Những vấn đề lý luận chung về Công nghệ thông tin và thương mại điện tử - Pdf 32

CHƯƠNG I
Những vấn đề lý luận chung về Công nghệ thông tin và thương mại điện tử
I.KHÁI NIỆM VỀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Trong Văn kiện Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8, công nghiệp
CNTT được coi là một ngành công nghiệp trọng điểm cần phải phát triển.
Ngày 04 tháng 08 năm 1993, Thủ tướng Chính phủ đã ký nghị quyết
49/CP về phát triển CNTT ở Việt nam. Trong Nghị quyết này xác định rõ
tầm quan trọng phát triển công nghiệp CNTT nước ta là công nghiệp phần
mềm.
Sự ra đời và phát triển của CNTT đã dẫn đến cuộc cách mạng Khoa học
công nghệ lần thứ ba trong xã hội loài người: cuộc cách mạng thông tin. Nêú
như cuộc cách mạng Khoa học công nghệ trước đây chủ yếu tập chung vào
năng lượng vật chất, thì cuộc cách mạng thông tin ngày nay mang lại những
hiểu biết mới về thời gian, khoảng cách và tri thức. Cuộc cách mạng thông
tin tác động sâu sắc vào tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế- xã hội, các
quá trình sản xuất, thương mại & dịch vụ, làm tăng năng suất lao động và trở
thành một yếu tố quan trọng quyết định mức độ tăng trưởng kinh tế ở các
nước tiên tiến. Cuộc cách mạng thông tin đã tạo ra sự chuyển biến về chất
của nền văn minh công nghiệp tiên tiến sang nền văn minh thông tin và trí
tuệ, từ nền kinh tế công nghiệp truyền thống sang nền kinh tế thông tin, dẫn
tới sự hình thành một tổng thể kinh tế- xã hội thông tin toàn cầu.
CNTT- Một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng
với một số ngành công nghiệp cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống
kinh tế, văn hóa, xã hội thế giới hiện đại.
Ứng dụng và phát triển CNTT ở nước ta nhằm giải phóng sức mạnh vật
chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát
triển nhanh chóng và hiện đại hóa các ngành kinh tế, tăng cường năng lực
cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm
bảo an ninh quốc phòngvà tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

2. Những đặc điểm của công nghiệp phần mềm


2.1. Công nghiệp phần mềm tiếp tục có tốc độ trưởng cao, có ảnh hưởng
lớn đến cơ cấu kinh tế.
Trong nền kinh tế tri thức CNTT có vai trò quyết định. CNTT ngày
càng được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội
và ngày càng phát triển.
Trong cơ cấu công nghiệp CNTT, phần mềm bao gồm cả dịch vụ và
đào tạo luôn chiếm tỷ trọng lớn, trung bình từ 40 dến 60%. Tỷ lệ này ngày
càng tăng và có vai trò quyết định trong các sản phẩm CNTT. Nhờ có phần
mềm, các thiết bị trở nên thông minh. Đến nay các tổng đài điện thoại có
giá trị phần mềm chiếm đến 40%. Nhiều thiết bị CNTT giá trị chủ yếu là
phần mềm.
Công nghiệp phần mềm là công nghiệp của trí tuệ. Giá trị gia tăng
kinh tế do trí tuệ tạo ra ngày càng cao. Nhờ phát triển CNTT đặc biệt là
phát triển phần mềm, nhiều ngành nghề trong nông nghiệp và công nghiệp
đang chuyển thành những ngành nghề trí tuệ.
Công nghiệp phần mềm ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong kinh tế
và xuất khẩu của một số nước. Nhiều nước định hướng chiến lược xuất
khẩu là sản phẩm phần mềm. Năm 1996 công nghiệp phần mềm của Mỹ
chiếm khoảng 6% GDP, chiếm 51% thị phần toàn cầu. Ấn Độ năm 1998
xuất khẩu gần 1,81 tỷ USD và dự kiến đạt 50 tỷ USD vào năm 2008.
2.2.Công nghiệp phần mềm vừa có xu hướng tiếp tục phát triển tập trung
ở một số nước nhưng cũng lại phân tán sang các nước khác.
Công nghiệp phần mềm lúc đầu tập trung phát triển tại Mỹ, các nước
Tây Âu và Nhật Bản, sau này chủ yếu tại Mỹ. Xu hướng tập trung các công
ty tại Mỹ ngày một tăng lên. Đến nay, ngành công nghiệp này được hình
thành bởi phần lớn do các công ty đa quốc gia Mỹ có chi nhánh toàn cầu.
Các công ty Mỹ cũng như các công ty nước ngoài có xu hướng tập

