Tuyển chọn, xây dựng hệ thống bài tập hóa học lớp 10 nâng cao, nhằm rèn luyện năng lực chủ động sáng tạo cho học sinh ở trường THPT - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

VÕ THỊ THU SANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2010


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

VÕ THỊ THU SANG

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Hóa họcMã
số: 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN MẠNH DUNG

Thành phố Hồ Chí Minh – 2010


MỤC LỤC
MỤC LỤC ........................................................................................................ 3
T
1

T
1

T
1

T
1

4.1. Khách thể nghiên cứu................................................................................. 7
T
1

T
1

5. Phạm vi nghiên cứu ...................................................................................................... 7
T
1

T
1

6. Giả thuyết khoa học ...................................................................................................... 7
T
1

T
1

7. Điểm mới của luận văn ................................................................................................. 8
T
1

1

1.2.1. Khái niệm ......................................................................................................... 10
T
1

T
1

1.2.2. Những phẩm chất của tư duy [23] ................................................................... 10
T
1

T
1

1.2.3. Các thao tác của tư duy [23] ............................................................................. 11
T
1

T
1

1.2.4. Những hình thức cơ bản của tư duy [ 23, 28]................................................... 12
T
1

T
1


T
1

1.3.1. Quan niệm về năng lực chủ động sáng tạo của học sinh .................................. 16
T
1

T
1

1.3.1.1. Khái niệm chủ động .................................................................................. 16
T
1

T
1

1.3.1.2. Khái niệm sáng tạo [ 5, 6, 17, 18, 19, 20, 21, 45, 48]............................... 16
T
1

T
1

1.3.1.3. Năng lực chủ động sáng tạo [ 5, 6, 19, 20, 21, 22, 48 ] ............................ 17
T
1

T
1

1.3.2.3. Rèn năng lực tư duy độc lập ..................................................................... 25
T
1

T
1

T
1


1.3.2.4. Bồi dưỡng hứng thú, kích thích học sinh sáng tạo và đổi mới ................. 25
T
1

T
1

1.3.2.5. Áp dụng phương pháp dạy học tích cực để rèn luyện năng lực chủ động
sáng tạo cho học sinh ............................................................................................. 26
T
1

T
1

1.4. Bài tập hóa học [17, 18, 23, 28, 54, 55] ................................................................... 28
T
1



1.4.5. Các xu hướng xây dựng BTHH mới hiện nay [54, 55] .................................... 32
T
1

T
1

1.5. Thực trạng việc sử dụng bài tập trong dạy học hóa học ở các trường phổ thông tỉnh
Khánh Hòa ...................................................................................................................... 33
T
1

T
1

1.5.1. Mục đích điều tra .............................................................................................. 33
T
1

T
1

1.5.2. Phương pháp điều tra........................................................................................ 33
T
1

T
1


T
1

T
1

2.1.3. Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính hệ thống, tính đa dạng ............................. 39
T
1

T
1

2.1.4. Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính vừa sức .................................................... 40
T
1

T
1

2.1.5. Hệ thống bài tập phải kích thích hứng thú, khơi dậy khả năng tự học và lòng
yêu thích bộ môn của học sinh ................................................................................... 40
T
1

T
1

2.1.6. Hệ thống bài tập phải có tác dụng kích thích khả năng tư duy, phát huy tính
tích cực nhận thức, phát huy NLCĐST của HS ......................................................... 40

1

T
1

2.2.4. Bước 4: Xây dựng các bài tập mới ................................................................... 41
T
1

T
1

2.2.5. Bước 5: Xắp xếp các bài tập thành từng dạng .................................................. 44
T
1

T
1

2.2.6. Bước 6: Kiểm tra xem các bài tập vừa xây dựng có phù hợp với mục đích và
các nguyên tắc đã đặt ra ............................................................................................. 44
T
1

T
1

2.2.7. Bước 7: Tham khảo ý kiến của đồng nghiệp, chuyên gia ................................ 44
T
1

T
1

2.3.1.2. Hệ thống bài tập ........................................................................................ 45
T
1

T
1

2.3.2 Chương nhóm Halogen ..................................................................................... 62
T
1

T
1

2.3.2.1. Mục tiêu của chương ................................................................................ 62
T
1

T
1

2.3.2.2. Hệ thống bài luyện tập .............................................................................. 63
T
1

T
1

T
1

T
1

3.5. Kết quả thực nghiệm .............................................................................................. 113
T
1

