GIẢI PHÁP GIA TĂNG LỢI NHUẬN TỪ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI PHÚ ĐỨC - Pdf 32

MỤC LỤC
Trang
Mục lục………………………………………………………………………. 1
Lời nói đầu…………………………………………………………………....3
CHƯƠNG 1: LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH
TẾ THỊ TRƯỜNG……………………………………………………..…….4
1.1. Lợi nhuận và vai trò của lợi nhuận đối với doanh nghiệp ………...4
1.1.1 Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường………………………………. 4
1.1.2 Lợi nhuận của doanh gnhiệp ………………………………………………..7
1.2 Xác định lợi nhuận của doanh nghiệp………………………………13
1.2.1 Các yếu tố cấu thành lợi nhuận của doanh nghiệp………………..……13
1.2.2 Phương pháp xác định lợi nhuận của doanh nghiệp………………..….14
1.2.3 Tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp…………………………………..….23
1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp……………...29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ LỢI NHUẬN CỦA CÔNG TY TNHH
THƯƠNG MẠI PHÚ ĐỨC…………………………………….………….34
2.1 Tổng quan về công ty TNHH thương mại Phú Đức………...………..34
2.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của công ty TNHH thương
mại Phú Đức………………………………………………………..…………34
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của công ty……………………….…………………………34
2.1.3 Đặc điểm công ty…………………………………………..…………………36
2.2 Thực trạng lợi nhuận của công ty TNHH thương mại Phú Đức…....37
2.2.1 Thực trạng hoạt động kinh doanh……………………………………..…...37
2.2.2 Tình hình tài chính trong công ty TNHH thương mại Phú Đức….…….37
2.2.3 Tình hình thực hiện nghĩa vụ ngân sách Nhà nước năm 2008….……...49
2.3 Nhận xét về lợi nhuận của công ty TNHH thương mại Phú Đức…....52
2.3.1 Kết quả đạt được……………………………………….…………………….52
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân…………………………………………………….53
2.3.2.1 Hạn chế ………………………………………………..…………………...53
2.3.2.2 Nguyên nhân………………………………………...……………………...53
- 1-

Chương 3:
Giải pháp làm tăng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của Công ty
TNHH thương mại Phú Đức

- 3-
CHƯƠNG 1:
LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG
1.1. Lợi nhuận và vai trò của lợi nhuận đối với doanh nghiệp.
Từ những năm 90 trở lại đây, có rất nhiều loại hình doanh nghiệp khác
nhau ra đời, do cơ chế luật pháp thông thoáng, tư duy con người thay đổi và
phát triển. Vậy doanh nghiệp là gì? Nó có phải đơn thuần chỉ là một cửa hàng
buôn bán lặt vặt ngoài phố, hay những nhà xưởng sản xuất xe đạp Thống nhất,
những bao phân lân để rồi khi không có tiền thì lấy chính sản phẩm đó trả thay
tiền lương?
Chúng ta sẽ đi tìm hiểu xem doanh nghiệp sẽ được hiểu như thế nào là
đúng nghĩa nhất.
1.1.1. Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Theo “Luật Doanh nghiệp” ban hành ngày 12/6/1999 thì :
“Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao
dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục
đích thực hiện hoạt động kinh doanh”. Hoạt động kinh doanh ở đây được hiểu
là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ
sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm
mục đích sinh lời.
Như thế có thể hiểu doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách
pháp nhân, hoạt động kinh doanh trên thị trường nhằm tăng giá trị của chủ sở
hữu.
ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều loại hình doanh nghiệp như : Doanh
nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp doanh, công ty

