.2. Sau cách mạng tháng Tám

17

1.2. Nguyễn Công Hoan - Cây bút sở trường về truyện ngắn trào phúng

19

1.2.1. Thể loại truyện ngắn

19

1.2.2. Truyện ngắn trào phúng

19

1.2.3. Truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan

20

1.3. Nhân vật và vai trò của nhân vật

21


30

2.1.2. Nhân vật thuộc tầng lớp bị trị

31

2.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật

32

2.2.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật thông qua ngoại hình

33

2.2.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật thông qua hành động

38

2.2.3. Nghệ thuật xây dựng nhân vật thông qua ngôn ngữ

40

2.2.3.1. Ngôn ngữ đối thoại

40

2.2.3.2. Ngôn ngữ độc thoại

45


Trong các nhà văn hiện thực của nền văn học hiện đại Việt Nam, Nguyễn
Công Hoan nổi lên là một cây bút có sức sáng tạo dồi dào, dẻo dai, một tài năng
xuất sắc độc đáo và mang đậm bản sắc dân tộc. Hơn nửa thế kỷ cầm bút,
Nguyễn Công Hoan đã để lại cho kho tàng văn học dân tộc hơn 200 truyện ngắn,
gần 30 truyện dài và nhiều công trình nghiên cứu văn học có giá trị. Nói đến tài
năng và phong cách Nguyễn Công Hoan, trước hết người ta nhớ đến ông với tư
cách bậc thầy truyện ngắn trào phúng “Người ta nhận thấy Nguyễn Công Hoan
sở trường về truyện ngắn hơn truyện dài. Trong các truyện dài nhiều chỗ lúng
túng rồi ông kết thúc giản dị quá, không xứng với một truyện to tát ông dựng.
Trái lại ở truyện ngắn ông tỏ ra là một người kể truyện có duyên. Phần nhiều
truyện ngắn của ông linh động lại có nhiều cái bất ngờ, làm cho người đọc
khoái trá vô cùng. Những truyện ngắn của ông tiêu biểu cho một thứ văn rất vui,
thứ văn mà có lẽ từ ngày nước Việt Nam có tiểu thuyết viết theo lối mòn người
ta chỉ thấy ở ngòi bút của ông thôi.” (Vũ Ngọc Phan)
Khác với Ngô Tất Tố, Nam Cao hay nhiều cây bút viết truyện ngắn khác,
Nguyễn Công Hoan tiếp cận đời sống bằng cái nhìn đả kích giễu cợt sâu cay
xuất phát từ tấm lòng căm giận kẻ cường quyền và tình yêu thương những người
nghèo khổ. Hay nói cách khác ông dùng tiếng cười để tố cáo “những đau khổ tột
cùng”. Văn Nguyễn Công Hoan dễ hiểu, giản dị, trong sáng, tự nhiên lại rất
sống động. Ông khai thác câu chữ chọn lọc, tinh tế, sắc sảo, cùng với đó là hệ
thống nhân vật phong phú đa dạng, xuất hiện đủ các tầng lớp, giai cấp trong xã
hội. Điều này lý giải vì sao các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan được đông đảo
bạn đọc trong và ngoài nước yêu thích, mến mộ.

1


Nguyễn Công Hoan là một trong số các nhà văn Việt Nam hiện đại được
đưa vào giảng dạy ở các bậc học từ Trung học phổ thông đến Cao đẳng, Đại
học.