T
1

3.5.1. Phân phối tần số, tần suất,tần suất lũy tích và các tham số thống kê đặc trưng
.................................................................................................................................. 113
T
1

T
1

3.5.1.1. Bài thực nghiệm số 1(TN1) .................................................................... 113
T
1

T
1

3.5.1.2. Bài thực nghiệm số 2 (TN2) ................................................................... 115
T

T
1

3.5.2.1. Bài TN số 1 ............................................................................................. 122
T
1

T
1

3.5.2.2. Bài TN số 2 ............................................................................................. 123
T
1

T
1

3.5.2.3. Bài TN số 3 ............................................................................................. 125
T
1

T
1

3.5.2.4. Bài TN số 4 ............................................................................................. 127
T
1

T
1

T
1

T
1

TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 139
T
1

T
1

PHẦN PHỤ LỤC .......................................................................................... 144
T
1

T
1


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, nền giáo dục quốc dân cần phải có những
đổi mới phù hợp với sự phát triển của kinh tế – xã hội. Công cuộc đổi mới này đòi
hỏi nhà trường phải tạo ra những con người lao động tự chủ, năng động và sáng
tạo.
Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ IV đã chỉ rõ “… giáo dục và đào tạo là
động lực thúc đẩy và là điều kiện cơ bản đảm bảo việc thực hiện mục tiêu kinh tế –
xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước…”.

phần rèn luyện năng lực chủ động sáng tạo cho học sinh THPT.

3. Nhiệm vụ của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài nghiên cứu.
- Điều tra thực trạng việc sử dụng bài tập hóa học để rèn luyện năng lực chủ
động sáng tạo (NLCĐST) cho học sinh ở các trường trung học phổ thông tỉnh
Khánh Hòa.
- Tuyển chọn, xây dựng các bài tập hóa học thuộc chương Phản ứng hóa học và
Nhóm halogen lớp 10 nâng cao nhằm rèn luyện NLCĐST cho học sinh.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá kết quả nghiên cứu.

4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Qúa trình dạy học ở trường trung học phổ thông.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Việc tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập chương Phản ứng hóa học và
Nhóm halogen lớp 10 nâng cao nhằm rèn luyện năng lực chủ động sáng tạo cho học
sinh.

5. Phạm vi nghiên cứu
Hệ thống câu hỏi và bài tập hóa học lớp 10 nâng cao ( chương Phản ứng hóa
học, Nhóm halogen).

6. Giả thuyết khoa học
Nếu có các biện pháp tuyển chọn, xây dựng hệ thống bài tập hóa học và sử
dụng chúng một cách khoa học thì sẽ góp phần nâng cao năng lực chủ động sáng
tạo cho học sinh.


7. Điểm mới của luận văn

ĐHSP Tp. HCM.
- Lê Thị Thanh Bình (2005), Phát triển năng lực tư duy tích cực, độc lập, sáng
tạo của học sinh THPT thông qua bài tập hóa học vô cơ, luận văn thạc sĩ, ĐHSP
Hà Nội.
- Trần Nhật Nam (2007), Xây dựng và lựa chọn hệ thống bài tập về hợp chất
hữu cơ có nhóm chức lớp 11 THPT ban nâng cao nhằm phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của học sinh, luận văn thạc sĩ giáo dục học trường ĐHSP Hà Nội.
- Nguyễn Thị Mai (2008), Lựa chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa
học lớp 12 nhằm rèn luyện năng lực chủ động sáng tạo cho học sinh THPT (phần
kim loại, ban cơ bản), luận văn thạc sĩ giáo dục học trường ĐHSP Hà Nội.
- Nguyễn Huy Hòa (2007), Rèn luyện năng lực độc lập sáng tạo cho học sinh
THPT thuộc tỉnh Sơn La, luận văn thạc sĩ giáo dục học trường ĐHSP Hà Nội.
- Vương Cẩm Hương (2006), Rèn luyện năng lực chủ động sáng tạo cho học
sinh trong dạy học hóa học ở trường Trung học cơ sỏ, luận văn thạc sĩ giáo dục,
trường ĐHSP Hà Nội.
- Trần Thị Trà Hương (2009), Xây dựng hệ thống bài tập hóa vô cơ lớp 10
THPT nhằm củng cố kiến thức và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh, luận văn
thạc sĩ giáo dục học, trường ĐHSP Tp.HCM.
- Trần Thị Thanh Tâm (2008), Rèn luyện năng lực sáng tạo cho học sinh trong
dạy học hóa học chương Oxi – lưu huỳnh(Lớp 10 – Chương trình nâng cao), luận
văn thạc sĩ giáo dục học, trường ĐHSP Tp.HCM.