pháp nhân, chủ doanh nghiệp phải chịu tránh nhiệm vô hạn đối với các nghĩa
vụ và các khoản nợ, không có sự tách biệt giữa tài sản cá nhân và tài sản của
doanh nghiệp. Thời gian hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc hoàn toàn vào
người chủ sở hữu doanh nghiệp. Khả năng thu hút vốn của loại hinh doanh
nghiệp này bị hạn chế bởi nó phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng của người chủ
sở hữu.
Kinh doanh góp vốn là loại hình doanh nghiệp rất phát triển ở nước ta
hiện nay,do việc thành lập doanh nghiệp này hết sưc dễ dàng với chi phí thấp,
một số trường hợp cần giấy phép kinh doanh. Các thành viên chính thức có
trách nhiệm vô hạn với các khoản nợ. Nếu như một thành viên không hoàn
thành trách nhiệm của mình thì phần còn lại sẽ do các thành viên khác hoàn
trả. Tuổi thọ của doanh nghiệp hoàn toàn phụ thuộc vào các thành viên chính
thức, doanh nghiệp sẽ tan vỡ nếu một thành viên chết hoặc rút vốn. Việc huy
động vốn của loại hình doanh nghiệp này cũng phụ thuộc hoàn toàn vào khả
năng, uy tín của các thành viên chính thức, do vậy nó cũng khá hạn chế. Lãi
- 5-
thu được từ hoạt động kinh doanh của các thành viên phải chịu thuế thu nhập
cá nhân.
Hình thức cuối cùng là công ty: đây là loại hình doanh nghiệp mà ở đó
có kết hợp ba loại lợi ích: Các cổ đông(chủ sở hữu), của hội đồng quản trị và
của các nhà quản lý. Theo truyền thống, cổ đông kiểm soát toàn bộ phương
hướng, hoạt động và chính sách của công ty. Cổ đông bầu nên hội đồng quản
trị, sau đó HĐQT lựa chọn ban quản lý. Các nhà quản lý hoạt động theo
nguyên tắc đem lại lợi ích tốt nhất cho các cổ đông. Việc tách rời quyền sở
hữu khỏi các nhà quản lý mang lại lợi thế cho công ty so với kinh doanh cá thể
và góp vón như:
+ Quyền sở hữu có thể dễ dàng chuyển nhượng cho cổ đông mới.
+ Sự tồn tại của công ty không phụ thuộc vào số lượng, tuổi thọ của các cổ
đông.
+ Trách nhiệm của các cổ đông chỉ giới hạn tại phần vốn góp của cổ đông

cách làm ăn của doanh nghiệp là để đạt được mục tiêu sự phát triển bền vững –
tối đa hoá lợi nhuận.
Nếu xa rời mục tiêu này, doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại lâu được.
Việc tìm hiểu chỉ tiêu này, sẽ thấy được tầm quan trọng của nó.
1.1.2. Lợi nhuận của doanh nghiệp
* Khái niệm và nguồn gốc của lợi nhuận
Lợi nhuận là thước đo, là chỉ tiêu để đánh giá sự làm ăn có hiệu quả
hay không của doanh nghiệp.
Sự thay đổi liên tục trong phương thức sản xuất kinh doanh, những
chiến lược mới trong phương thức quản lý. Mục tiêu của nó là để cho doanh
nghiệp có thể tồn tại bền vững và từ đó là đem lại nhiều lợi nhuận hơn nữa.
Lợi nhuận : Chỉ tiêu mà mọi thời kỳ kinh tế, mọi thành phần kinh tế đều
quan tâm và lấy đó làm đích để hướng tới, từ đây cũng nảy sinh rất nhiều
những quan điểm khác nhau về lợi nhuận
- Các nhà kinh tế học cổ điển trước K.Mark cho rằng, “cái phần trội lên
nằm trong giá bán so với chi phí là lợi nhuận”. Theo Adam Smith lợi nhuận là
“ khoản khấu trừ thứ hai” vào sản phẩm của lao động. Còn theo Ricardo “ lợi
nhuận là phần giá trị thừa ra ngoài tiền công”
- K.Mark thì cho rằng “ giá trị thặng dư, hay phần trội lên nằm trong
toàn bộ giá trị của hàng hoá, trong đó lao động thặng dư hay là lao động không
được trả công của công nhân đã được vật hoá thì tôi gọi là lợi nhuận.
- Các nhà kinh tế học hiện đại như Samuelson và W. D . Nordhaus lại
cho rằng “ lợi nhuận là khoản thu dôi ra, bằng tổng số thu trừ đi tổng số chi
hay nó cách khác lợi nhuận được định ngiã là “sự chênh lệch giữa tổng thu
nhập và tổng chi phí” của một doanh nghiệp. David Begg thì cho rằng lợi
nhuận là “khoản dôi ra của doanh thu so với chi phí”.
- 7-
Các khái niệm trên tuy được phát biểu khác nhau song đều có điểm
chung, là coi lợi nhuận là số phần thừa ra từ chênh lệch giữa những khoản thu
được và chi phí phải bỏ ra.