môn thiếu ở Mỹ-3,5 vạn, Đức-3,5 vạn, Australia-3,2 vạn, Canada-3 vạn
người.
Nắm được thời cơ, từ năm 1982 các doanh nghiệp phần mềm ấn Độ đã
tiến hành gia công xuất khẩu phần mềm để tận dụng nguồn nhân lực cuả
Ailen đã thu hút các công ty đa quốc gia vào phát triển phần mềm để tận
dụng nguồn nhân lực của Ailen. Israel đã phát triển mạnh mẽ các phần mềm
chuyên dụng, đặc biệt cho quốc phòng. Các nước như Ấn Độ, Trung Quốc,
Philipine đã xuất khẩu lao động phần mềm mạnh mẽ sang Mỹ. Trong tổng
số thị thực nhập cảnh vào Mỹ để làm phần mềm cho các công ty ở Mỹ: Ấn


Độ chiếm 40%, Trung Quốc chiếm 10%, Philipine chiếm 3% và Đài Bắc
chiếm 2%.


III. KHÁI NIỆM VỀ MẠNG INTERNET
Sự xuất hiện của Internet đã làm ảnh hưởng lớn đến nhiều ngành,
nhiều lĩnh vực khác nhau. Internet là hình thức phát triển cao nhất của các
phương tiện điện tử được sử dụngtrong trao đổi từ trước đến nay.
Xét về ứng dụng của Internet, người ta ví nó như một thị trường toàn cầunơi mà mọi nhà kinh doanh và khách hàng có thể gặp nhau trao đổi giao dịch
cho dù họ có thể ở khắp mọi nơi trên thế giới. Internet tạo ra những cơ hội
cho việc thực hiện trao đổi trong kinh doanh nhanh chóng hơn, hiệu quả
hơn& tiết kiệm hơn.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của máy tính và nhu cầu trao đổi thông tin
ngày một lớn, đáp ứng nhu cầu đó của xã hội người ta phát minh ra một hệ
thống mạng các máy tính nối với nhau. Từ mạng cục bộ đến mạng diện rộng
rồi mạng toàn cầu Internet, việc trao đổi thông tin đã trở nên hết sức dễ dàng
với dung lượng thông tin không hạn chế.
MẠNG CỤC BỘ: là toàn bộ mạng các máy tính được liên kết với nhau
trong phạm vi một xí nghiệp, công ty, hay nói chung trong một phạm vi địa

Điện thoại là một phương tiện phổ thông dễ sử dụng và thường mở
đầu cho các cuộc giao dịch thương mại. Tuy nhiên trên uan điểm kinh
doanh công cụ điện thoại có mặt hạn chế là chỉ truyền tải được âm thanh.
Một cuộc giao dịch cuối cùng vẫn phải kết thúc bằng giấy tờ, hay các tài liệu
có thể lưu trữ. Ngoài ra nếu tính yếu tố chi phí thì có lẽ giao dịch điện thoại
nhất là giao dịch đường dài, điện thoại cao gấp nhiều lần so với Internet.
Với máy fax, có thể thay thế được dịch vụ đưa thư và gửi công văn
truyền thống. Nhưng fax lại có hạn chế là: không thể tải được âm thanh và
hình ảnh phức tạp, đồng thời giấ máy và chi phí còn rất cao.Hơn nữa qua
thương mại điện tử bằng Internet người ta vẫn có thể gửi và nhận fax nếu
cần.
2. Tránh được phải sử dụng trung gian.
Công ty có thể trực tiếp thiết lập mối quan hệ trực tiếp với khách hàng
hay rút ngắn được qúa trình phân phối sản phẩm doanh nghiệp có thể hạ
dược giá thành vẫn đảm bảo được lợi nhuận.
Thông thường đối với một nhà sản xuất rất khó có thể thiết lập được
một mạng lưới tiêu thụ rộng lớn để trực tiếp cung cấp và liên hệ với những
người bán lẻ hay các khách hàng. Song hiện nay nhờ có ngành CNTT hay cụ
thể là ngành thương mại điện tử mà doanh nghiệp hoàn toàn có thể làm được