-…
Xu hướng hiện nay của lí luận dạy học là đặc biệt chú trọng đến hoạt động và
vai trò của học sinh (HS) trong quá trình dạy học, đòi hỏi học sinh phải làm việc
tích cực, tự lực sáng tạo để chiếm lĩnh tri thức. Vì vậy, cần phải nghiên cứu hệ
thống bài luyện tập hóa học trên cơ sở tư duy sáng tạo (TDST) của học sinh, từ đó
đề ra cách hướng dẫn học sinh tự lực giải và tìm ra những cách giải sáng tạo hơn,
thông minh hơn, ngắn gọn hơn thông qua đó mà rèn luyện năng lực CĐST cho học

quyết và tự giải quyết vấn đề.
- Tính khái quát: thể hiện ở chỗ khi giải quyết mỗi loạt nhiệm vụ sẽ đưa ra mô
hình khái quát. Từ mô hình khái quát này có thể vận dụng để giải quyết các nhiệm
vụ cùng loại.
1.2.3. Các thao tác của tư duy [23]
a. Phân tích
Là quá trình tách các bộ phận của sự vật hoặc hiện tượng tự nhiên của hiện
thực với các dấu hiệu và thuộc tính của chúng cũng như các mối liên hệ và quan hệ
giữa chúng theo một hướng xác định.
b. Tổng hợp
Tổng hợp là hoạt động tư duy kết hợp các bộ phận, các yếu tố đã được nhận
thức để nhận thức cái toàn bộ.
Phân tích và tổng hợp không phải là hai phạm trù riêng lẽ của tư duy. Đây là
hai quá trình có quan hệ biện chứng. Phân tích để tổng hợp có cơ sở và tổng hợp để
phân tích đạt được chiều sâu và bản chất của sự vật, hiện tượng. Phân tích và tổng
hợp là những thao tác cơ bản của tư duy, thường được dùng trong khi hình thành
phán đoán mới (quy nạp, suy diễn, suy lí tương tự) và ngay cả trong các thao tác tư
duy khác như so sánh, khái quát hóa....
c. So sánh
So sánh là xác định bằng trí óc sự giống nhau và khác nhau, sự đồng nhất và
không đồng nhất, sự bằng nhau và không bằng nhau giữa các sự vật và hiện tượng
của hiện thực.
Có thể tiến hành so sánh những yếu tố dấu hiệu bên ngoài có thể trực tiếp quan
sát được, nhưng cũng có thể tiến hành so sánh những dấu hiệu quan hệ bên trong
không thể nhận thức trực tiếp được mà phải tiến hành bằng hoạt động tư duy.
Nhờ so sánh người ta có thể tìm thấy các dấu hiệu bản chất giống nhau của các
sự vật và cả những dấu hiệu không bản chất của chúng.
d. Khái quát hóa – trừu tượng hóa



- Các phán đoán có sau gọi là kết luận


Như vậy muốn có suy lý phải thông qua chứng minh. Trong thực tiễn tư duy, ta
thường sử dụng suy lý hoặc để chứng minh, hoặc để bác bỏ cái gì đó.
Suy lý chia làm ba loại: Loại suy, suy lý quy nạp, suy lý diễn dịch.
- Loại suy: là hình thức tư duy đi từ riêng biệt này đến riêng biệt khác.
- Suy lý quy nạp: suy lý từ riêng biệt đến phổ biến, từ những hoạt động đến các
quy luật.
- Suy lý diễn dịch: là cách suy nghĩ đi từ cái chung, định luật, quy tắc, khái niệm
chung đến những sự vật hiện tượng riêng lẽ.
Tư duy là nguồn tài nguyên vốn có tột cùng của con người, tuy nhiên nguồn tài
nguyên này không có sẵn mà chỉ được hình thành trong cuộc sống mỗi người qua
sự tích cực tương tác giữa họ với các thành tựu của nền văn minh nhân loại. Vì vậy,
giáo dục tư duy nói chung và TDST nói riêng là một trong những nhiệm vụ hàng
đầu của các hệ thống giáo dục, trong đó giáo dục phổ thông có vai trò quan trọng
hơn hết.
1.2.5. Tư duy sáng tạo
Theo Tôn Thân: “Tư duy sáng tạo là một dạng tư duy độc lập, tạo ra ý tưởng mới,
có hiệu quả cao trong giải quyết vấn đề” [ 27, tr 35].
Tính sáng tạo của tư duy là năng lực tự khám phá cái mới, tự tìm cách chứng
minh những điều mà người học chưa biết. Cái mới ở đây chủ yếu là cái mới đối với
bản thân người học.
TDST được đặc trưng bởi những yếu tố như: tính mềm dẻo (dễ dàng chuyển từ
hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác, suy nghĩ không rập khuôn); tính
nhuần nhuyễn (khả năng tìm được nhiều giải pháp trên nhiều góc độ và tình huống
khác nhau, khả năng xem xét đối tượng dưới những khía cạnh khác nhau), tính nhạy
cảm vấn đề (khả năng nhanh chóng phát hiện vấn đề, khả năng phát hiện ra mâu
thuẫn, sai lầm, thiếu logic, chưa tối ưu từ đó có nhu cầu cấu trúc lại, tạo ra cái mới)
[46, tr 11].