hoàn liên tục, chu kỳ này nối tiếp chu kỳ khác. Để có thể tiếp tục vòng quay
này phải có vốn đầu tư vào, điều này không thể mãi đòi hỏi từ chủ sở hữu bởi
- 8-
không ai có một nguồn lực vô hạn như vậy. Để có thể tái mở rộng sản xuất, lợi
nhuận chính là nguồn lực cần thiết và cần phải có. Người ta sẽ phân chia
khoản lợi nhuận đó như thế nào? Giữ lại toàn bộ để tiêu dùng? Đầu tư toàn
bộ vào tái sản xuất hay có những phương thức nào khác? Điều này hoàn toàn
phụ thuộc vào người chủ doanh nghiệp. Nhưng hiện nay có một phương pháp
chung mà các doanh nghiệp hay áp dụng để phân phối lợi nhuận.
Lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp một phần dùng để chia lãi cổ
phần, còn lãi là lợi nhuận không chia. Tỷ lệ phần lợi nhuận chia lãi và không
chia tuỳ thuộc vào chính sách của Nhà nước (Đối với doanh nghiệp Nhà nước)
hay chính sách cổ tức cổ phần của đại hội cổ đông ( Đối với doanh nghiệp
khác) ở mỗi doanh nghiệp trong từng thời kỳ khác nhau.
Đối với các doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam, lợi nhuận sau thuế sau
khi nộp phạt và các khoản khác nếu có được trích lập các quỹ của doanh
nghiệp như quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ dự phòng trợ
cấp mất việc làm, quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi.
*Các quỹ doanh nghiệp:
+ Quỹ đầu tư phát triển: Quỹ này được sử dụng vào các mục đích sau:
Đầu tư mở rộng và phát triển kinh doanh
Đổi mới , thay thế thiêt bị máy móc, dây chuyền công nghệ, nghiên
cứu, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Đổi mới trang thiết bị, điều kiện làm việc của doanh nghiệp.
Đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ cho các cán
bộ công nhân viên của doanh nghiệp.
Bổ sung vốn lưu động.
Tham gia liên doanh, liên kết, mua cổ phiếu.
Trích nộp cấp trên ( Nếu có)
+ Qũy dự phòng tài chính: Dùng để bù đắp khoản chênh lệch từ những thiệt