điều đó. Khi thiết lập một cơ sở kinh doanh trên Internet, doanh nghiệp đã
cùng một lúc thiết lập một đại lý phân phối ở nhiều nơi khác nhau, hoàn toàn
loại bỏ được kênh phân phối nhiều cấp. Điều này có lợi cho các nhà quyết
định quản trị và những khách hàng.
3. Kinh doanh sử dụng cửa hàng ảo- Có thể kinh doanh tại nhà.
Với một cơ sở kinh doanh ảo, lợi dụng công nghệ truyền tin Internet,
nhận và sử lý thông tin ở bất cứ nơi nào cho phép các nhà quyết định quản lý
kinh doanh chỉ ngồi tại nhà nhưng lại có thể kinh doanh ở bất kỳ đâu. Chẳng
hạn khi doanh nghiệp thiết lập một webside-khác với cơ sở kinh doanh thực,

phương thức nào phù hợp hoặc theo phương thức nào khách hàng yêu cầu.
Do đó kể cả khi hàng hóa được để hỗn hợp trong kho thì vẫn có thể bán
được bất cứ lúc nào.
6. Tiết kiệm chi phí.
Tiết kiệm chi phí là một trong những đặc điểm quan trọng nhất trong
ứng dụng CNTT vào các doanh nghiệp. Liên quyết định đến chi phí kinh
doanh của các doanh nghiệp có thể có rất nhiều loại chi phí khác nhau. Tính
tiết kiệm dễ nhận thấy ở những hoạt động như:
-Kinh doanh trên Internet giảm được chi phí thuê cửa hàng
-Giảm chi phí trong các hoạt động giao dịch trao đổi giấy tờ.
-Giảm chi phí trong trưng bày sản phẩm.
-Giảm chi phí trong quyết địnhản lý: Nhờ hoạt động kinh doanh
thông qua mạng các máy tính mà trong doanh nghiệp có thể hạn chế được
khoản chi phí đầu tư cho việc thuê quản lý. Sự trao đổi thông tin không hạn
chế qua Internet có thể giúp cho một nhà quản lý có khả năng quản lý được
nhiều chi nhánh, cơ sở cùng một lúc mà không phải thuê người quản lý mới.
-Giảm chi phí thực hiện các dịch vụ kỹ thuật hướng dẫn khách hàng.
-Giảm chi phí trong việc chào hàng quảng cáo.
-Nhờ Internet mà một số bộ phận nhân viên trong doanh nghiệp có
thể làm việc tại nhà mà không cần tới trụ sở làm việc.
-Giảm chi phí trong việc tuyển mộ nhân viên.
V. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG NGHIỆP CNTT
1. Công nghiệp CNTT tiếp tục có tốc độ tăng trưởng cao, có ảnh hưởng
lớn đến cơ cấu kinh tế.


Nhân loại đã chứng kiến sự phát triển của nền kinh tế nông nghiệp
tiếp đến là nền kinh tế công nghiệp và hiện nay đang trong giai đoạn hậu
công nghiệp. Các chuyên gia kinh tế cho rằng trong giai đoạn hậu công
nghiệp kinh tế tri thức là nền kinh tế chủ đạo.