Tư duy hóa học được đặc trưng bởi phương pháp nhận thức hóa học nghiên cứu
các chất và các quy luật chi phối quá trình biến đổi các chất. Khi tương tác với
nhau, xảy ra sự biến đổi nội tại của mỗi chất để tạo thành các chất mới. Sự biến đổi
này tuân theo các nguyên lý, quy luật, những mối quan hệ định tính và định lượng
của hóa học. Mọi sự suy nghĩ, tư duy phải tuân theo các quy luật này.


Cơ sở của tư duy hóa học là sự liên hệ quá trình phản ứng với sự tương tác giữa
các tiểu phân vô cùng nhỏ bé của thế giới vi mô (phân tử, nguyên tử, ion,
electron...).
Đặc điểm của quá trình tư duy hóa học là sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất giữa
cái bên trong và cái bên ngoài, giữa cái cụ thể và cái trừu tượng nghĩa là những hiện
tượng cụ thể quan sát được với những hiện tượng cụ thể nhưng không nhìn thấy
được mà chỉ dùng ký hiệu, công thức để biểu diễn mối liên hệ bản chất của các hiện
tượng nghiên cứu.
Vậy bồi dưỡng năng lực tư duy hóa học cho HS là luyện cho các em biết vận
dụng thành thạo các thao tác tư duy và phương pháp logic, dựa vào những dấu hiệu
quan sát được mà phán đoán về tính chất và sự biến đổi nội tại của chất, của quá
trình.
1.2.6.2.Việc phát triển tư duy của học sinh trong dạy học hóa học
Dạy học hóa học có ý nghĩa to lớn trong việc phát triển tư duy của HS, vì thông
qua việc nghiên cứu các vấn đề lí thuyết cơ bản như các khái niệm nguyên tử, phân
tử, các phản ứng hóa học, các định luật hóa học..., qua sử dụng thí nghiệm... và đặt
biệt trong hoạt động giải bài tập, HS sẽ phải quan sát, phải huy động tất cả các giác
quan cảm thụ, thực hiện những suy lí quy nạp, diễn dịch, phân tích, tổng hợp, khái
quát hóa, trừu tượng hóa... để nghiên cứu và đi đến những kết luận cần thiết.
HS chỉ thực sự lĩnh hội được tri thức khi tư duy của họ được phát triển. Để phát
triển tư duy nói chung và phát triển tư duy hóa học cũng như TDST cho HS, trước
hết trong quá trình dạy học GV phải giúp HS thông hiểu kiến thức hóa học một cách
sâu sắc, khoa học, không máy móc, sau đó vận dụng những kiến thức ấy vào bài

thông và đại học, GS - TSKH Nguyễn Cương có đề cập đến ý kiến của Robert
Ficher cho rằng: Sáng tạo là quá trình trở nên nhạy cảm đối với những khó khăn,
khiếm khuyết, những lỗ hổng kiến thức, những yếu tố còn thiếu, những bất ổn…, là
quá trình xác định khó khăn, tìm kiếm giải pháp, đưa ra những phỏng đoán, nêu lên
những giả thuyết về sự khiếm khuyết, kiểm tra và tái kiểm tra những giả thuyết đó
và có thể là cả điều chỉnh và kiểm tra lại những điều chỉnh đó và cuối cùng là truyền
đạt kết quả [17 tr 320].
Trên cơ sở phân tích các phát minh và tổng kết các công trình nghiên cứu sáng
tạo trong thực tiễn khoa học giáo dục, người ta thấy có ba loại cơ chế sáng tạo:
a. Cơ chế trực giác
Trong nghiên cứu nhiều khi có các ý tưởng độc đáo xuất hiện hết sức đột
ngột, bỏ qua tất cả các bước, các thao tác tư duy thông thường và ngay tức khắc