Trong cuốn Lịch sử văn học Việt Nam, tác giả Nguyễn Trác nhận định
“Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan là một tấn trò đời rộng rãi và phong phú, ông
chỉ cốt khám phá trong hiện thực, những mâu thuẫn, những cảnh tượng trái và
phản lẫn nhau… Thế giới của Nguyễn Công Hoan là thế giới những kẻ khốn khổ
đáng thương. Đọc truyện ngắn Nguyễn Công Hoan người đọc như được trực
tiếp sống giữa cái xã hội khốn cùng của những con người dưới đáy, những thói
hư tật xấu của đám thanh niên tiểu tư sản thành thị chạy theo lối sống “Âu
hoá”. Hoặc “khi nhân vật ông miêu tả vừa là kẻ có tiền, có quyền vừa có nhân
cách và hành động trái ngược với thứ đạo đức ông ưa, thì ông lên án bằng cả lý
trí và tình cảm. Tiếng cười đả kích của ông sảng khoái, nhân vật của ông sống,
tác phẩm của ông thành công”. [21, 222]
Nguyễn Hoành Khung trong Từ điển văn học - tập 2 đánh giá về nghệ
thuật khắc hoạ tính cách nhân vật của Nguyễn Công Hoan: “Mỗi nhân vật nhà
văn thường chỉ nêu lên một nét tính cách cơ bản, bộc lộ qua hành động ngôn
ngữ, tình huống nào đó (…). Nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
chưa hề có bề sâu tâm lý. Song không vì vậy mà chúng không chân thực, không
sinh động. Có thể nói trái lại, chỉ bằng vài nét vẽ, nhà văn đã phác ra được bộ
mặt, một tư thế, một chân dung khá sinh động với nét tâm lý chủ yếu nổi bật,
phù hợp với bản chất xã hội nhân vật” [13, 56].
Vũ Ngọc Khánh trong Thơ văn trào phúng Việt Nam viết về thủ pháp
nghệ thuật, cách mô tả nhân vật của Nguyễn Công Hoan như sau: “Thủ pháp
quen thuộc và độc đáo của Nguyễn Công Hoan là hay làm cho bộ mặt đối tượng
trở nên méo mó hơn, lố bịch hơn để bản chất ti tiện của nố được nổi rõ hơn”
[11, 375].
Nguyễn Đức Đàn trong Mấy vấn đề văn học hiện thực phê phán Việt Nam
đã nhận xét: “Với số lượng khá lớn như vậy… Nguyễn Công Hoan đã hợp thành
3


một bức tranh rộng lớn khá đầy đủ về xã hội cũ. Hầu hết trong xã hội thực dân

thì chưa có một công trình khoa học nào tương xứng với vấn đề có ý nghĩa cả về
lí luận lẫn thực tiễn trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan.
Chúng tôi cho rằng đây là một đề tài hay và hấp dẫn. Kế thừa ý kiến của
người đi trước, coi đó là những tiền đề quan trọng, chúng tôi tiếp tục tìm hiểu
nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công
Hoan thông qua các tác phẩm tiêu biểu trước cách mạng tháng Tám. Hy vọng
khoá luận sẽ có ít nhiều đóng góp để hiểu sâu sắc hơn nhà văn lớn của văn học
Việt Nam hiện đại thế kỷ XX.
3. Phạm vi nghiên cứu:
Do khuôn khổ của đề tài và giới hạn của khoá luận, chúng tôi tập trung
chủ yếu vào các truyện ngắn trào phúng tiêu biểu của Nguyễn Công Hoan trước
cách mạng tháng Tám.
Khi cần thiết, sẽ có cái nhìn tổng quát đối với toàn bộ truyện ngắn
Nguyễn Công Hoan và liên hệ, so sánh với các truyện ngắn của các nhà văn
khác.
4. Đối tượng nghiên cứu:
- Một số lí luận về nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật.
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn trào phúng Nguyễn
Công Hoan.
5. Ý nghĩa đề tài:
Ý nghĩa khoa học: Thông qua các vấn đề về nhân vật và nghệ thuật xây
dựng nhân vật, đề tài đi sâu tìm hiểu đặc sắc truyện ngắn Nguyễn Công Hoan về
nhân vật, từ đó, chỉ ra đóng góp của nhà văn trong thể loại truyện ngắn, khẳng
định vị trí của ông trong nền văn học Việt Nam hiện đại.
Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần vào việc giảng dạy tác phẩm văn học nói
chung và giảng dạy tác phẩm của Nguyễn Công Hoan nói riêng trong nhà
trường.

5


thêm phần đông con nên cha ông là cụ Nguyễn Đạo Khang đã gửi Nguyễn Công
Hoan đến ở nhà người anh ruột là Phó bảng Nguyễn Đạo Quán.
Từ nhỏ, trong những buổi tối gia đình, Nguyễn Công Hoan đã được nghe
kể bao chuyện đáng khinh, đáng cười, đáng chửi về các quan lại làm việc cho
Pháp thời bấy giờ. “Tôi sinh trưởng trong một gia đình phong kiến suy tàn về
chế độ đổi thay nên bị nép vế. Do đó tôi đã chịu sự giáo dục hằn học với quan
lại ôm chân đế quốc để mưu cầu phú quý trên lưng những người nghèo hèn.
Những câu chuyện kể tội ác của bọn quyền quý tạo cho tôi tính tò mò, thích
nhìn, thích nghe lại những truyện ấy. Mắt tôi lại được chứng kiến những cảnh
ấy, củng cố cho tôi lập trường chính trị, thiện cảm với ai, ác cảm với ai.” [10].
Năm 1926, Nguyễn Công Hoan tốt nghiệp trường Sư Phạm, ông đi dạy
học và cũng bắt đầu viết văn. Ông tâm sự về nghề của mình “Nghề dạy học của
tôi cũng là nghề bạc đãi, nghề viết văn của tôi, lại là nghề bị tình nghi. Đế quốc
7