phần mềm chuyên dụng, đặc biẹt cho quốc phòng. Các nước như Ấn Độ,
Trung Quốc, Philpine đã xuất khẩu lao động phần mềm mạnh mẽ sang Mỹ.
Trong tổng số thị thực nhập cảnh vào Mỹ để làm phần mềm cho các công ty
ở Mỹ: Ấn Độ chiếm 40%, Trung Quốc chiếm 10%, Philipine chiếm 3% và
Đài Bắc chiếm 2%.
CHƯƠNG II
Thực trạng phát triển ngành CNTT ở thủ đô Hà Nội trong những năm qua.
I. VIỆC ỨNG ĐỤNG VÀ PHÁT TRIỂN CNTT Ở NƯỚC TA TRONG
THỜI GIAN QUA.
Trong những năm qua, do nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng của
việc ứng dụng và phát triển CNTT nên Đảng, Nhà nước đã sớm có những
chủ trương, chính sách ứng dụng và phát triển lĩnh vực quan trọng này.
Thực tiễn chủ trương của Đảng, Nhà nước việc ứng dụng, phát triển
CNTT ở nước ta thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực và thu được
nhưnng kết quả đáng kể, cụ thể là:
Một là, nhờ chiến dịch đi thẳng vào hiện đại theo hướng số hóa, tự
động hóa, đa dịch vụ, viễn thông Việt Nam dần dần đạt được một số thành
tựu đáng tự hào, một số lĩnh vực chuyên sâu đạt trình độ quốc tế. Đến nay
mạng viễn thông quốc tế phát triển nhanh, hiện đại. Đường trục cáp quang
Băc Nam hiện nay có thể đáp ứng về cơ bản nhu cầu thông tin trong những
năm trước mắt. Cấp huyện trong toàn quốc đều đã được trang bị tổng đài
điện tử, mạng trên 100.000 thuê bao, một doanh nghiệp quốc doanh cung cấp
dịch vụ truy cập Internet (cổng kết nối quốc tế), 6 doanh nghiệp cung cấp
dịch vụ Internet & 16 đơn vị cung cấp nội dung thông tin.
Đến nay, một số chỉ tiêu CNTT nước ta đã được tính bình quân trên
100 đầu dân như sau:
-Số máy điện thoại: 3,7 (mức trung bình của thế giới là 14,4/100 dân)
-Số máy ti vi: 18 (thế giới: 28)
-Số máy tính: 0,5 (thế giới: 5,8)
-Số thuê bao Internet: 0,1( trung bình các nước trong tổ chức APEC là 15,

đô la Mỹ, dự báo năm 2005 có thể đạt tới 800 triệu đô la Mỹ.
Riêng doanh số dịch vụ phát triển phần mềm 1997 đạt khoảng 28 triệu
đô la Mỹ, trong đó xuất khẩu đạt 2,5 triệu đô la Mỹ; năm 1999đạt trên 5
triệu đô la Mỹ. Dự kiến năm 2005 có thể đạt 500 triệu đô la Mỹ. Về mạng
Internet, toàn quốc đã có khoảng 10 vạn thuê bao và bắt đầu mở rộng, trong
thời gian ngắn đã mở thêm 26 Mbps (Megabit trên giây) đi quốc tế, nâng
tổng dung lượng kênh quốc tế lên 34 Mbps. Đang tập trung đẩy mạnh nhanh


tiến độ xây dựng hai khu công nghệ cao ở Hòa Lạc và thành phố Hồ CHí
Minh. Trong các cơ quan Đảng mạng thông tin diện rộng đã được hình
thành, hoạt động tương đối ổn định, trang Webside của Đảng Cộng Sản Việt
Nam đã được đưa vào hoạt động từ ngày 3-2-2000; nhân dịp kỷ niệm 70
năm ngày thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam. Trang Webside được nhiều
người hoan nghênh và có tác dụng tuyên truyền tốt. Hầu hết các cơ quan
đảng ở TW và cấp tỉnh đã xây dựng mạng máy tính cục bộ, từng bước xây
dựng cơ sở dữ liệu, cập nhật, khai thác, sử dụng có hiệu quả, v.v.
II. HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN CNTT Ở THỦ ĐÔ HÀ NỘI.
1. Trang thiết bị CNTT.
Số lượng máy vi tính trang bị cho các cơ quan, Sở ban ngành, các
quận huyện là 1353, trong đó: PC 486 là 650 chiếc, chiến tỷ lệ 48,04% tổng
máy tính,PC 586 là 671, chiếm tỷ lệ 49,59%, máy phục vụ (server) là 32,
chiếm tỷ lệ 2,37%. Tổng thiết bị ngoại vi là 597, trong đó số máy in Laser là
314, chiếm tỷ lệ 52,6%, số máy in kim là 274, chiếm tỷ lệ 45,9%, còn lại 7
máy quét, chiếm tỷ lệ 1,17% và 2 máy vẽ chiếm tỷ lệ 0,35%. Hầu hết các
đơn vị đều được trang bị các thiết bị phụ trợ như ổn áp, điều hòa nhiệt độ,
lưu điện, đảm bảo vận hành và khai thác máy tính, mạng đúng kỹ thuật.
Huyện Gia Lâm đã thực hiện trang bị máy tính đến cấp xã. Trên 50% các
thiết bị tin học đạt yêu cầu công nghệ tiêu chuẩn, hiện đại.
Tổng số mạng cục bộ là 16, số đơn vị kết nối mạng diện rộng theo