HĐQT) quyết định sau khi có ý kiến tham gia của Công đoàn doanh nghiệp
trên cơ sở năng suất lao động, thành tích công tác và mức lương cơ bản của
mỗi cán bộ, CNV trong doanh nghiệp.
Thưởng đột xuất cho cá nhân, tập thể trong doanh nghiệp có sáng kiến
cải tiến kỹ thuật mang lại hiệu quả kinh doanh.
Việc phân chia lợi nhuận ra thành các quỹ là việc làm cần thiết, nó có
thể giúp cho doanh nghiệp phản ứng một cách nhanh chóng đối với những rủi
ro sảy ra và khích lệ tinh thần cho các cá nhân có thành tích. Ngoài ra, việc
phân chia lợi nhuận thành quỹ dự phòng tài chính tạo ra một tâm lý an tâm hơn
trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Qua một số phân tích ở trên, ta có thể thấy đựơc lợi nhuận là vô cùng
quan trọng đối với doanh nghiệp. Vậy ngoài doanh nghiệp ra, lợi nhuận còn có
vai trò nào khác? Chúng ta sẽ xem xét ở phần dưói đây:
- 10-
Vai trò của lợi nhuận.
Lợi nhuận không chỉ là yếu tố cần thiết cho sự tồn tại của doanh nghiệp
mà còn là nguồn dinh dưỡng chính nuôi dưỡng nền kinh tế của một quốc gia.
Lấy gì để thu thuế khi doanh nghiệp làm ăn thua lỗ? Việc xem xét vai trò của
lợi nhuận đối với từng đối tượng cụ thể sẽ làm chúng ta hiểu tầm quan trọng
của nó.
*Đối với doanh nghiệp
Mục tiêu của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong nền
kinh tế thị trường là lợi nhuận và tối đa hoá lợi nhuận. Nó là chỉ tiêu tổng hộp
nói lên hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Lợi nhuận là động cơ, mục
đích của nhà đầu tư khi bỏ vốn ra để kinh doanh. Điều này được thể hiện:
Lợi nhuận là nguồn tích luỹ quan trọng để doanh nghiệp bổ xung vốn
vào mở rộng sản xuất kinh doanh. Bởi vì có lợi nhuận thì mới có thể trích lợi
nhuận, lập các quỹ trong doanh nghiệp như: Quỹ khuyến khích phát triển sản
xuất, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi…Từ các quỹ này, doanh nghiệp có thể bổ
xung vốn lưu động, vốn cố định khi điều kiện sản xuất – kinh doanh đòi hỏi.

đến cùng với sản phẩm, đặc biệt thúc đẩy năng suất lao động, cải tiến kỹ thuật,
tiết kiệm nguyên nhiên vật liệu để hạ giá thành sản phẩm.
* Đối với nền sản xuất xã hội.
Trước hết ta thấy, thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước,
nhằm thoả mãn nhu cầu nền kinh tế quốc dân, là nguồn duy trì bộ máy hành
chính, là nguồn củng cố và tăng cường nguồn lực quốc phòng, cải tiến đời
sống vật chất, văn hóa tinh thần của nhân dân. Muốn thu được thuế thì doanh
nghiệp phải làm ăn có lãi. Sự phát triển của các doanh nghiệp tạo ra sự tích luỹ
trong xã hội, tạo sự ổn định về mặt kinh tế cho một quốc gia, từ đó có sự ổn
định về chính trị.
Lợi nhuận là yếu tố thúc đẩy sự phát triển xã hội, thông qua việc doanh
nghiệp liên tục cải tiến khoa học kỹ thuật và mở rộng không ngừng để có được
mức thu nhập như mong muốn. Lấy ví dụ như trong thời kỳ bao cấp, sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp quốc doanh phụ thuộc hoàn toàn vào sự bao
cấp của Nhà nước, vốn do Nhà nước cấp phát hoàn toàn, sử dụng hiệu quả như
thế nào doanh nghiệp hoàn toàn không chịu trách nhiệm, lỗ đã có Nhà nước
bù. Vì thế trong thời kỳ này, doanh nghiệp làm ăn không năng động do động
lực kích thích bị thui chột, tình trạng thua lỗ kéo dài, từ đó nhìn toàn cảnh xã
hội là nghèo nàn, lạc hậu.
Từ khi xoá bỏ chế độ kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, doanh nghiệp
chuyển sang chế độ hoạch toán kinh doanh, bộ mặt nền kinh tế có sự thay đổi
hết sức tích cực. Doanh nghiệp hoạt động có mục đích của nó, khiến cho nó
trở nên năng động, sáng tạo và luôn đổi mới mình.
Như vậy, có thể đi đến kết luận: lợi nhuận có vai trò vô cùng to lớn đối
với nền kinh tế, nó chính là động lực, mục tiêu để doanh nghiệp hoạt động và
- 12-
phát triển, là nguồn tích luỹ của xã hội, là sự thể hiện sức mạnh của nền kinh
tế .
Trên đây, chúng ta thấy sự cần thiết khi doanh nghiệp làm ăn có lãi,
nhưng việc tính toán một cách chính xác doanh nghiệp đó có thực sự có lợi