ghét tôi, quan lại, gian ác thì tôi cho nên quá mù ra mưa, tôi cũng không yêu
quý gì bọn ấy. Nếp nhìn, nếp nghe trong thủa thiếu thời của tôi vẫn được tiếp
tục trong tuổi thanh niên. Sự đụng chạm với các tầng lớp nhà giàu ở thành thị,
giao thiệp với các nhà nghèo ở nông thôn, những việc mắt thấy tai nghe ở cửa
quyền làm cho tôi hiểu biết rộng rãi về trường đời. Tất cả những cái ấy ảnh
hưởng đến tôi, đào tạo cho tôi một sở trường viết truyện ngắn và một khả năng
sáng tác truyện xã hội” [10].
Thời kỳ Mặt trận Dân chủ 1935 - 1939, Nguyễn Công Hoan đã tiếp xúc
với một số chiến sĩ cộng sản ở Nam Định như Lê Đức Thọ, Lê Văn Phúc…và
được nghe giảng về “thặng dư giá trị”, “đấu tranh giai cấp”. Thời kỳ này, nhà
văn chịu ảnh hưởng rõ rệt của Đảng cộng sản.
Thời kỳ đại chiến lần hai ông bị sở kiểm duyệt theo dõi, tiến hành khám
nhà và đã có lần bị truy tố trước toà.
Năm 1945, Nguyễn Công Hoan bị Nhật bắt vì những hoạt động chính trị

nghệ thuật. Muốn đi sâu, chiếm lĩnh giá trị nghệ thuật của một tác phẩm văn học
trước hết phải tìm quan niệm nghệ thuật về cuộc đời và con người của nghệ sĩ đã
sáng tạo ra tác phẩm văn học ấy. Ở đây là khám phá cách cảm nhận con người
qua việc miêu tả nhân vật chứ không làm nhiệm vụ phân tích nhân vật.
Như đã nói ở trên, Nguyễn Công Hoan là một trong những cây bút truyện
ngắn trào phúng bậc thầy của văn học Việt Nam thế kỷ XX. Để xây dựng thế
giới ấy, nhà văn đã tạo ra những “hiệu ứng”, những “thủ pháp” nghệ thuật đặc
biệt góp phần tạo ra nét riêng, nét cá biệt, nét “con người này” (nói như
Heghen).
Văn học hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 xem con
người là sản phẩm của hoàn cảnh, miêu tả con người trong mối quan hệ biện
chứng với xã hội. Dòng chảy ấy có nhiều cây bút xuất sắc đã ghi dấu bằng
những quan niệm nghệ thuật rất riêng và Nguyễn Công Hoan là một cây bút như
thế. Ông quan niệm: “Cuộc đời là sân khấu hài kịch và con người là những
thằng hề diễn trò”. Trong Đời viết văn của tôi [10], Nguyễn Công Hoan từng
9


nói: “Sống dưới chế độ thống trị của thực dân, tôi thấy cái gì cũng giả tạo, lừa
bịp, đáng khôi hài. Thế mà thằng làm trò khôi hài là thằng thực dân, lại làm ra
mặt nghiêm chỉnh, thật là buồn cười”. Thông qua cái nhìn mang tính phát hiện
sắc sảo, Nguyễn Công Hoan nhận diện cả một xã hội đang diễn trò. Sân khấu
của trò diễn là bối cảnh xã hội, nhân vật diễn trò bằng những hành động, cử chỉ
và ngôn ngữ đầy chủ động. Ở đó có trò diễn của nhà nước với dân đen (Đào kép
mới, Tinh thần thể dục), trò diễn của vợ với chồng (Một tấm gương sáng, Thế là
mợ nó đi Tây, Nỗi vui sướng của thằng bé khốn nạn), chồng với vợ (Xuất giá
tòng phu, Cho tròn bổn phận), trò diễn của con cái với bố mẹ (Báo hiếu: Trả
nghĩa cha, Báo hiếu: Trả nghĩa mẹ), trò diễn của các cô gái tân thời Âu hoá (Cô
Kếu, gái tân thời, Nỗi lòng ai tỏ, Oẳn tà rroằn) và nhiều nhất, đa dạng, phong
phú nhất là trò diễn của quan lại, cường hào với nhau và với dân nghèo (Thịt