CNTT. Hà Nội đã có chính sách phổ cập tin học trong các trường trung học.
100% trường phổ thông trung học đã được trang bị máy tính phục vụ
chương trình giảng dạy tin học.
4. Công nghiệp CNTT.
-Về công nghiệp dịch vụ: Trên địa bàn Hà Nội có hơn 40 công ty và
hơn 10 trung tâm, Viện và trường hoạt đoọng trong lĩnh vực CNTT, trong
đó: 84.7% về cung cấp và boaar hành thiết bị, 78.3% về thiết bị và lắp đặt
mạng, 74% về phát triển và dịch vụ phần mềm, 65.2% về dịch vụ tư vấn và
chuyển giao công nghệ, 50% về giáo dục và đào tạo, 34%về cung cấp dịch
vụ và thông tin Internet/ Intranet và 13% về chế bản và phát hành ấn phẩm.
-Về công nghiệp phần mềm: Các sản phẩm phần mềm được phát
triển nhằm đáp ứng nhu cầu ứng dụng về quản lý trong một số Sở/ Ngành ở
Hà Nội, ở quy mô nhỏ hoạt động độc lập không được liên kết trên mạng, độ
phức tạp hệ thống không cao (VD: phần mềm quản lý nhân sự, quản lý công
văn, phần mềm kế toán). Một số cơ quan Bộ đã triển khai thực hiện phần
mềm quản lý ngành từ cơ quan Bộ đến các cơ sở. Đã có sản phẩm phần mềm


được phát triển theo đơn đặt hàng từ nước ngoài và được sử dụng ở nước
ngoài (VD: sản phẩm của Viện CNTT).
-Về công nghiệp phần cứng: Công nghiệp điện tử của Hà Nội còn
tập trung vào sản xuất các sản phẩm điện tử dân dungjtruyeenf thống như
Tivi, Cassette. Công ty SMT-Hanel, kết quả liên doanh của công ty điện tử
Hanel với một số công ty của Mỹ là cơ sở đầu tiên của HN chuyên sản xuất
các tấm mạch dùng cho máy tính và các thiết bị ngoại vi khác.
5. Chính sách và đầu tư.
Hà Nội đã thành lập Ban chỉ đạo chương trình, bước đầu thực hiện
chỉ đạo tập trung và thống nhất việc phát triển và ứng dụng CNTT trong các
lĩnh vực quản lý Nhà nước và các hoạt động Kinh tế, xã hội của Thủ đô.
Từ năm1996 đến 1998 HN đã đầu tư phát triển ứng dụng CNTT với