Như vậy, lợi nhuận của doanh nghiệp bao gồm: lợi nhuận từ hoạt động
sản xuất – kinh doanh, lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi nhuận từ hoạt
động bất thường.
Việc cần thiết bây giờ là làm thế nào có thể tính toán các khoản lợi
nhuận này? Chúng ta sẽ tính toán theo phương pháp sau:
1.2.2. Phương pháp xác định lợi nhuận của doanh nghiệp.
Như đã định nghĩa ở trên, lợi nhuận được hiểu là phần chênh lệch giữa
doanh thu và chi phí, nhưng thực tế thì cũng không hoàn toàn như vậy, bởi vì
phần thu nhập này lại phải chịu một phần thuế thu nhập do Nhà nước đánh. Vì
thế, ta sẽ đưa ra hai khái niệm sau:
* Lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp: bao gồm lợi nhuận từ hoạt động
kinh doanh, lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi nhuận từ hoạt động bất
thường.
* Lợi nhuận sau thuế ( thu nhập sau thuế) của doanh nghiệp là chênh lệch
giữa lợi nhuận trước thuế và thuế thu nhập doanh nghiệp.
Trong phần nghiên cứu dưới đây, lợi nhuận đề cấp là lợi nhuận trước
thuế, gọi chung là lợi nhuận của doanh nghiệp. Như đã nói ở phần trên:
- 14-
Thuế thu
nhập doanh
nghiệp
Thu nhập
trước thuế
Thuế suât thuế thu
nhập doanh
nghiệp
=
X
Lợi
nhuận sau

Chi phí hoạt động bất thường là những khoản chi như : chi phạt thuế, bị
phạt vi phạm hợp đồng, chi cho thanh lý, nhượng bán tài sản cố định…
Thực ra đây là hợp đồng không thường xuyên và ít xảy ra trong doanh
nghiệp nên tỷ trọng lợi nhuận từ hoạt động này thường rất nhỏ và có thể dễ
dàng hoạch toán trong một chu kỳ kinh doanh.
Đối với những doanh nghiệp cho thuê tài chính, hay đối với các nhân hàng thì
lợi nhuận thu được từ hoạt động này chiếm tỷ trọng lớn nhất. Doanh thu từ
hoạt đọng tài chính bao gồm: khoản thu từ việc mua bán trái phiếu, cổ phiếu,
thu nhập từ hoạt động liên doanh liên kết, thu nhập từ hoạt động cho thuê tài
sản, thu nhập từ hoạt động gửi tiền vào ngân hàng.
Chi phí cho hoạt động tài chính là các chi phí cho việc mua bán chứng
khoán, chi phí cho hoạt động liên doanh, hợp doanh, góp vốn cổ phần, chi phí
cho hoạt động thuê tài chính…
Trong bài viết này, đang đứng nghiên cứu dưới góc độ doanh nghiệp
thông thường, nên tỷ trọng từ hoạt động bất thường, hoạt động tài chính chiếm
tỷ trọng nhỏ, không phản ánh được kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Phần lợi nhuận chiếm tỷ trọng lớn trong doanh nghiệp thông thường là lợi
nhuận từ hoạt động sản xuất kinh dona, và cũng là mục đích nghiên cứu chính
của bài viết này.
Lợi nhuận = Doanh thu tiêu thụ - Chi phí hoạt động
hoạt động kinh doanh sản phẩm dịch vụ kinh doanh
Tuy nhiên việc tính toán được doanh thu tiêu thụ sản phẩm và chi phí
cho hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp rất khó thực hiện, việc tính toán
này chỉ mang tính tương đối.
- 15-
Lợi nhuận
từ HĐTC
Doanh thu
từ HĐTC
Chi phí cho