1.1.3. Sự nghiệp sáng tác
Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Công Hoan là một khối lượng lớn, đồ
sộ. Ông để lại di sản nghệ thuật với hơn 200 truyện ngắn, gần 30 truyện dài và
nhiều tiểu luận văn học. Tác phẩm của ông không những được bạn đọc trong
nước hâm mộ, yêu mến mà còn có tiếng vang ở nước ngoài. Nhiều truyện của
ông được dịch ở Liên Xô, Ba Lan, Ấn Độ, Trung Quốc…
Theo nghiên cứu, tìm hiểu của chúng tôi, sự nghiệp sáng tác của Nguyễn
Công Hoan có thể chia làm hai thời kỳ: trước cách mạng tháng Tám và sau cách
mạng tháng Tám.
1.1.3.1. Trước cách mạng tháng Tám
Trước cách mạng tháng Tám, ngòi bút Nguyễn Công Hoan tập trung vào
thể loại chính là truyện (bao gồm các truyện dài và truyện ngắn).
Về truyện dài, có thể điểm một số tác phẩm chính sau:
Tắt lửa lòng được đăng trên báo Nhật Tân, 1933. Đây là sáng tác đầu tiên
của Nguyễn Công Hoan, kể về một câu chuyện tình hết sức lãng mạn nhưng lại
là thứ lãng mạn nền nếp “nho phong” - thứ lãng mạn “tiền Tự lực”. Giá trị của
cuốn tiểu thuyết chủ yếu ở mặt phê phán xã hội, trước hết là phê phán bọn quan
11


lại thối nát đương thời. Tuy nhiên đây vẫn chưa phải là tác phẩm hiện thực. Nhà
văn không phản ánh hiện thực trên bình diện xã hội mà dừng lại ở bình diện đạo
đức.
Điều đáng nói ở Tắt lửa lòng là sự pha trộn nhiều bút pháp khác nhau.
Đây là tác phẩm đánh dấu thời kỳ phát triển buổi đầu của tiểu thuyết quốc ngữ
lối mới.
Cô giáo Minh (1935) là một tiểu thuyết luận đề, trong đó Nguyễn Công
Hoan đã chống lại cách giải quyết của Tự lực văn đoàn về vấn đề phụ nữ và hôn
nhân gia đình. Trong phần đầu tác phẩm, ngòi bút Nguyễn Công Hoan với sự
châm biếm sâu sắc, phóng đại mạnh mẽ đã miêu tả thành công sự hủ lậu đến

trung thành với chúng.
Cô làm công (1936), tồn tại dưới hình thức nhật ký của nhân vật chính một cô làm công cho hãng buôn lớn, tác phẩm đã phản ánh khá chân thực đời
sống khổ nhục của đám tư sản nghèo bị xã hội đồng tiền hắt hủi, xúc phạm nhân
phẩm.
Bước đường cùng (1938), đây được coi là tác phẩm đánh dấu đỉnh cao tư
tưởng Nguyễn Công Hoan trước cách mạng tháng Tám và là một trong những
tiểu thuyết tiêu biểu của văn học hiện thực phê phán đương thời. Tác phẩm
mang chủ đề xã hội chính trị tiến bộ. Đó chính là sự hưởng ứng tích cực của nhà
văn đối với phong trào Mặt trận Dân chủ. Bước đường cùng đã phản ánh trực
tiếp bức tranh nông thôn Việt Nam trước cách mạng trên bình diện xung đột giai
cấp, đã làm nổi bật bộ mặt tàn bạo thối nát của giai cấp địa chủ phong kiến và sự
cùng khổ của người nông dân bị áp bức bóc lột, bị đẩy tới “bước đường cùng”
không cách gì cưỡng nổi. Với hơn 200 trang sách, Bước đường cùng đã dựng
bức tranh rộng lớn về đời sống nông thôn đương thời. Tác giả có ý thức phản
ánh thật đầy đủ những nỗi khổ điển hình của người nông dân, với bao nhiêu tai
hoạ khác nhau cứ chồng chất đè nặng lên số phận họ.
Thanh đạm (1942), hình tượng nhân vật quan lại phong kiến chính thống
trong tác phẩm được lý tưởng hoá với tất cả đạo lý, lễ giáo, phong tục phong
13