CNTT. Mạng lưới các công ty tin học đã hình thành và phát triển, cung cấp
các hoạt động dịch vụ và phát triển phần mềm ứng dụng, đáp ứng nhu cầu và
khả năng triển khai ứng dụng trên địa bàn thành phố; một số sản phẩm phần
mềm được phát triển theo đơn đặt hàng nước ngoài và được sử dụng ở nước
ngoài còn tập trung vào sản xuất một số sản phẩm điện tử dân dụng truyền
thống (có một số đơn vị liên kết với nước ngoài để lắp ráp, sản xuất thiết bị
CNTT).
5. Bước đầu, Thành phố đã thống nhất chỉ đạo thực hiện chương
trình CNTT, trước tiên là xây dựng xét duyệt các dự án tăng cường trang
thiết bị CNTT và phát triển một số phần mềm ứng dụng trong lĩnh vực quản
lý Nhà nước.
IV. NHỮNG TỒN TẠI TRONG ỨNG DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN CNTT
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.
Trong ứng dụng phát triển CNTT ở nước ta hiện nay, bên cạnh những
thành tựu cũng còn những tồn tại cần sớm được giải quyết trong đó đáng lưu
ý là:
Một là, lãnh đạo các cấp, các Ngành, các lĩnh vực chưa thực sự coi
CNTT là phương tiện chủ lực để di tắt, đốn đầu trong quá trình công nghiệp
hóa -hiện đại hóa đất nước; chưa kết hợp chặt chẽ quá trình ứng dụng CNTT
với cải cách hành chính và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Các cơ
quan Nhà nước chưa thực sự chú trongjwngs dụng CNTT để nâng cao chất
lượng, hiệu quả công tác đổi mới lề lối làm việc, tăng cường hiệu quả công
việc; chưa thể hiện rõ vai trò “đầu tầu” của mình trong lĩnh vực CNTT.
Hai là, CNTT Việt Nam hiện nay ở tình trạng lạc hậu, phát triển với tốc
độ chậm. Nước ta đang có nguy cơ tụt hậu ngày càng xa hơn so với nhiều


nước trong khu vực và trên thế giới; chưa đáp ứng được yêu cầu cấp bách
của công cuộc CNH-HĐH và quá trình hội nhập quố tế của đất nước.
Ba là, việc cụ thể hóa các nghị quyết, chính sách về ứng dụng và phát

cầu giao tiếp và trao đổi thông tin qua mạng.


CHƯƠNG III
Định hướng và một số giải pháp phát triển ngành CNTT ở Hà Nội từ nay
đến năm 2010.
I. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
1.Xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, bao gồm việc trang bị các thiết bị
tính toán, thiết bị ngoại vi và thiết bị phụ trợ; xây dựng các mạng thông tin
máy tính cục bộ và mạng diện rộng cũng như việc quản lý, vận hành và duy
trì hoạt động của toàn bộ hệ thống mạng.
2.Trên cơ sở các giải pháp công nghệ hiện đại, tiêu chuẩn và phù
hợp,xây dựng các hệ thống thông tin phục vụ công tác quản lý hành chính
Nhà nước, tin học hóa công tác quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh
cũng như xây dựng cơ sở hạ tầng về thông tin công cộng.
3.Nâng cao chất lượng đào tạo CNTT cho các đối tượng cán bộ lãnh
đạo các cấp, người sử dụng hệ thống mạng và hệ thống thông tin, cán bộ
chuyên trách CNTT tại các đầu mói cũng như lực lượng chuyên nghiệp phát
triển CNTT của HN.
4.Tạo tiền đề để từng bước xây dựng công nghiệp CNTT thành một
ngành kinh tế mũi nhọn của HN trên cơ sở:
+ Tập trung phát triển ngành công nghiệp dịch vụ về CNTT để đáp
ứng các yêu cầu trước mắt về cung cấp thiết bị, tư vấn kỹ thuật, chuyển giao
công nghệ, xây dựng và phát triển phần mềm ứng dụng trong các lĩnh vực
đào tạo, quản lý, sản xuất kinh doanh, bảo hành bảo trì kỹ thuật các hệ thống
CNTT.