người ta nhìn thấy rõ mọi điều cần thiết, lúc ấy ý tưởng xuất hiện như một tia chớp.
Cái nhẩy vọt của tư duy đó được gọi là trực giác. Trực giác là sản phẩm của tài
năng, là kết quả của sự tích lũy kiến thức, kinh nghiệm, là kết quả của sự say mê,
kiên trì lao động.
b. Cơ chế Algorit
Algorit là bản ghi chính xác trật tự các bước đi để giải một bài toán sáng tạo
khi tư duy của nhà nghiên cứu tuân thủ các bước đi với một nguyên tắc, một trật tự,
tạo thành chuỗi thao tác logic hợp lí trong quá trình nghiên cứu khoa học, đặc biệt là
trong sáng tạo kĩ thuật, được gọi là algorit sáng tạo hay còn được gọi là thuật toán
sáng tạo. Tư tưởng cơ bản của Algorit sáng tạo là: theo những quy tắc nhất định với
những biến đổi đặc biệt bằng các thủ thuật chuyên môn để phá vỡ sức ỳ tâm lí của
lối tư duy truyền thống và tạo nên quá trình tưởng tượng mới có tính sáng tạo, đồng
thời tránh được những phép thử-sai một cách vô ích.
c. Cơ chế Ơristic
Từ giả thuyết khoa học, như là một dự báo định hướng, con người tìm cách
chứng minh để khẳng định nó. Đó là quá trình đề xuất và chứng minh một giả

- NL biết đề xuất các giải pháp khác nhau khi phải xử lý một tình huống. Khả
năng huy động các kiến thức cần thiết để đưa ra giả thuyết hay các dự đoán khác
nhau khi phải lí giải một hiện tượng.
- NL xác nhận bằng lí thuyết và thực hành các giả thuyết (hoặc phủ nhận nó).
NL biết đề xuất các phương án thí nghiệm hoặc thiết kế sơ đồ thí nghiệm để kiểm
tra giả thuyết hay hệ quả suy ra từ giả thuyết hoặc để đo một đại lượng nào đó với
hiệu quả cao nhất có thể có được trong những điều kiện đã cho.
- NL nhìn nhận một vấn đề dưới những góc độ khác nhau, xem xét đối tượng ở
những khía cạnh khác nhau, đôi khi mâu thuẫn nhau. NL tìm ra các giải pháp mới,
chẳng hạn đối với bài toán hóa học, có nhiều cách nhìn đối với việc tìm kiếm lời
giải, năng lực kết hợp nhiều phương pháp giải bài tập để tìm ra một phương pháp
mới, độc đáo.
Với HS phổ thông, tất cả những điều mà học sinh “tự nghĩ ra” khi GV chưa
dạy, các em chưa đọc sách, chưa biết được nhờ trao đổi với bạn đều coi như mang
“tính sáng tạo”. Sáng tạo là một sự nhảy vọt trong sự phát triển năng lực nhận thức
của HS. Không có con đường logic để dẫn đến sáng tạo mà bản thân HS phải tự tìm
lấy bằng kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của mình [17, tr 320].


Do đó muốn hình thành và phát triển NLCĐST cho HS thì phải chuẩn bị cho
các em các điều kiện cần thiết để họ có thể hoạt động và phát huy tối đa năng lực
của mình nhằm đem lại những kết quả mới mẻ nhất [17, tr 321].
1.3.2. Các biện pháp rèn luyện năng lực chủ động sáng tạo cho học sinh
[17, 19, 20, 21, 22, 23, 26, 27, 32, 34, 35, 42, 44, 48 ]
GS.TSKH.Nguyễn Cương cho rằng chỗ tốt nhất của sự phát triển của trẻ em là
vùng phát triển gần. Vùng đó là khoảng cách giữa trình độ hiện tại của HS và trình
độ phát triển cao hơn cần vươn tới. Nói một cách hình ảnh là chỗ trống giữa nơi
mà con người phải giải quyết vấn đề đang đứng và nơi mà họ phải đạt đến để có
thể thực hiện được với sự cố gắng nỗ lực của bản thân dưới sự giúp đỡ của người
lớn hay của những người ngang hàng nhưng có khả năng hơn một chút. Không có