kiến. Không những thế, nhà văn còn tô vẽ cả cái trật tự xã hội của chế độ phong
kiến xưa. Trong tác phẩm, từ vua đến quan, quan trên đến quan dưới - những
quan Tuần, quan Bảng, quan Huấn, quan huyện Văn Lâm, quan huyện Phượng
Nhỡn - tất cả đều hiền đức cả. Cái làng Tân Thanh của Lê Sĩ Cư được miêu tả
như một xã hội mang màu sắc cải lương phong kiến với giấc mơ thái bình
Nghiêu - Thuấn, đều nhờ sự giáo hoá, “công đức” của quan Nghè Lê Sĩ Cư. Tác
phẩm được giới nghiên cứu coi là bước thụt lùi trong tư tưởng của nhà văn
Nguyễn Công Hoan.
Nhìn chung, truyện dài của Nguyễn Công Hoan không có giá trị cao bằng

phè phỡn, vô đạo, còn người nghèo bị ức hiếp và đói khổ cùng cực”. Tập Kép
Tư Bền, xuất bản 1935 gồm 15 truyện ngắn sáng tác trong khoảng 1929 - 1935,
đã gây được tiếng vang lớn, được Hải Triều biểu dương coi đó là “cái tác phẩm
thuộc về trào lưu tả thực xã hội của nước ta”.
Tập truyện bao gồm các truyện như: Răng con chó Nhà tư sản, Thằng ăn
cắp, Bữa no… đòn, Kép Tư Bền, Ngựa người người ngựa, Mất cái ví, Thế là mợ
nó đi Tây, Báo hiếu: Trả nghĩa cha, Báo hiếu: Trả nghĩa mẹ, Thật là phúc, Cụ
Chánh Bá mất giầy, Thanh dạ!, Cái nạn ôtô…Với Kép Tư Bền Nguyễn Công
Hoan là một trong những người mở màn, người cắm ngọn cờ chiến thắng cho
khuynh hướng văn học hiện thực của văn học công khai hợp pháp đương thời.
Như vậy, khuynh hướng hiện thực, ý thức phê phán xã hội đã được khẳng
định rõ rệt trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan thời kỳ này. Tuy vậy, ý nghĩa
hiện thực và sức mạnh phê phán của những sáng tác đó còn hạn chế. Phạm vi
phản ánh hiện thực còn hạn hẹp. Nhận thức của tình cảm nhân đạo còn chưa sâu.
Ông đã đứng về phía người nghèo khổ để bênh vực họ song chưa thật sâu sắc.
Thời kỳ 1936 - 1939
Bước sang thời kỳ cao trào Mặt trận Dân chủ, được tiếp xúc với các chiến
sĩ cộng sản và sách báo cách mạng, lại được không khí đấu tranh sôi nổi cổ vũ,
ngòi bút Nguyễn Công Hoan xông xáo tung hoành, đứng vững hơn trên lập
15


trường hiện thực để đánh mạnh, đánh trúng hơn trước. Tiếng cười trào phúng
của ông càng sảng khoái, hả hê, nhưng lại có ý nghĩa xã hội nghiêm túc, sâu sắc.
Với bọn quan lại bên cạnh những truyện ngắn trực tiếp đả kích cay độc
thói dâm ô, bỉ ổi như: Vẫn còn trịch thượng, Chiếc đèn pin, Nạn râu, Tôi tự tử,
Nguyễn Công Hoan còn viết một loạt truyện khác tập trung vạch trần thói ăn
tiền hết sức tệ hại của chúng như: Thịt người chết, Gánh khoai lang, Chính sách
thân dân, Đồng hào có ma, Hé! Hé! Hé, Cái nạn ô tô, Ngượng mồm…
Khi viết về người nghèo khổ, ngòi bút Nguyễn Công Hoan thể hiện thấm