mua một khối lượng lớn hàng hoá trong một đợt hay trong một khoảng thời
gian nhất định.
Hàng hoá bị trả lại là số hàng đã được coi là tiêu thụ ( đã chuyển giao
quyền sở hữu đã thu tiền hay chưa được chấp nhận thanh toán) nhưng bị người
mua từ chối, trả cho người bán không tôn trọng hợp đồng kinh tế đã ký kết do
những nguyên nhân khác…
Như vậy:
- 16-
- Thuế gián thu là khoản thuế thu hộ cho Nhà nước như Thuế TTĐB,
VAT…
Việc tính toán doanh thu cho hoạt động sản xuất kinh doanh tuy đã rất
phức tạp nhưng việc tính toán chí phí còn khó khăn hơn. Chi phí hiểu theo
nghĩa chung nhất là tất cả những gì làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.
Người ta có rất nhiều cách tiếp cận chi phí khác nhau,và từ đó cách phân loại
khoản chi của doanh nghiệp cũng khác nhau. Có thể phân loại chi phí thành
chi phí sản xuất và chi phí tiêu thụ sản phẩm. Chi phí cho hoạt động sản xuất
thì chỉ có ở những doanh nghiệp sản, và nó thường chiếm một tỷ trọng lớn
nhất trong tổng các khoản chi phí của doanh nghiệp.
Trong quá trình sản xuất, doanh nghiệp phải tiêu hao các loại vật tư,
nguyên vật liệu, hao mòn máy móc thiết bị, trả công cho người lao động...Do
vậy chi phí sản xuất của một doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tất cả các
hao phí về vật chất và về lao động mà doanh nghiệp phải bỏ ra để sản xuất sản
phẩm trong một thời kỳ nhất định. Các chi phí này phát sinh có tính thường
xuyên và gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm. Do đặc điểm của chi phí
sản xuất là chi phí hàng ngày gắn liền với từng vị trí sản xuất, từng loại sản
phẩm và từng loại hoạt động sản xuất kinh doanh, việc tổng hợp, tính toán chi
- 17-
Lợi nhuận
từ HĐKD
Doanh thu

thu
phí sản xuất cần được tiến hành trong từng khoảng thời gian nhất định không
phân biệt sản phẩm đã hoàn thành hay chưa hoàn thành. Để quản lý và kiểm
tra chặt chẽ việc thực hiện các định mức chi phí, tính toán được kết quả tiết
kiệm chi phí ở từng bộ phận sản xuất và toàn doanh nghiệp, kiểm tra và phân
tích quá trình phát sinh chi phí và hình thành giá thành sản phẩm người ta cần
phân loại chi phí sản xuất. Thông thường người ta sử dụng các phân loại chi
phí như sau:
Thứ nhất: phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố, tức là sắp xếp các chi phí
có cùng tính chất kinh tế vào một loại, mỗi loại là một yếu tố chi phí, theo
cách phân loại này thì chi phí sản xuất bao gồm ba nhóm yếu tố sau:
+ Chi phí vật tư
+ Lương nhân công trực tiếp
+ Chi phí sản xuất chung
Thứ hai: phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục tính giá thành. Cách
phân loại này dựa vào công dụng kinh tế và địa điểm phát sinh của chi phí để
sắp xếp chi phí thành những khoản mục nhất định, qua đó, phân tích tác động
của từng khoản mục của chi phí đến giá thành.
Thứ ba: phân loại chi phí sản xuất thành chi phí cố định và chi phí biến
đổi. Phân loại chi phí theo cách này để có phương thức quản lý phù hợp với
từng loại chi phí.
Để quản lý tốt chi phí, ngoài phân loại chi phí, các doanh nghiệp cần
phải xem xét cơ cấu chi phí sản xuất để định hướng thay đổi tỷ trọng mỗi loại
chi phí sản xuất.
Cơ cấu chi phí sản xuất là tỷ trọng giữa các yếu tố chi phí trong tổng số
chi phí sản xuất. Các doanh nghiệp trong cùng một ngành và giữa các ngành
khác nhau có chi phí sản xuất khác nhau. Cơ cấu chi phí sản xuất chịu tác
động của nhiều yếu tố như: loại hình và quy mô sản xuất của từng doanh
nghiệp, trình độ kỹ thuật, trang thiết bị, điều kiện tự nhiên, công tác tổ chức,
năng lức quản lý, trình độ tay nghề của công nhân...