những vấn đề nhất định nào đó, còn cần phải biết phân tích, so sánh đối chiếu, nhìn
thấy những dấu hiệu và mối liên hệ bản chất, khái quát hóa… Rõ ràng, óc quan sát
và năng lực tư duy luôn có quan hệ mật thiết trong quá trình nhận thức.
Hóa học là môn khoa học thực nghiệm và lý thuyết, phương pháp nghiên cứu,
giảng dạy, học tập cũng trên cơ sở quan sát, thí nghiệm để phân tích, so sánh, trừu
tượng hóa, khái quát hóa thành các khái niệm, định luật, học thuyết..rồi từ lý thuyết
đã có vận dụng nghiên cứu các sự vật và hiện tượng khác ở phạm vi rộng hơn thông
qua con đường diễn dịch. Trong dạy học hóa học ở phổ thông đối tượng để HS quan
sát có thể là các chất, công thức, thí nghiệm, hiện tượng tự nhiên, phương trình phản
ứng, bài tập thực nghiệm hay bài toán có sử dụng hình vẽ, kí hiệu…
Ví dụ:
a. Quan sát một hiện tượng tự nhiên
Ví dụ: Quan sát hiện tượng tạo thạch nhũ trong các hang động.
Rèn cho HS những kỹ năng khi quan sát và biết cách đặt câu hỏi như:
- Thạch nhũ được tạo ra theo những cơ chế nào?
- Tại sao hiện tượng thạch nhũ thường tạo ra trong các hang động?
- …
b. Quan sát một bài tập thực nghiệm
Vd: Hãy tách NaOH ra khỏi hỗn hợp với NaCl.
Rèn cho học sinh cách hình dung các bước khi quan sát một bài tập thực
nghiệm:
-

Tìm cơ sở lý thuyết để tách NaOH ra khỏi NaCl.

-

Tính toán lí thuyết (với bài định lượng).

-


thu được hỗn hợp rắn X. Hoà tan X trong dung dịch HNO 3 đặc, nóng, dư thì thể tích
R

R

khí NO 2 (sản phẩm khử duy nhất ) thu được ở điều kiện chuẩn là
R

R

A. 0,672 lít.

B. 0,896 lít.

C. 1,12 lít.

D. 1,344 lít.

Tóm tắt nội dung bài toán như sau:
0
 Al
+3
 Al
 Al3+

2 O3

+3
 3+ +4

3

Một số HS giải theo cách thông thường, viết phương trình, đặt ẩn số và giải, tuy
nhiên qúa trình giải sẽ rất lúng túng vì nhiều ẩn số nhưng ít dữ kiện, phải dùng
nhiều thủ thuật tính toán.
Một số em nhìn ra được vấn đề của bài toán: Tất cả các phản ứng của Al với các
chất (kể cả dung dịch HNO 3 ) và tất cả các phản ứng của HNO 3 đặc, nóng với các
R

R

R

R

chất có trong hỗn hợp X để tạo ra NO 2 đều là các phản ứng oxi hóa khử và số e
R

R

nhường, nhận có liên quan chặt chẽ vói nhau. Do đó để giải nhanh bài tập này nên
sử dụng phương pháp bảo toàn electron.
Al là chất nhường e, còn N+5 (HNO 3 ) nhận e.
P

3e

Al

-




0,06

P

Áp dụng định luật bảo toàn electron ta có:
3.n Al = số mol NO 2
R

R

R


Suy ra số mol NO 2
R

R

Suy ra thể tích NO 2
R

R

=

3. 0,54/ 27



R

B. H 2 O 2
R

R

R

B. dung dịch KNO3

R

C. H 2 SO 4
R

R

A. KMnO4

R

C. MnO2

Phân tích hình vẽ 1.1 và rút ra các nhận xét. Dụng cụ này dùng để điều chế khí
từ một chất rắn và một chất lỏng, hoặc hai chất lỏng với nhau. Tuy nhiên trong hình
trên (2) ở dạng rắn như vậy loại các trường họp (2) là chất lỏng.Vận dụng lý thuyết
và tiến hành chọn lựa (1) là B, (2) là C.
Để học sinh quan sát tốt