+ Xây dựng công nghiệp phần mềm với định hướng xuất khẩu trê cơ
sở phát triển có chọn lọc các đơn vị làm dịch vụ CNTT, đặc biệt là các đơn

+Đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm, nhanh chóng tạo những bước
đột phá trong những ngành sản xuất và dịch vụ quan trọng của đất nước.
Thứ hai, phát triển mạng thông tin quốc gia trên cả nước với công
nghệ hiện đại, như vô tuyến, cáp quang, vệ tinh đạt chất lượng cao, thông
lượng lớn, tốc độ cao, giá rẻ, tỷ lệ người sử dụng Internet đạt mức trung bình
trên thế giới; căn bản xây dựng xong kết cấu hạ tầng thông tin Việt Nam.
Thứ ba, đến năm 2010, công nghiệp CNTT trở thành ngành kinh tế
mũi nhọn, có tốc độ phát triển hàng năm cao nhất so với các khu vực khác
trung bình từ 20-25%. Phấn đấu đến năm 2010, ngành công nghiệp CNTT
chiếm tỷ trọng khoảng 10% tổng thu nhập quốc dân.
Đến năm 2005, kinh doanh lĩnh vực công nghệp phần mềm đạt mức
500 dô la Mỹ/năm. Phấn đấu đến năm 2010, ngành công gnghiệp phần mềm
đáp ứng trên 70% nhu cầu phần mềm trong nước, trên tất cả các lĩnh vực
Kinh Tế, Chính trị, Xã hội, An ninh quốc phòng. Đảm bảo tỷ trọng xuất
khẩu phần mềm đạt 50%.
Thứ tư, tin học hóa công tác quản lý doanh nghiệp.
-Giai đoạn 2001-2005:
Mở rộng & hoàn thiện hệ thống thông tin giới thiệu doanh nghiệp trên
địa bàn thủ đô, thích hợp với trang thông tin của Thành phố, hỗ trợ tìm và
giải quyết việc làm.
-Giai đoạn 2006-2010: Khai thác có hiệu quả & tiếp tục mở rộng
thông tin quản lý doanh nghiệp. Tiếp tục mở rộng hệ thống thông tin giới
thiệu doanh nghiệp và sản phẩm công nghiệp, tiến tới thực hiện kinh doanh
điện tử.
Thứ năm, ứng dụng CNTT trong dịch vụ thông tin công cộng.
-Giai đoạn 2001-2005. Phối hợp hoàn thiện hệ thống thông tin về
Khoa học- Công nghệ& Giáo dục. Phối hợp xây dựng và hoàn thiện hệ
thống thông tin giới thiệu doanh nghiệp, việc làm và hướng nghiệp. Xây
dựng hệ thống thông tin về y tế và bảo hiểm. Xây dựng và dựa vào khai thác
hệ thống thông tin công cộng về kinh tế, văn hóa, xã hội.

Xây dựng hệ thống thông tin về quản
lý và điều hành giao thông của toàn
thành phố
Xây dựng hệ CSDL quản lý dữ liệu
Thương mại của toàn Thành phố
Xây dựng trung tâm CNTT

1999-2002

20tỷ đồng

2001-2001

500
đồng

2001-2002

2 tỷ đồng

2003-2010
2004-2010
2001-2010

4,5 tỷ đồng
4 tỷ đồng
6 tỷ đồng

2001-2005


ngoài, bước đầu tổ chức gia công phần mềm với các thiết kế của các hãng
nước ngoài để dần từng bước tham gia vào thị trường thế giới. Cụ thể là:
- Thực hiện dự án khả thi “ Xây dựng trung tâm công nghệ phần mềm Hà
Nội”.
- Hỗ trợ nâng cao trình độ quản lý chất lượng sản phẩm và dịch vụ của các
đơn vị hoạt động trong lĩnh vực CNTT theo tiêu chuẩn ISO 9000.


- Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện một số chính sách hỗ trợ các doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực CNTT.
- Thành lập quỹ hỗ trọ và phát triển phần mềm.
- Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện một số chính sách để thu hút vốn đầu tư
nước ngoài trong lĩnh vực công nghiệp CNTT.
2. Giai đoạn 2006-2010.
-Công nghiệp dịch vụ: Phấn đấu đẩy mạnh chất lượng dịch vụ để đáp
ứng nhu cầu ứng dụng trong nước và tham gia vào thi trường khu vực và thế
giới.
-Công nghiệp phần mềm: Tiến tới sản xuất được các phần mềm đóng
gói đạt tiêu chuẩn quốc tế có khả năng xuất khẩu ra nước ngoài. Trong giai
đoạn này với các kinh nghiệm, trình độ cũng như đầu tư tích lũytrong quá
trình sản xuất phần mềm trong nước và gia công phần mềm cho nước ngoài,
một số cơ sở sản xuất phần mềm cho nước ngoài đã lớn mạnh về cả lực
lượng lẫn chất lượng. Trong điều kiện này hoàn toàn có thể tiếp tục đầu tư
về công nghệ, tìm kiếm thị trường và đối tác để có thể sản xuất được phần
mềm đóng gói chất lượng cao, tham gia vào thị trường thế giới.
-Công nghiệp phần cứng: Mở rộng hợp tác và đầu tư với các công ty
nước ngoài để xây dựng được các cơ sở sản xuất máy tính cũng như linh
kiện phục vụ nhu cầu trong nước& hướng tới xuất khẩu. Đồng thời phấn đấu
xây dựng các tổ hợp CNTT có tầm cỡ khu vực và thế giới, gắn liền nghiên
cứu, phát triển và sản xuất chế tạo.


7,5 tỷ đồng

2000 - 2010

7,5 tỷ đồng


5

phẩm và dịch vụ phầm mềm
Đào tạo lực lượng chuyên nghiệp
cho phát triển công nghiệp phần
mềm

2000 - 2005

6 tỷ đồng

V. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH CNTT Ở HÀ NỘI TỪ
NAY ĐẾN NĂM 2010.
1. Biện pháp đầu tư.
-Đầu tư theo chiều sâu, có trọng điểm trong việc xây dựng cơ sở hạ
tầng CNTT và xây các hệ thống thông tin phục vụ công tác quản lý Nhà
nước của chính quyền Thành phố (VD: kết nối mạng diện rộng, xây dựng
một số hệ thồng thông tin quản lý như hệ thống thông tin tổng hợp về kinh
tế, XH, hệ thông tin quản lý dân cư, hệ thông tin quản lý tài nguyên, đất đai,
môi trường cũng như xây dựng từng bước cơ sở hạ tầng về thông tin phục vụ
phát triển kinh tế và nâng cao trình độ dân trí của thủ đô về CNTT.
-Chủ động tìm đối tác ngoài nước và trong nước có tiềm lực về vốn và

tuyên truyền, giới thiệu khả năng ứng dụng và vai trò của CNTT trong xu
thế hiện đại hóa hội nhập và toàn cầu hóa; hỗ trợ một phần kinh phí ban đầu
tin học hóa tại doanh nghiệp như tổ chức hội thỏa, đào tạo, tư vấn; hỗ trợ
từng bước xây dựng cơ sở hạ tầng về thông tin của Thành phố, tạo điều kiện
thuận lợi cho các thành phần kinh tế, xã hội Thủ đô thực hiện tin học hóa
trong lĩnh vực hoạt động của mình,v.v...
4. Biện pháp tạo môi trường phát triển.
- Xây dựng hành lang pháp lý: Nhà nước đầu tư nhiều hơn nữa công
tác làm luật- đảm bảo quyền lợi cho nhà sản xuất và khuyến khích, kích
thích sản xuất và giáo dục, cưỡng chế thi hành pháp luật; xác định trong các
văn bản pháp quy một cách tường minh cho doanh nghiệp CNTT nói chung
và doanh nghiệp phát triển phần mềm nói riêng được hưởng cá khoản và
mức ưu đãi nhất định được quy định trong các văn bản luật pháp hiện hành,
đặc biệt là các quy định về thuế, bao gồm thuế lợi tức, thuế nhập, xuất khẩu,
thuế doanh thu tạo hành lang pháp lý bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế
hoạt động trong lĩnh vực CNTT.
- Bảo hộ quyền tác giả: kiến nghị với Nhà nước hoàn chỉnh cơ sở pháp
lý của Việt Nam cho phù hợp với thông lệ quốc tế về bản quyền đối
với các sản phẩm CNTT, đặc biệt là sản phẩm phần mềm, các dự án
CNTT của thành phố gương mẫu sử dụng phần mềm có bản quyền;



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status