tiền toàn bộ chi phí của doanh nghiệp bỏ ra để hoàn thành việc sản xuất hoặc
để sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm nhất định
Giữa giá thành sản phẩm và chi phí sản xuất có sự giống nhau và khác
nhau: chi phí sản xuất hợp thành giá thành sản phẩm, nhưng không phải toàn
bộ chi phí sản xuất phát sinh sản xuất trong kỳ đều được tính vào giá thành
sản phẩm trong kỳ. Giá thành sản phẩm phản ánh lượng chi phí để hoàn thành
sản xuất hoặc sản xuất và tiêu thụ một đơn vị hay một khối lượng sản phẩm
nhất định, còn chi phí sản xuất và lưu thông sản phẩm thể hiện số chi phí mà
doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong một thời kỳ nhất
định, thời kỳ này thường là một năm
Trong phạm vi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, có thể phân biệt giá thành
sản xuất sản phẩm và giá thành tiêu thụ sản phẩm. Giá thành sản xuất tiều thụ
- 19-
sản phẩm( đối với sản phẩm xây dựng là giá thành thi công ) bao gồm toàn bộ
chi phí bỏ ra để hoàn thành việc sản xuất sản phẩm. Giá thành tiêu thụ sản
phẩm còn được gọi là giá thành toàn bộ sản phẩm bao gồm toàn bộ chi phí để
hoàn thành cả sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Trên giác độ kế hoạch hoá, giá thành sản phẩm của doanh nghiệp được
phân biệt thành giá thành kế hoặch và giá thành thực tế
Các doanh nghiệp hoạt động luôn phải quan tâm tới việc giảm chi phí,
hạ giá thành sản phẩm. Hạ giá thành sản phẩm là điều kiện cơ bản để doanh
nghiệp thực hiện tốt tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp có thể hạ giá bán để tiêu
thụ sản phẩm và thu hồi vốn nhanh. Đồng thời, hạ giá thành là yếu tố để tăng
lợi nhuận.
Hạ giá thành sản phẩm trong kỳ được xác định cho những sản phẩm so
sánh được qua hai chỉ tiêu: mức giảm giá thành và tỷ lệ hạ giá thành sản phẩm.
Riêng đối với sản phẩm xây dựng cơ bản, người ta chỉ so sánh giá thành
thực tế với giá thành kế hoạch hoặc giá thành dự toán của khối lượng sản
phẩm trong cùng một kỳ.
Các nhân tố ảnh hưởng tới chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