nghĩ độc lập sẽ khó khăn và TDST lại càng khó khăn hơn.
Kiến thức cơ bản là cơ sở của trí thông minh, TDST và NLCĐST. Vì thế, nếu
không nắm được những kiến thức ấy HS sẽ không có sơ sở để suy nghĩ một cách
đúng đắn, cũng như để giải quyết những bài toán và các vấn đề của hóa học. Qua
quá trình thực tế giảng dạy của bản thân, tôi thấy hỏng kiến thức cơ bản là một
trong những chướng ngại nhận thức (những yếu tố gây cản trở cho quá trình lĩnh hội
tri thức, quá trình nhận thức của HS) ảnh hưởng trực tiếp cho quá trình nhận thức
tiếp theo, cản trở sự phát triển của tư duy cũng như khả năng sáng tạo của HS.
Để HS “nhớ” các kiến thức hóa học cơ bản, GV cần :
- Thường xuyên thực hiện các hình thức củng cố kiến thức sau mỗi phần, mỗi
bài và mỗi chương.


- Áp dụng các phương pháp dạy học tích cực để tăng cường hoạt động tự lực
của các em, tăng khả năng hứng thú và khả năng tập trung vào nội dung bài học.
- Rèn cho HS có thói quen không bằng lòng với những gì chưa hiểu và phải hỏi
ngay.
- Cho HS luyện tập các dạng bài tập vận dụng kiến thức hóa học cơ bản.
-...
b. Rèn các thao tác tư duy và khả năng suy luận logic
Muốn có phong cách học tập chủ động sáng tạo thì người học phải thực hiện
thành thạo các thao tác tư duy, nhiều công trình nghiên cứu cho thấy phân tích, tổng
hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa là những thao tác tư duy cơ bản mà nếu
không có kỹ năng áp dụng chúng thì sẽ khó hoặc không thể nắm được các tri thức
về hóa học. Tuy nhiên, trên thực tế ở phổ thông năng lực này của đa số các em còn
thấp, thể hiện rõ khi trả lời vấn đáp và cách lập luận khi giải một bài toán. Để rèn
năng lực tư duy và khả năng suy luận logic thông qua bài toán, người thầy phải sử
dụng các bài toán ở nhiều mức độ khó, dễ khác nhau, yêu cầu các em giải những bài
toán có nội dung hóa học phong phú phải biện luận theo bản chất và tính chính xác
của hóa học, sao cho các đối tượng HS đều phải độc lập suy nghĩ, phải làm bộc lộ

có quy luật, có phương pháp. Vì thế, trong quá trình dạy học, GV nên chú ý nêu câu
hỏi cho HS trả lời, nêu từng vấn đề nhỏ để tập dần cho các em cách nghiên cứu các
vấn đề, tự đề xuất cách giải quyết, tự rút ra kết luận. Mặc khác, người thầy phải
giúp học trò của mình biết phương pháp suy nghĩ độc lập và thực hiện hành động
độc lập dưới nhiều hình thức khác nhau như: xây dựng đa dạng các bài tập ở nhiều
mức độ khác nhau cho HS về nhà làm, khuyến khích các em tập trung tư tưởng
nghe giảng, tập cho họ biết cách tự quan sát, khám phá các hiện tượng tự nhiên
trong cuộc sống, rồi tiến hành vận dụng cơ sở lí thuyết đã học để giải thích…
Khi HS đã có óc quan sát, óc liên tưởng, khả năng suy luận logic, sử dụng thành
thạo và linh hoạt các thao tác tư duy, nắm vững kiến thức cơ bản thì khả năng suy
nghĩ linh hoạt và ST của HS cũng sẽ phát triển, tức là đã phát huy được năng lực
sáng tạo của chính bản thân họ.
1.3.2.4. Bồi dưỡng hứng thú, kích thích học sinh sáng tạo và đổi mới
Các yếu tố tinh thần như: hứng thú, xúc cảm, nhu cầu, nguyện vọng, động cơ, ý
chí… sẽ làm tăng gấp bội chất lượng của hoạt động trí tuệ.
K.D. Usinxki đã nói: “ Một sự học tập nào mà chẳng có hứng thú gì cả và chỉ
biến hành động bằng sức mạnh cưỡng bức thì giết chết mất lòng ham muốn học tập
của cá nhân”. Như vậy hứng thú là một trong những yếu tố quan trọng giúp làm



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status