Trung thành, Cây mít, Trong chuyến xe lam…Tuy nhiên các tác phẩm của ông
thời kỳ này không được đánh giá cao.
Về truyện dài, từ sau cách mạng tháng Tám, đặc biệt từ 1954 trở đi,
Nguyễn Công Hoan chuyển sang viết thể loại tiểu thuyết đề tài lịch sử cách
mạng.
Tranh tối tranh sáng (1956), qua tác phẩm, Nguyễn Công Hoan đã dựng
lại thảm cảnh đầy bi đát và đau đớn của dân tộc - nạn đói 1945 - cái nạn đói làm
người ta nghĩ đến là rùng mình, rùng mình vì những cái xác khô bên đường, da
đen hơn cả chì, rùng mình về những câu chuyện chỉ có thể có trong truyện ma:
Chuyện một người đàn bà đã dóc cả thịt con ăn đỡ đói, chuyện cả nhà chết giữa
đường vì ăn phải thứ thổ tả của bọn thực dân cho chó ăn, chuyện cái xác không
chỗ chôn làm người ta phải đau, phải xót, phải tỉnh ngộ và nhận ra thứ đằng sau
tấm liếp màu hồng bọn phát xít thực dân vừa treo lên.
Hỗn canh hỗn cư (1961), viết về vấn đề đấu tranh của nhân dân lao động
dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt:
đế quốc Nhật, Pháp cấu kết với bọn địa chủ phong kiến phản động để bóc lột
nhân dân ta khiến mâu thuẫn giai cấp trở nên căng thẳng hơn bao giờ hết. Đồng
thời, mặt trận Việt Minh ra đời và ngày càng phát triển sâu rộng trong mọi tầng
lớp nhân dân.
Đống rác cũ (tập 1 - 1963) là một tác phẩm có giá trị hiện thực, một đóng
góp không thể thay thế được của Nguyễn Công Hoan về sự hiểu biết bản chất xã
17


hội cũ. Nhà văn Tô Hoài nhận xét: “Chỉ mới nói riêng về những chương miêu tả
gia đình một nhà nho, một gia đình phong kiến điển hình với những thói tục hủ
hậu , giam hãm và hành hạ những người phụ nữ trong ngưỡng cửa của gia đình,
người đọc phải sửng sốt trước tài năng của ông. Ông đã phơi bày, đã kết tội chế
độ phong kiến, giai cấp bóc lột một cách đặc sắc nhất” [7].
Anh con trai người bạn đọc ấy (viết 1965 in 1976), tác phẩm nói lên tấm

nghĩa kết tinh dung lượng hiện thực lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo
cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết.
Truyện ngắn là thể loại gần gũi với đời sống hàng ngày, súc tích, dễ đọc,
lại thường gắn liền với hoạt động báo chí, do đó có tác dụng, ảnh hưởng kịp thời
trong đời sống. Nhiều nhà văn lớn trên thế giới và nước ta đạt được đỉnh cao của
sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật chủ yếu bằng những truyện ngắn xuất sắc của
mình.
1.2.2. Truyện ngắn trào phúng
Theo Từ điển thuật ngữ văn học [15, 363], trào phúng “Một loại đặc biệt
của sáng tác văn học và đồng thời cũng là một nguyên tắc phản ánh nghệ thuật
trong đó các yếu tố của tiếng cười mỉa mai, châm biếm, phóng đại, khoa trương,
hài hước được sử dụng để, chế nhạo, chỉ trích, tố cáo, phản kháng… những cái
tiêu cực xấu xa, lỗi thời, độc ác trong xã hội”.
Trào phúng là dùng những lời lẽ bóng bẩy, kín đáo để cười nhạo, mỉa mai
kẻ khác, song trong lĩnh vực văn học, trào phúng gắn liền với phạm trù mĩ học,
với cái hài và các cung bậc hài hước umua, châm biếm.
Văn học trào phúng bao hàm một lĩnh vực rộng lớn, trong đó truyện ngắn
trào phúng là một trong những cung bậc của cái hài, được hiểu là truyện ngắn
“chứa đựng tiếng cười có nội dung phê phán, đả kích mạnh mẽ”. [15, 370]
1.2.3. Truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan
Nguyễn Công Hoan bắt đầu cầm bút khoảng những năm 1920 - 1923 và
khẳng định một cách mạnh mẽ, vững chắc tên tuổi của mình từ những năm 1929
- 1931 trở đi.
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status