Phẩm dở dang đầu kỳ cuối kỳ
Ngoài việc tính giá thành sản xuất ra, trong doanh nghiệp sản xuất
thường tính toán chỉ tiêu là giá vốn hàng bán:
Giá vốn = Giá thành + Chênh lệch thành
hàng bán sản xuất phẩm tồn kho
Chênh lệch thành = Thành phẩm tồn kho + Thành phẩm tồn kho
phẩm tồn kho đầu kỳ cuối kỳ
Riêng đối với doanh nghiệp thương mại:
Giá vốn hàng hoá = Giá vốn + chênh lệch hàng
hàng mua hoá tồn kho
Chênh lệch hàng hoá = Hàng hoá tồn - Hàng hoá
Tồn kho đầu kỳ tồn kho cuối kỳ
Ngoài các khoản chi phí trên, còn có các khoản chi phí khác như:
* Chi phí bán hàng: gồm các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ
sản phẩm hàng hoá và dịch vụ như: tiền lương, các khoản phụ cấp phải trả cho
- 21-
nhân viên bán hàng, tiếp thị, đóng gói, bảo quan, khấu khao TSCĐ, chi phí vật
liêu, bao bì, dụng cụ, đồ dụng, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bảo hành,
quảng cáo.
* Chi phí quản lý doanh nghiệp: gồm các chi phí quản lý kinh doanh,
quản lý hành chính và các chi phí chung khác có liên quan tới toàn bộ hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp: tiền lương và các khoản phụ cấp trả cho
ban giám đốc và nhân viên quản lý ở các phòng ban, chi phí vật liệu để dùng
cho văn phòng, KHTSCĐ dùng chung cho doanh nghiệp, các khoản thuế, lệ
phí, bảo hiểm, chi phí dịch vụ mua ngoài thuộc văn phòng doanh nghiệp và
các chi phí khác chung cho toàn bộ doanh nghiệp như: lãi vay, dự phòng, phí
kiểm toán, tiếp tân, tiếp khách, công tác phí ...
Phân loại các khoản mục chi phí trên được áp dụng cho các doanh
nghiệp sản xuất, việc tính toán đưa ra công thức trên có vẻ khá đơn giản tuy
nhiên thực tế thì khó khăn hơn. Cồn đối với các doanh nghiệp thương mại tính

định bỏ vốn vào đầu tư.
Chỉ tiêu này được so sánh qua các thời kỳ khác nhau của doanh nghiệp
và so với chỉ tiêu trung bình ngành. Nếu chỉ tiêu này cao hơn qua các thời
kỳvà cao hơn so với trung bình ngành thể hiện sự làm ăn có hiệu quả của
doanh nghiệp. Tăng mức doanh lợi vốn chủ sở hữu là mục tiêu quan trọng nhất
trong hoạt động quản lý tài chính của doanh nghiệp.
Vấn đề khó khăn là tỷ lệ trung bình ngành của các chỉ tiêu không phải
dễ dàng có thể xác định được và độ chính xác không phải là tuyệt đối. Như
thực tế ở Việt Nam ta hiện nay, các tỷ số trung bình ngành của các tỷ số trên
hầu như chưa được tính toán đến.
*Doanh lợi tài sản:
ROA =
Doanh lợi tài sản là tỷ số giữa thu nhập sau thuế trên tổng tài sản , phản
ánh khả năng sinh lãi của doanh nghiệp tính trên một đồng giá thị tài sản đầu
tư vào sản xuất kinh doanh. Qua chỉ tiêu này có thể đánh giá tình hình sử dụng
tài sản, vật tư, tiền tệ … của doanh nghiệp.Từ đó có bịên pháp thích ứng khai
thác khả năng sinh lời của tài sản, quản lý và sử dụng tài sản tiết kiệm. chỉ tiêu
này cần được so sánh với chỉ tiêu trung bình ngành và so sánh giữa các thời kỳ
với nhau mới thấy được hiệu quả của quá trình sử dụng tài sản.
*Tỷ suất lợi nhuận giá thành
Tỷ suất lợi nhuận trên giá thành là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận so với
giá thành toàn bộ của sản phẩm hàng hoá tiêu thụ
- 23-
Công thức ;
t
Z
P
g
T
=

- 25-
(:)(:)
(-)
+
DL tài sản Số nhân vốn
TNST Doanh thu Tài sản VCSH
Doanh thu Tổng chi
phí
TSCĐ
TSLĐ
Giá vốn
Thuế
TNDN
Chi phí
bán hàng
Chi phí
QLDN
Chi phí
HĐTC
Chi phí
bất thường
Giá trị
CLTSCĐ
Đầu tư TC
dài hạn
Tiền
Đầu tư TC
ngắn hạn
Phải thu
Tồn kho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status